CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Nghiên cứu tình hình sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu chè trên thế giới
2.1.1. Giới thiệu tổng quan chung về ngành chè
2.1.1.1. Các sản phẩm chính của ngành hàng chè giao dịch trên thế giới Trên thị trường thế giới có rất nhiều loại chè khác nhau được giao dịch. Tuy nhiên, mọi loại chè giao dịch trên thị trường thế giới đều được chế biến từ lá chè tươi của cây chè (Camellia sinensis). Có nhiều tiêu chí để phân loại chè, tiêu chí được sử dụng phổ biến là dựa theo mức độ lên men của lá chè.Theo tiêu chí này, chè thành phẩm được phân thành 3 loại chính: chè đen, chè xanh, chè Ôlong (chi tiết phương pháp chế biến, xem Phụ lục 27).
Theo FAO (2011a) và Hicks (2009), tỷ lệ sản lượng chè đen thu hoạch hàng năm trên thế giới chiếm đến 70,09% so với tổng sản lượng chè thu hoạch hàng năm của toàn thế giới. Đến năm 2017, hàng năm dự kiến tốc độ tăng sản lượng chè đen đạt 1,9%/năm và đạt mức 3,1 triệu tấn. Trong khi đó tỷ lệ sản lượng chè xanh thu hoạch hàng năm chiếm 25,23% trong tổng sản lượng chè thu hoạch của thế giới, với tốc độ tăng sản lượng trung bình hàng năm dự kiến là 4,5%/năm từ nay đến năm 2017, đạt 1,35 triệu tấn. Riêng chè Ôlong chỉ chiếm khoảng 2% so với tổng sản lượng chè thế giới, còn lại là các loại chè khác như chè vàng, chè dược thảo…
Ngoài cách phân loại chè theo công nghệ chế biến như trên, để tạo thuận tiện trong thống kê, theo dõi và phân tích số liệu một cách nhất quán, sản phẩm chè trên thế giới được phân thành 4 loại theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa (Hệ thống HS), cụ thể như sau:
(1) Chè xanh, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090210) (2) Chè xanh dạng rời trên 3kg (mã HS: 090220)
(3) Chè đen, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090230) (4) Chè đen dạng rời trên 3kg (mã HS: 090240)
Đối với những loại chè đóng gói dưới 3kg thường là những loại chè thành phẩm, có thương hiệu. Ngược lại những loại chè dạng rời thường là loại chè nguyên liệu, được các quốc gia nhập khẩu sử dụng làm nguyên liệu để chế biến, đấu trộn thành các sản phẩm chè khác và tiêu thụ hoặc tái xuất sang các nước khác.
Trên thế giới hiện nay, các nguồn số liệu thống kê thứ cấp cung cấp rất đầy đủ, theo từng năm và theo từng loại chè theo cách phân loại của Hệ thống HS. Do đó, trong luận án này kết hợp hai cách phân loại chè theo công nghệ chế biến và theo cách thức phân loại của Hệ thống HSkhi tiến hành phân tích chi tiết về các nước xuất khẩu và nhập khẩu chè. Cụ thể, chè (mã HS: 0902) khi phân tích được phân thành 4 loại như sau:
(1) Chè xanh, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090210) (2) Chè xanh dạng rời trên 3kg (mã HS: 090220)
(3) Chè đen, đóng gói sẵn, trọng lượng gói không quá 3kg (mã HS: 090230) (4) Chè đen dạng rời trên 3kg (mã HS: 090240)
2.1.1.2. Chuỗi cung ứng của sản phẩm chè trên thế giới
Từ khi lá chè tươi được hái cho đến khi trở thành cốc chè của người tiêu dùng, có rất nhiều tác nhân tham gia vào quá trình này (xemPhụ lục 28). Trước tiên, những người nông dân làm việc tại các cánh đồng chè tiến hành hái chè tươi và thu gom lá chè. Những người nông dân này có thể trồng chè trên chính mảnh đất của họ hoặc có thể làm thuê cho các đồn điền lớn. Những đồn điền lớn có thể có diện tích lớn hơn 8000 ha và với quy mô diện tích lớn như vậy cho phép những đồn điền này tận dụng được lợi thế theo quy mô [59].
Sau đó, nếu là các hộ nông dân trồng chè có quy mô nhỏ sẽ vận chuyển lá chè xanh và bán cho những người thu gom chè và những người thu gom này sẽ bán cho các nhà máy chế biến. Nếu là các đồn điền trồng chè có quy mô lớn, lá chè sẽ được vận chuyển đến những nhà máy chế biến gần các đồn điền. Quá trình chế biến chè phải được thực hiện tại quốc gia trồng chè vì chè phải được chế biến trong vòng vài giờ sau khi đã được hái để duy trì chất lượng của chè. Do đó các công đoạn như sơ chế ban đầu, lên men và sấy khô… thường được thực hiện gần các khu vực sản xuất chè.
Kế tiếp chè sẽ được vận chuyển đến các trung tâm đấu giá địa phương hoặc bán trực tiếp cho các nhà xuất khẩu, thương nhân. Hiện nay có khoảng 70% sản lượng chè của thế giới được giao dịch qua sàn đấu giá [59]. Hệ thống đấu giá của tất cả các trung tâm đấu giá hoạt động tương tự như nhau. Hiện nay có một vài trung tâm đấu giá chè chính trên thế giới như Kolkata, Kochi (ở Ấn Độ), Colombo (ở Sri Lanka), Mombasa (ở Kenya). Trung tâm đấu giá tại Kenya cũng là trung tâm đấu giá cho các quốc gia trồng chè tại Châu Phi.
Kế tiếp chè được vận chuyển đến các nhà máy đấu trộn, đóng gói tại quốc gia tiêu dùng chè và sau đó chè được chuyển đến các siêu thị, các điểm bán lẻ, các cơ quan, các nhà máy (tiêu dùng tại công sở). Các công ty đấu trộn chè thường sử dụng khoảng 35 loại chè nguyên liệu khác nhau. Việc đấu trộn như vậy đảm bảo vị chè được ổn định ngay cả khi công ty đấu trộn có thể bị mất một hoặc hai nguồn cung cấp do thời tiết bất lợi hoặc giá cao. Chính việc đấu trộn như vậy, những công ty đấu trộn này (thường là các công ty đa quốc gia) không quá phụ thuộc vào một nguồn cung cấp nào và họ có thể dễ dàng từ bỏ các quốc gia cung cấp chè nếu không phù hợp với lợi ích của công ty. Thông thường từ khi chè được hái cho đến khi được bày bán tại siêu thị mất khoảng 20 đến 30 tuần.
2.1.1.3. Yêu cầu về tiêu chuẩn đối với chè xuất khẩu
Do cung ứng luôn dư thừa so với nhu cầu tiêu thụ nên giá chè trên thị trường thế giới có xu hướng giảm sau khi đạt mức kỷ lục vào năm 1985, kết hợp với những đòi hỏi của người tiêu dùng ngày càng tăng về chất lượng, năm 2006, Nhómnghiên cứu liên chính phủ về mặt hàng chè (IGG) của FAO đã đề xuất áp dụng Bộ tiêu
chuẩn chất lượng tối thiểu ISO 3720 cho sản phẩm chè đen trong giao dịch toàn cầu. Hiện nay 85% sản lượng chè đen giao dịch trên thị trường thế giới đáp ứng được Bộ tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu ISO 3720[45].
Tuy nhiên một số quốc gia nhập khẩu cũng như một số quốc gia xuất khẩu chè cho rằng Bộ tiêu chuẩn tối thiểu ISO 3720 do IGG đề xuất còn thấp so với yêu cầu.
Do đó một số quốc gia nhập khẩu cũng như quốc gia xuất khẩu đặt ra tiêu chuẩn chất lượng cao hơn Bộ tiêu chuẩn tối thiểu ISO 3720.
Ngoài các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, các quốc gia còn đặt ra các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, đặc biệt là quy định về mức dư lượng thuốc trừ sâu được chấp nhận (MRLs). Một số quy định về mức dư lượng thuốc trừ sâu được chấp nhận của một số quốc gia được nêu tại Phụ lục 16. Thông thường để có thể kiểm soát được mức dư lượng thuốc trừ sâu phải áp dụng quy trình GAP hoặc HACCP trong quá trình trồng và chế biến chè.
2.1.1.4. Phân tích sự cạnh tranh trong ngành chè thế giới
Theo Michael E. Porter, có 5 yếu tố tác động đến sự cạnh tranh trong ngành:
(1) mối đe dọa từ sự xuất hiện những đối thủ mới, (2) mối đe dọa từ những sản phẩm hay dịch vụ thay thế, (3) khả năng mặc cả của bên cung cấp, (4) khả năng mặc cả của khách hàng và (5) sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành.
Trong ngành chè thế giới, 5 yếu tố này tác động như sau:
ã Mối đe dọa từ sự xuất hiện những đối thủ mới
Mối đe dọa thâm nhập phụ thuộc vào độ cao của các rào cản thâm nhập. Đối với ngành chè những rào cản thâm nhập như lợi thế theo quy mô, tính đặc trưng của nhãn hiệu sản phẩm, chính sách của chính phủ không tạo ra rào cản thâm nhập lớn.
Chẳng hạn như hầu hết các quốc gia trồng chè truyền thống đều có chính sách bảo hộ thị trường trong nước, trợ cấp sản xuất trong nước, tuy nhiên hiệu quả của chính sách này không cao nếu tất cả các quốc gia trồng chè đều thực hiện như vậy.
Kết quả là trong ngành chè thế giới, vào những năm 70 của thế kỷ trước có sự gia nhập với quy mô khá lớn từ các quốc gia thuộc châu Phi, làm cho cung của ngành chè gia tăng nhanh và giá chè (đã loại bỏ yếu tố lạm phát) có xu hướng giảm trong thời gian dài vừa qua.
ã Khả năng mặc cả của khỏch hàng
Trong ngành chè, khả năng mặc cả của khách hàng là rất cao bởi vì khách hàng tập trung vào một số công ty lớn trên thế giới và họ có thể thông đồng với nhau để kìm giá khi mua đấu giá chè. Mức độ tập trung của ngành chè còn được thấy trong lĩnh vực chế biến, phân phối và tiêu thụ chè, tập trung chủ yếu vào các công ty đa quốc gia lớn. Chỉ những nhà sản xuất có vốn đầu tư lớn mới có thể vượt qua được phương thức kinh doanh truyền thống trên.
ã Khả năng mặc cả của nhà cung cấp
Đặc điểm nổi bật của ngành chè thế giới là tập hợp các nhà sản xuất quy mô nhỏ, tất cả cùng cố gắng gia tăng sản lượng với mong đợi tăng doanh thu mà không quan tâm nhiều đến tác động của giá. Hơn nữa chi phí đổi mối trong ngành chè không cao, nghĩa là người mua dễ dàng chuyển đổi từ nhà cung cấp này sang nhà cung cấp khác. Do đó khả năng mặc cả của nhà cung cấp rất thấp.
ã Mối đe dọa từ những sản phẩm thay thế
Sản phẩm thay thế đối với sản phẩm chè chủ yếu là nước ngọt, nước trái cây, cà phê và đồ uống có chứa chất cồn. Tùy vào từng quốc gia mà mức độ thay thế có sự khác nhau. Tính theo khối lượng tiêu thụ bình quân đầu người, sự thay đổi về mức tiêu thụ cà phê, chè và thức uống có cồn là không đáng kể, chỉ có mức tiêu thụ nước ngọt bình quân đầu người là có sự gia tăng đáng kể.
Ngoài ra, xu hướng tiêu dùng nước trái cây có tăng lên trong thời gian gần đây do những quan tâm về lý do sức khỏe, đặc biệt là tại những quốc gia phát triển. Hơn nữa ngành này được hỗ trợ bởi những sáng tạo, tạo ra các sản phẩm mới bằng cách tạo ra mùi vị mới, cách pha trộn hương vị các loại trái cây.
ã Sự cạnh tranh giữa cỏc đối thủ hiện tại trong ngành
Ngành chè là một ví dụ điển hình cho một ngành công nghiệp đạt mức bão hòa, với mức tăng tiêu thụ của ngành thấp. Cách duy nhất một quốc gia có thể giành thêm thị phần là bằng cách lấy đi thị phần của các đối thủ để tăng trưởng. Hơn nữa, ngành chè trong một thời gian dài ở tình trạng cung vượt cầu, do đó với lo ngại phải vứt bỏ sản phẩm dư thừa nên người bán phải chấp nhận bất kỳ mức giá nào tại các buổi bán đấu giá. Do đó sự cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành chè gia tăng.
Tóm lại, sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành chè do một số nguyên nhân sau:
ã Số lượng đối thủ cạnh tranh trong ngành nhiều và trong rất nhiều đối thủ cạnh tranh này có sự đồng đều về quy mô và khả năng cạnh tranh như là giữa Sri Lanka và Kenya, giữa Ấn Độ và Trung Quốc…
ã Tốc độ tăng trưởng của thị trường thấp.
ã Sản phẩm chố ớt cú sự cỏ biệt húa cao.
ã Chi phớ đổi mối thấp. Bởi vỡ với hệ thống đấu giỏ chiếm ưu thế, người sản xuất không thể phát triển các công cụ để giữ mối quan hệ dài hạn với người mua.
ã Sản phẩm chố mau hư hỏng nờn tạo ỏp lực phải bỏn ra để khụng phải lưu kho.
ã Ngành chố trải qua thời gian dài trong tỡnh trạng cung vượt cầu.
ã Cỏc nhà cung cấp vẫn tiếp tục ở lại trong ngành mặc dự lợi nhuận thấp do đã tốn kém chi phí đầu tư ban đầu và không có cơ hội khác.