Giới thiệu tổng quan chung về ngành chè

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 71 - 76)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới

2.1.1. Giới thiệu tổng quan chung về ngành chè

2.1.1.1.  Các sản phẩm chính của ngành hàng chè giao dịch trên thế giới  Trên thị  trường thế giới  có rất nhiều loại chè khác nhau được giao dịch. Tuy  nhiên,  mọi  loại  chè  giao dịch  trên  thị  trường thế  giới đều được chế biến  từ lá  chè  tươi  của  cây  chè  (Camellia  sinensis).  Có  nhiều  tiêu  chí  để phân  loại  chè,  tiêu  chí  được sử dụng phổ biến là dựa theo mức độ lên men của lá chè.Theo tiêu chí  này,  chè  thành phẩm được phân  thành 3  loại  chính:  chè đen,  chè xanh,  chè  Ôlong  (chi  tiết phương pháp chế biến, xem Phụ lục 27). 

Theo  FAO (2011a) và Hicks (2009), tỷ lệ sản lượng chè đen  thu hoạch hàng  năm trên thế giới chiếm đến 70,09% so với tổng sản lượng chè thu hoạch hàng năm  của toàn thế giới. Đến năm 2017, hàng năm dự kiến tốc độ tăng sản lượng chè đen  đạt 1,9%/năm  và đạt mức 3,1 triệu tấn. Trong khi đó tỷ lệ sản lượng chè xanh thu  hoạch hàng năm chiếm 25,23% trong tổng sản lượng chè thu hoạch của thế giới, với  tốc độ  tăng  sản lượng  trung  bình hàng năm  dự  kiến  là  4,5%/năm  từ nay  đến năm  2017,  đạt  1,35  triệu  tấn.  Riêng  chè  Ôlong  chỉ  chiếm  khoảng  2%  so  với  tổng  sản  lượng chè thế giới, còn lại là các loại chè khác như chè vàng, chè dược thảo…

Ngoài cách phân loại chè theo công nghệ chế biến như trên, để tạo thuận tiện  trong thống kê, theo dõi và phân tích số liệu một cách nhất quán, sản phẩm chè trên  thế giới được phân  thành 4 loại  theo  Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa  (Hệ thống HS), cụ thể như sau: 

(1) Chè xanh, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090210)  (2) Chè xanh dạng rời trên 3kg (mã HS: 090220) 

(3) Chè đen, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090230)  (4) Chè đen dạng rời trên 3kg (mã HS: 090240) 

Đối  với  những  loại  chè  đóng  gói  dưới  3kg  thường  là  những  loại  chè  thành  phẩm, có thương hiệu. Ngược lại những loại chè dạng rời thường là loại chè nguyên  liệu, được các quốc gia nhập khẩu sử dụng làm nguyên liệu để chế biến, đấu trộn  thành các sản phẩm chè khác và tiêu thụ hoặc tái xuất sang các nước khác. 

Trên thế giới hiện nay, các nguồn số liệu thống kê thứ cấp cung cấp rất đầy đủ,  theo từng năm và theo từng loại chè theo cách phân loại của Hệ thống HS. Do đó,  trong luận án này kết hợp hai cách phân loại chè theo công nghệ chế biến và theo  cách thức phân loại của Hệ thống HSkhi tiến hành phân tích chi tiết về các nước  xuất khẩu và nhập khẩu chè. Cụ thể,  chè  (mã  HS: 0902) khi phân tích được phân  thành 4 loại như sau: 

(1) Chè xanh, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090210)  (2) Chè xanh dạng rời trên 3kg (mã HS: 090220) 

(3) Chè đen, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090230)  (4) Chè đen dạng rời trên 3kg (mã HS: 090240) 

2.1.1.2.  Chuỗi cung ứng của sản phẩm chè trên thế giới 

Từ khi lá chè tươi được hái cho đến khi trở thành cốc chè của người tiêu dùng,  có  rất  nhiều  tác  nhân  tham  gia  vào  quá  trình  này  (xemPhụ  lục  28).  Trước  tiên,  những người nông dân làm việc tại các cánh đồng chè tiến hành hái chè tươi và thu  gom lá chè. Những người nông dân này có thể trồng chè trên chính mảnh đất của họ  hoặc có thể làm thuê cho các đồn điền lớn. Những đồn điền lớn có thể có diện tích  lớn hơn 8000 ha và với quy mô diện tích lớn như vậy cho phép những đồn điền này  tận dụng được lợi thế theo quy mô [59].

Sau đó, nếu là các hộ nông dân trồng chè có quy mô nhỏ sẽ vận chuyển lá chè  xanh và bán cho những người thu gom chè và những người thu gom này sẽ bán cho  các nhà máy chế biến. Nếu là các đồn điền trồng chè có quy mô lớn, lá chè sẽ được  vận chuyển đến những nhà máy chế biến gần các đồn điền. Quá trình chế biến chè  phải được thực hiện tại quốc gia trồng chè vì chè phải được chế biến trong vòng vài  giờ sau khi đã được hái để duy trì chất lượng của chè. Do đó các công đoạn như sơ  chế ban đầu, lên men và sấy khô… thường được thực hiện gần các khu vực sản xuất  chè. 

Kế  tiếp  chè  sẽ được  vận  chuyển  đến  các  trung  tâm đấu  giá địa phương hoặc  bán  trực  tiếp  cho  các  nhà  xuất  khẩu,  thương  nhân.  Hiện  nay  có  khoảng  70%  sản  lượng chè của thế giới được giao dịch qua sàn đấu giá [59]. Hệ thống đấu giá của tất  cả các trung tâm đấu giá hoạt động tương tự như nhau. Hiện nay có một vài trung  tâm đấu giá chè chính trên thế giới như Kolkata, Kochi (ở Ấn Độ), Colombo (ở Sri  Lanka), Mombasa (ở Kenya). Trung tâm đấu giá tại  Kenya cũng là trung tâm đấu  giá cho các quốc gia trồng chè tại Châu Phi. 

Kế tiếp chè được vận chuyển đến các nhà máy đấu trộn, đóng gói tại quốc gia  tiêu dùng chè và sau đó chè được chuyển đến các siêu thị, các điểm bán lẻ, các cơ  quan, các nhà máy (tiêu dùng tại công sở). Các công ty đấu trộn chè thường sử dụng  khoảng 35 loại chè nguyên liệu khác nhau. Việc đấu trộn như vậy đảm bảo vị chè  được ổn định ngay cả khi công ty đấu trộn có thể bị mất một hoặc hai nguồn cung  cấp do  thời  tiết  bất  lợi  hoặc  giá  cao.  Chính  việc  đấu  trộn như  vậy,  những  công  ty  đấu  trộn  này  (thường  là  các  công  ty  đa  quốc  gia)  không  quá  phụ  thuộc  vào  một  nguồn  cung  cấp  nào  và  họ  có  thể  dễ  dàng  từ  bỏ  các  quốc  gia  cung  cấp  chè  nếu  không phù hợp với lợi ích của công ty. Thông thường từ khi chè được hái cho đến  khi được bày bán tại siêu thị mất khoảng 20 đến 30 tuần. 

2.1.1.3.  Yêu cầu về tiêu chuẩn đối với chè xuất khẩu 

Do cung ứng luôn dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ nên giá chè trên thị trường  thế giới có xu hướng giảm sau khi đạt mức kỷ lục vào năm 1985, kết hợp với những  đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng tăng về chất lượng, năm 2006, Nhómnghiên  cứu  liên  chính  phủ  về mặt  hàng  chè  (IGG)  của  FAO  đã  đề  xuất  áp  dụng  Bộ  tiêu

chuẩn  chất  lượng  tối  thiểu  ISO  3720  cho  sản  phẩm  chè  đen  trong  giao  dịch  toàn  cầu.  Hiện  nay  85%  sản  lượng  chè  đen  giao  dịch  trên  thị  trường  thế  giới  đáp ứng  được Bộ tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu ISO 3720[45]. 

Tuy nhiên một số quốc gia nhập khẩu cũng như một số quốc gia xuất khẩu chè  cho rằng Bộ tiêu chuẩn tối thiểu ISO 3720 do IGG đề xuất còn thấp so với yêu cầu. 

Do đó một  số quốc  gia nhập khẩu  cũng như quốc  gia  xuất  khẩu đặt  ra  tiêu  chuẩn  chất lượng cao hơn Bộ tiêu chuẩn tối thiểu ISO 3720. 

Ngoài các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, các quốc gia còn đặt ra  các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, đặc biệt là quy định về mức dư lượng thuốc  trừ sâu được chấp nhận (MRLs). Một  số quy  định về mức dư lượng thuốc trừ sâu  được chấp nhận của một số quốc gia được nêu tại Phụ lục 16. Thông thường để có  thể kiểm soát được mức dư lượng thuốc trừ sâu phải áp dụng quy trình GAP hoặc  HACCP trong quá trình trồng và chế biến chè. 

2.1.1.4.  Phân tích sự cạnh tranh trong ngành chè thế giới 

Theo Michael E. Porter, có 5 yếu tố tác động đến sự cạnh tranh trong ngành: 

(1)  mối  đe  dọa  từ  sự  xuất  hiện  những  đối  thủ  mới,  (2)  mối  đe  dọa  từ  những  sản  phẩm  hay  dịch  vụ  thay  thế,  (3)  khả  năng  mặc  cả  của bên  cung  cấp,  (4)  khả  năng  mặc cả của khách hàng và (5) sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành. 

Trong ngành chè thế giới, 5 yếu tố này tác động như sau:

ã  Mối đe dọa từ sự xuất hiện những đối thủ mới 

Mối đe dọa thâm nhập phụ thuộc vào độ cao của các rào cản thâm nhập. Đối  với ngành chè những rào cản thâm nhập như lợi thế theo quy mô, tính đặc trưng của  nhãn hiệu sản phẩm, chính sách của chính phủ không tạo ra rào cản thâm nhập lớn. 

Chẳng hạn như hầu hết các quốc gia trồng chè truyền thống đều có chính sách bảo  hộ thị trường trong nước, trợ cấp sản xuất trong nước, tuy nhiên hiệu quả của chính  sách này không cao nếu tất cả các quốc gia trồng chè đều thực hiện như vậy. 

Kết quả là trong ngành chè thế giới, vào những năm 70 của thế kỷ trước có sự  gia  nhập  với  quy  mô  khá  lớn  từ  các  quốc  gia  thuộc  châu  Phi,  làm  cho  cung  của  ngành chè gia tăng nhanh và giá chè (đã loại bỏ yếu tố lạm phát) có xu hướng giảm  trong thời gian dài vừa qua.

ã  Khả năng mặc cả của khỏch hàng 

Trong  ngành  chè,  khả  năng  mặc  cả  của  khách  hàng  là  rất  cao  bởi  vì  khách  hàng  tập  trung  vào  một  số  công  ty  lớn  trên  thế  giới  và  họ  có  thể  thông  đồng  với  nhau để  kìm  giá  khi  mua đấu  giá  chè.  Mức độ  tập  trung  của ngành chè  còn  được  thấy trong lĩnh vực chế biến, phân phối và tiêu thụ chè, tập trung chủ yếu vào các  công ty đa quốc gia lớn. Chỉ những nhà sản xuất có vốn đầu tư lớn mới có thể vượt  qua được phương thức kinh doanh truyền thống trên.

ã  Khả năng mặc cả của nhà cung cấp 

Đặc điểm nổi bật của ngành chè thế giới là tập hợp các nhà sản xuất quy mô  nhỏ, tất cả cùng cố gắng gia tăng sản lượng với mong đợi tăng doanh thu mà không  quan  tâm  nhiều  đến  tác  động  của  giá.  Hơn  nữa  chi  phí  đổi  mối  trong  ngành  chè  không cao, nghĩa là người mua dễ dàng chuyển đổi  từ nhà cung cấp này sang nhà  cung cấp khác. Do đó khả năng mặc cả của nhà cung cấp rất thấp.

ã  Mối đe dọa từ những sản phẩm thay thế 

Sản phẩm thay thế đối với sản phẩm  chè chủ yếu là nước ngọt, nước trái cây,  cà phê và đồ uống có chứa chất cồn. Tùy vào từng quốc gia mà mức độ thay thế có  sự  khác nhau. Tính  theo khối  lượng  tiêu  thụ bình quân  đầu người,  sự thay  đổi  về  mức tiêu thụ cà phê, chè và thức uống có cồn là không đáng kể, chỉ có mức tiêu thụ  nước ngọt bình quân đầu người là có sự gia tăng đáng kể. 

Ngoài ra, xu hướng tiêu dùng nước trái cây có tăng lên trong thời gian gần đây  do những quan tâm về lý do sức khỏe, đặc biệt là tại những quốc gia phát triển. Hơn  nữa ngành này được hỗ trợ bởi những sáng tạo, tạo ra các sản phẩm mới bằng cách  tạo ra mùi vị mới, cách pha trộn hương vị các loại trái cây.

ã  Sự cạnh tranh giữa cỏc đối thủ hiện tại trong ngành 

Ngành  chè  là  một  ví  dụ  điển  hình  cho  một  ngành  công  nghiệp  đạt  mức  bão  hòa, với mức tăng tiêu thụ của ngành thấp. Cách duy nhất một quốc gia có thể giành  thêm thị phần là bằng cách lấy đi thị phần của các đối thủ để tăng trưởng. Hơn nữa,  ngành chè trong một thời gian dài ở tình trạng cung vượt cầu, do đó với lo ngại phải  vứt bỏ sản phẩm dư thừa nên người bán phải chấp nhận bất kỳ mức giá nào tại các  buổi bán đấu giá. Do đó sự cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành chè gia tăng.

Tóm lại, sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành chè do một số nguyên nhân  sau:

ã  Số  lượng đối  thủ  cạnh  tranh  trong ngành  nhiều  và  trong  rất  nhiều đối  thủ  cạnh tranh này có sự đồng đều về quy mô và khả năng cạnh tranh như là giữa Sri  Lanka và Kenya, giữa Ấn Độ và Trung Quốc…

ã  Tốc độ tăng trưởng của thị trường thấp.

ã  Sản phẩm chố ớt cú sự cỏ biệt húa cao.

ã  Chi phớ đổi mối thấp. Bởi vỡ với hệ thống đấu giỏ chiếm ưu thế, người sản  xuất không thể phát triển các công cụ để giữ mối quan hệ dài hạn với người mua.

ã  Sản phẩm chố mau hư hỏng nờn tạo ỏp lực phải bỏn ra để khụng phải  lưu  kho.

ã  Ngành chố trải qua thời gian dài trong tỡnh trạng cung vượt cầu.

ã  Cỏc nhà cung cấp vẫn tiếp tục ở lại trong ngành mặc dự lợi nhuận thấp do  đã tốn kém chi phí đầu tư ban đầu và không có cơ hội khác. 

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 71 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)