Chiến lược phân phối cho sản phẩm chè Việt Nam

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 118 - 122)

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, XUẤT KHẨU CHÈ VÀ THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI CỦA CHÈ VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

2.4. Tình hình thâm nhập thị trường thế giới của chè Việt Nam

2.4.5. Thực trạng hoạch định chiến lược Marketing Mix của chè Việt Nam

2.4.5.3. Chiến lược phân phối cho sản phẩm chè Việt Nam

Trước  những năm  1990,  thị  trường  xuất  khẩu  chè  của  Việt  Nam  chủ  yếu  là  sang Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu theo các hiệp định. Trong giai đoạn 1991 ­  1995, khi xuất khẩu sang các nước SNG và Đông Âu giảm mạnh, Việt Nam đã tăng  cường xuất khẩu sang các nước khác nhưng phần nhiều là xuất qua trung gian, chủ  yếu là  qua mạng  lưới  tiêu  thụ  của  các doanh nhân. Trong  thời  gian  gần đây,  xuất  khẩu qua trung gian đã giảm dần, đến nay chè của Việt Nam đã xuất khẩu trực tiếp  sang trên 100 nước và vùng lãnh thổ. 

Các sản phẩm chè của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường các nước được tiêu  thụ chủ yếu dưới hình thức các bản quyền nhãn hiệu sản phẩm của nước nhập khẩu  hoặc  các  nhãn  hiệu  khác  có  uy  tín.  Chẳng  hạn  đối  với  thị  trường  Nhật  Bản,  sản  phẩm chè đen được nhập khẩu dưới dạng chè thô chưa chế biến và được gia công,

đóng  gói,  ghi  nhãn  tại  Nhật  Bản  và  bán  dưới  nhãn  chè  Nhật;  hoặc  công  ty  Nhật  nhập  khẩu  chè  đã  chế  biến  nhưng  đóng  gói  và  bán  lẻ  tại  Nhật.  Tương  tự  tại  thị  trường  Nga,  các  doanh  nghiệp  Việt  Nam  xuất  khẩu  chè  vào  thị  trường  này  theo  nhiều kênh khác nhau: thông qua thương hiệu của một đối tác tại Nga, bán cho các  nhà phân phối hàng cho các siêu thị, trung tâm thương mại... 

Chiến lược phân phối có thể là một khâu yếu kém trong hoạt động Marketing  Mix của các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam. Hệ thống phân phối còn nghèo  nàn, hoạt động thiếu chặt chẽ, thiếu tính liên kết. Hiện nay, hoạt động mua gom và  xuất khẩu  chè  tại  Việt  Nam  trong  thời gian qua được  tiến  hành qua  các kênh  chủ  yếu sau:

ã  Cỏc  cụng  ty  sản  xuất  trực  tiếp  xuất  khẩu.  Những  cụng  ty  này  thường  là  những công ty có nguồn nguyên liệu, chè có chất lượng đặc biệt và được thị trường  quốc  tế  quan  tâm.  Những  công ty  này  chủ  yếu thực hiện  xuất  khẩu  chè  của  chính  công ty, kết hợp với việc thu mua chè của các hộ sản xuất trong khu vực hoạt động  của công ty để tiến hành xuất khẩu.

ã  Cỏc cụng ty đầu mối lớn hoặc cỏc cụng ty thương mại đúng vai trũ rất quan  trọng trong kênh xuất khẩu chè của Việt Nam hiện nay. Những công ty này thu mua  của các công ty sản xuất chè trực tiếp, hoặc thu mua của các cơ sở chế biến. Hoặc  đối  với  những  công  ty  lớn,  chuyên  doanh  có  thể  đầu  tư  hệ  thống  máy  móc  chế  biến… tiến hành thu mua chè trực tiếp, chế biến và xuất khẩu.

ã  Thụng qua đại diện của cỏc cụng ty nhập khẩu nước ngoài. Hiện nay tại một  số vùng nguyên liệu chè lớn của Việt Nam như Lâm Đồng, các doanh nghiệp nhập  khẩu  nguyên  liệu  nước  ngoài  với  lợi  thế  có  được  thị  trường  tiêu  thụ,  họ  đang  thực  hiện  liên  kết  đối  với  các  công  ty  chế  biến  của  Việt  Nam  để  có  nguồn  nguyên liệu ổn định. Chẳng hạn, những quốc gia nhập khẩu chính như Pakistan  thường có các đại diện của các công ty nhập khẩu tại các vùng nguyên liệu chính  của  Việt Nam.  Họ  liên  hệ trực tiếp  với các nhà  máy  chế  biến đóng  trên những  vùng nguyên liệu lớn và có chất lượng của Việt Nam. Họ thường ứng trước tiền  cho các nhà máy chế biến này và các nhà máy chế biến này ứng trước một phần  tiền cho hộ nông dân. Các nhà máy chế biến này đã được đánh giá theo một số

tiêu  chí  của  công  ty  nhập  khẩu  như  công nghệ,  trình  độ  quản  lý,  năng  lực  chế  biến, đóng  trên  địa  bàn  những  vùng  nguyên  liệu  lớn.  Tâm  lý  của  các  nhà  máy  chế biến hiện nay là thích tiến hành đàm phán với đối tác mua nguyên liệu trực  tiếp  nước  ngoài  vì  nghĩ  rằng  không  phải  qua  trung  gian  là  các  công  ty  thương  mại Việt Nam. 

Khi xuất khẩu chè, các doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt Nam và các đối  tác nhập khẩu sẽ tiến hành ký kết hợp đồng ngoại thương theo dạng giao ngay hoặc  giao sau một  thời  gian nhất định. Hiện tại  Việt Nam chưa có sàn đấu giá và chưa  cho phép ký hợp đồng kỳ hạn... 

Do  các  doanh  nghiệp  xuất  khẩu  chè  Việt  Nam  chủ  yếu  xuất  khẩu  chè  dưới  dạng  nguyên  liệu  và  với  cách  thức  là  ký  hợp  đồng mua bán  theo  từng  thương  vụ  như vậy, kết hợp với việc có quá nhiều công ty xuất khẩu chè Việt Nam cạnh tranh  bán hàng, do đó mối liên kết giữa các công ty xuất khẩu chè Việt Nam và các đối  tác nhập khẩu rất lỏng lẻo, không bền vững. Các đối tác nhập khẩu nước ngoài khi  có nhu cầu nhập khẩu có thể đàm phán với rất nhiều công ty xuất khẩu chè của Việt  Nam và có thể thay đổi đối tác cung cấp rất nhanh chóng. 

Với những bất lợi trên khi phải xuất khẩu chè nguyên liệu và mối liên kết  với nhà nhập khẩu không bền vững, một số doanh nghiệp xuất khẩu chè của Việt  Nam trong thời gian qua cũng đã tiến hành xây dựng một số kênh phân phối trực  tiếp, nhưng kết quả chưa thật sự khả quan (xem thêm Hộp 2­5 và Hộp 2­4).

Hộp 2­5: Xây dựng kênh phân phối trực tiếp của Vinatea 

Từ  những  năm  90  của  thế  kỷ  trước,  Tổng  công  ty  Chè  Việt  Nam  đã  xác  định  Nga  là  thị  trường  nhiều  tiềm  năng  và đã  có  chiến  lược  khai  thác  và  tăng  cường bán sản phẩm sang thị trường này. 

Tháng  7/2001,  Công  ty  chè  Ba    Đình  trực  thuộc  Vinatea  đã  chính  thức  được thành lập tại Nga nhằm mục đích mở kho hàng trên lãnh thổ Nga, chế biến,  đóng gói sản phẩm, xây dựng mạng lưới các đại lý tiêu thụ ổn định quảng bá cho  sản phẩm chè mang nhãn hiệu  “Rồng Phương Đông” trải rộng từ Matxcơva tới  các thành phố và địa phương khác của Nga và một số các nước khác thuộc Liên  Xô cũ. 

Đây là doanh nghiệp đầu tiên của ngành chè được thành lập tại nước ngoài,  mục đích mà Vinatea đặt ra khi thành lập công ty chè Ba Đình là trong vòng 5  năm, chè Việt Nam sẽ chiếm khoảng 10% lượng chè tiêu thụ trên thị trường Nga  và thương hiệu chè Rồng Phương Đông sẽ có một vị trí xứng đáng tại thị trường  này.Tiếp  theo,  Vinatea  đã  đăng  ký  thương  hiệu  chè  “Rồng  Phương  Đông”  tại  Nga từ tháng 8­2002. Chiến lược  của Vinatea là chiếm lĩnh thị  trường các tỉnh  lẻ, vùng nông thôn nước Nga với lợi thế huy động cộng đồng người Việt Nam,  sau đó mới quay trở lại chiếm lĩnh thị trường thủ đô Mátxcơva. 

Chính  vì  vậy,  Vinatea  cũng đã quyết  định đầu  tư  cho  công  ty  này số tiền  gần 200.000 USD để tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá cho nhãn hiệu  chè Rồng Phương Đông. Được sự hỗ trợ, đầu tư ban đầu như vậy, công ty chè  Ba Đình đã tiến hành xây dựng các mạng lưới đại lý, tổ chức phát miễn phí các  sản phẩm chè Rồng Phương Đông cho một số hộ gia đình dùng thử sản phẩm... 

Kết quả là  lượng  sản phẩm  chè  tiêu  thụ  có  tiến  triển  khả  quan trong thời  gian  đầu. 

Tuy nhiên sau đó gặp phải sự phản ứng cạnh tranh mạnh mẽ của các công  ty chè của nước sở tại và với tiềm lực hạn chế về mặt tài chính, Vinatea không  thể theo đuổi được việc phải quảng bá liên tục và tốn kém trong việc xây dựng,  quảng bá  thương hiệu.  Do  đó hiện nay  thương hiệu  chè  “Rồng Phương  Đông” 

của Vinatea cũng vẫn chưa có chỗ đứng trên thị trường Nga. 

Nguồn:Tổng hợp Báo cáo của Vinatea

Một phần của tài liệu Hoạch định chiến lược thâm nhập thị trường thế giới cho sản phẩm chè của Việt Nam (Trang 118 - 122)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(289 trang)