CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA NGÀNH HÀNG
1.2. Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Qua nghiên cứu kinh nghiệm về xuất khẩu chè của các quốc gia xuất khẩu lớn trên thế giới, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam để giúp sản phẩm của ngành chè Việt Nam có thể thâm nhập thành công và vững chắc trên thị trường thế giới như sau:
Bài học thứ nhất, hệ thống luật lệ, hệ thống chính sách phát triển ngành chè hoàn chỉnh, hợp lý và dài hạn.
Theo kinh nghiệm của Sri Lanka cho thấy, khi có sự thay đổi trong chính sách phát triển ngành chè từ sau năm 1992, ngành chè của Sri Lanka đã phát triển rất mạnh. Theo kinh nghiệm của Ấn Độ, ngành chè Ấn Độ có hệ thống luật lệ, chính sách rất hoàn chỉnh, các chính sách phát triển cho ngành chè để thâm nhập vào thị trường thế giới được xây dựng bài bản và có định hướng dài hạn như là chương trình nâng cấp chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm. Do đó ngành chè Ấn Độ phát triển rất bền vững.
Đối với ngành chè Kenya, với 60% diện tích thuộc sự quản lý của Cơ quan phát triển chè Kenya, động lực để phát triển các loại chè khác nhau, giá trị gia tăng cao cho sản phẩm chè là rất thấp. Kết quả là mặc dù chè của Kenya có hương vị đặc trưng, rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới và nếu so về chất lượng, tính đặc trưng không thua kém so với chè của Sri Lanka, nhưng kim ngạch xuất khẩu chè của Sri Lanka lại cao hơn của Kenya cho dù quy mô sản lượng xuất khẩu chè của Kenya cao hơn so với Sri Lanka.
Điều đó cho thấy, để phát triển ngành chè và thâm nhập vững chắc thị trường thế giới, ngoài hệ thống luật lệ rõ ràng, cần có hệ thống chính sách phát triển ngành chè dài hạn và phù hợp với yêu cầu của thị trường thế giới.
Bài học thứ hai, khithâm nhập thị trường thế giới, ngành chè cần đa dạng hóa sản phẩm, phương thức chế biến và đa dạng hóa thị trường. Chú trọng phát triển các loại chè mang lại giá trị gia tăng cao.
Kinh nghiệm từ Ấn Độ và Sri Lanka cho thấy, sản phẩm chè của những quốc
gia này rất có sự đa dạng về chủng loại sản phẩm, phương thức chế biến sản phẩm và các sản phẩm chè giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng khá cao.
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển danh trà, thông qua xây dựng thương hiệu cho các danh trà, ngành chè Trung Quốc đã nâng cao khả năng cạnh tranh của những sản phẩm này và nâng cao giá trị gia tăng cho chè.
Ngoài ra cũng cần phải đa dạng hóa thị trường khi thâm nhập, chẳng hạn như ngành chè của Ấn Độ tập trung hơn 50% vào thị trường Liên Xô cũ vào năm 1991, nên khi thị trường này sụp đổ, hủy bỏ cơ chế bao cấp về mua hàng, ngành chè Ấn Độ bị ảnh hưởng rất nặng nề. Trong khi đó Sri Lanka thâm nhập vào rất nhiều thị trường tại các khu vực địa lý khác nhau, như vậy có thể giảm thiểu những tác động do biến động bất lợi về nhu cầu tiêu thụ chè tại từng khu vực.
Bài học thứ ba, cách tổ chức quản lý ngành chè hết sức chặt chẽ, khoa học.
Để tạo ra một sản phẩm chè thành phẩm, liên quan đến rất nhiều khâu như trồng, chế biến, đấu trộn, đóng gói và tiêu thụ. Từ kinh nghiệm của Sri Lanka, Ấn Độ cho thấy để tạo ra được uy tín về thương hiệu, uy tín về chất lượng của ngành chè trên thị trường thế giới, quan trọng nhất là cách tổ chức quản lý hết sức chặt chẽ, khoa học giữa các khâu canh tác, công nghiệp chế biến, kho tàng, hệ thống phân phối sản phẩm.
Bài học thứ tư,hệ thống kiểm soát chất lượng hoàn chỉnh.
Kinh nghiệm của các nước xuất khẩu chè cho thấy, không chỉ xây dựng tiêu chuẩn chất lượng đối với chè thành phẩm, mà còn phải phải xây dựng các tiêu chuẩn đối với việc trồng chè, thu hoạch, chế biến, đóng gói. Ngoài ra, phải thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng hiệu quả từ khâu trồng, thu hoạch, chế biến đến xuất khẩu.
Bài học thứ năm, hệ thống cơ sở hạ tầng, kho tàng, cơ sở chế biến hoàn chỉnh.
Từ kinh nghiệm của các nước xuất khẩu chè cho thấy, để ngành chè phát triển và tạo ra giá trị gia tăng cao cho sản phẩm chè, phải có hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống kho tàng, cơ sở chế biến công nghệ hoàn chỉnh và đồng bộ.
Ngoài ra, kinh nghiệm của Kenya cho thấy quốc gia này chủ yếu chú trọng
đầu tư cho hệ thống cơ sở hạ tầng, kho tàng… để vận chuyển lá chè tươi đến nhà máy chế biến được nhanh chóng. Trong khi đó chưa chú trọng nhiều trong việc đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến để tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm chè.
Do đó khi đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, kho tàng phục vụ cho ngành chè cũng phải tính đến việc đầu tư cho các hệ thống cơ sở cần thiết để phát triển ngành chế biến, đóng gói.
Bài học thứ sáu, xây dựng đội ngũ quản lý doanh nghiệp có trình độ kinh doanh trong ngành chè và đội ngũ chuyên gia trong các ngành có liên quan.
Theo kinh nghiệm của Sri Lanka, bên cạnh những yếu tố thuận lợi cho ngành chè như đất đai, thổ nhưỡng, đặc trưng của chè, yếu tố mang lại thành công quan trọng là đội ngũ quản lý của doanh nghiệp có trình độ, có năng lực kinh doanh và có sự hỗ trợ của đội ngũ chuyên gia trong các ngành nghề có liên quan như quảng bá thương hiệu, xây dựng thương hiệu…
Bài học thứ bảy, cần có cơ quan, tổ chức chuyên nghiệp thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho ngành chè như quảng bá sản phẩm chè tại thị trường nước ngoài, thu thập thông tin về sản phẩm, sự thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng, nghiên cứu chuyên sâu về ngành chè như công nghệ chế biến, phát triển các sản phẩm mới…
Kinh nghiệm này có thể rút ra bài học từ các quốc gia xuất khẩu chè như Kenya, Sri Lanka, Ấn Độ.
Theo đó những quốc gia này thường có các trung tâm nghiên cứu về chè. Tại Kenya, lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu về nhân giống, dinh dưỡng cho chè, quản lý vườn cây, quản lý thu hoạch… Tuy nhiên tại Ấn Độ và Sri Lanka, lĩnh vực nghiên cứu mở rộng hơn, tập trung nghiên cứu về phương thức chế biến, đóng gói, tạo ra sản phẩm giá trị gia tăng. Do đó khi thành lập các trung tâm nghiên cứu cũng phải đa dạng hóa lĩnh vực nghiên cứu và phải có đủ nguồn lực cần thiết để các trung tâm này hoạt động.
Theo kinh nghiệm của Ấn Độ, đã thành lập các văn phòng của Hiệp hội chè Ấn Độ tại những thị trường tiêu thụ lớn với nhiệm vụ quảng bá thương hiệu chè Ấn
Độ, thu thập thông tin về thị trường, sự thay đổi về nhu cầu của người tiêu dùng, thu thập ý kiến của người tiêu dùng về các sản phẩm mới của Ấn Độ. Đây cũng là một kinh nghiệm rất đáng học hỏi.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 nghiên cứu cơ sở khoa học về hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới của một ngành hàng và nghiên cứu bài học kinh nghiệm của các quốc gia xuất khẩu chè thành công trên thế giới, bài học rút ra cho Việt Nam.
Qua nghiên cứu về hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới của một ngành hàng, tác giả cho rằng “chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho ngành hàng cụ thể là tập hợp các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành hàng đó khi tham gia vào thị trường thế giới, một hệthống những quan điểm, mục tiêu định hướng về chiến lược kinh doanh, những phương thức thâm nhập thịtrường thế giới, các chiến lược Marketing Mix nhằm đưa sản phẩm của ngành hàng đó thâm nhập có hiệuquả, vững chắc thị trường thế giới, qua đó đạt được các mục tiêu của ngành một cách tốt nhất”.
Như vậy, khi hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho ngành hàng cần phải đưa ra các quyết định cụ thể sau:
ã Xỏc định mục tiờu của ngành khi ra thị trường nước ngoài
ã Lựa chọn thị trường mục tiờu để thõm nhập
ã Phõn tớch cạnh tranh: phõn tớch ngành kinh doanh, phõn tớch lợi thế cạnh tranh của các quốc gia là đối thủ cạnh tranh
ã Phõn tớch lợi thế, năng lực cạnh tranh của ngành
ã Xỏc định, lựa chọn chiến lược cạnh tranh
ã Lựa chọn phương thức thõm nhập thị trường thế giới
ã Hoạch định chiến lược Marketing Mix
Từ nghiên cứu bài học kinh nghiệm của các quốc gia xuất khẩu chè thành công trên thế giới, tác giả rút ra 7 bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: thứ nhất, hệ thống luật lệ, hệ thống chính sách phát triển ngành chè hoàn chỉnh, hợp lý và dài hạn; thứ hai,khithâm nhập thị trường thế giới, ngành chè cần đa dạng hóa sản phẩm,
phương thức chế biến, đa dạng hóa thị trường, chú trọng phát triển các loại chè mang lại giá trị gia tăng cao; thứ ba, cách tổ chức quản lý ngành chè hết sức chặt chẽ, khoa học; thứ tư,hệ thống kiểm soát chất lượng hoàn chỉnh; thứ năm,hệ thống cơ sở hạ tầng, kho tàng, cơ sở chế biến hoàn chỉnh; thứ sáu,xây dựng đội ngũ quản lý doanh nghiệp có trình độ kinh doanh trong ngành chè và đội ngũ chuyên gia trong các ngành có liên quan; thứ bảy,cần có cơ quan, tổ chức chuyên nghiệp thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho ngành chè.