CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 38 - 43)

NỘI DUNG ÔN TẬP

CHƯƠNG 2: HẠCH TOÁN TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN

2.4. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG (CPI)

Chỉ số giá tiêu dùng đo lường mức giá trung bình của giỏ hàng hóa, dịch vụ mà một người tiêu dùng điển hình mua.

Chỉ số giá tiêu dùng là một chỉ tiêu tương đối phản ánh xu thế và mức độ biến động của giá bán lẻ hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ tiêu dùng trong sinh hoạt của dân cƣ và các hộ gia đình. Bởi vậy, nó đƣợc dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian.

Khi chỉ số giá tiêu dùng tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng. Kết quả là người tiêu dùng phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua đƣợc một lƣợng hàng hóa, dịch vụ nhƣ cũ nhằm duy trì mức sống trước đó của họ.

Ở Việt Nam, hàng tháng, tổng cục thống kê tính toán và công bố những số liệu mới về CPI. Trên cơ sở những con số thống kê này, các nhà phân tích nhanh chóng đƣa ra những bình luận về nguyên nhân thay đổi giá cả và đồng thời dự báo triển vọng thay đổi giá cả trong tương lai trên các mặt báo hàng ngày hoặc đưa lên ti vi.

2.4.2. Xây dựng chỉ số giá tiêu dùng

Bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà thống kê kinh tế tính CPI nhƣ thế nào?

Trước hết, để xây dựng chỉ số giá tiêu dùng, các nhà thống kê kinh tế chọn năm cơ sở (năm gốc). Tiếp đó, họ tiến hành các cuộc điều tra tiêu dùng trên khắp các vùng của đất nước để xác định “giỏ hàng hóa” điển hình mà dân cư mua trong năm cơ sở. Hiện nay, giỏ hàng đặc trƣng để tính CPI của Việt Nam đƣợc hình thành bởi 10 nhóm hàng cấp 1; 34 nhóm hàng cấp 2 và 86 nhóm hàng cấp 3. CPI và xu thế biến động của mức giá hàng tiêu dùng đƣợc tính toán nhƣ thế nào? Để biết một cách chính xác chúng ta tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

Bước 1: Chọn năm cơ sở và xác định giỏ hàng hóa cho năm cơ sở, qti với t biểu thị năm hay thời kỳ thứ t, t = 0 ở năm cơ sở

i: hàng tiêu dùng thứ i trong giỏ hàng hóa.

Ví dụ: giả sử năm cơ sở là năm 2011, giỏ hàng hóa tiêu dùng điển hình chỉ bao gồm 2 mặt hàng là gạo và nước mắm với lượng hàng mua tương ứng là 10kg gạo và 5 lít nước mắm. Chúng ta cố định giỏ hàng này cho các năm tiếp theo vì mục đích của chúng ta là xác định ảnh hưởng của những thay đổi giá đến chi phí giỏ hàng ở các năm khác nhau.

Bước 2: Xác định giá của từng mặt hàng trong giỏ hàng cố định cho các năm, pti. Năm Giá gạo

(nghìn/kg)

Giá nước mắm (nghìn/lít)

2011 13 15

2012 14 17

2013 15 22

Bước 3: Tính chi phí mua giỏ hàng cố định theo giá thay đổi ở các năm.

Chi phí cho giỏ hàng của mỗi năm đƣợc tính bằng cách nhân giá của từng mặt hàng của năm tương ứng với lượng cố định của các mặt hàng ấy ở năm cơ sở và sau đó cộng các giá trị tìm đƣợc với nhau. Do chỉ có giá các mặt hàng thay đổi qua các năm nên:

Chi phí giỏ hàng ở năm t = Σ pti q0i Bước 4: Tính chỉ số giá tiêu dùng cho các năm.

Sau khi có số liệu về chi phí cho giỏ hàng của từng năm, chúng ta có thể tính CPI, đó là một chỉ số. Cũng nhƣ chỉ số điều chỉnh GDP, để tiện lợi, các nhà thống kê kinh tế thường thể hiện giá trị của chỉ số ở năm cơ sở là 100% thay vì 1.

CPI của một năm/thời kỳ nào đó chính là tỷ số giữa giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm đó và giá trị (chi phí) giỏ hàng của năm cơ sở nhân với 100.

Công thức tính CPI đƣợc xác định nhƣ sau:

CPIt =

Σ pti q0i

x 100% (2.9) Σ p0i q0i

Bước 5: Tính tỷ lệ lạm phát.

Đây là công việc cuối cùng của chúng ta để hiểu đƣợc ứng dụng của CPI trong phân tích kinh tế, cụ thể là tiêu dùng CPI để tính tỷ lệ lạm phát. Lạm phát là sự gia tăng liên tục của mức giá chung. Do vậy, tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của mức giá chung so với thời kỳ trước đó.

Tỷ lệ lạm phát đƣợc xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ lạm phátt =

CPIt - CPIt-1

x 100% (2.10) CPIt-1

Năm Giá gạo (nghìn/kg)

Giá nước mắm (nghìn/lít)

Chi tiêu

(nghìn) CPI Tỷ lệ lạm phát (%/năm)

2011 13 15 205 100

2012 14 17 225 109,76 9,76

2013 15 22 260 126,83 15,55

2.4.3. So sánh chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng

Điểm giống nhau cơ bản của cả hai chỉ số là đo lường mức giá chung của nền kinh tế và đều đƣợc các nhà hoạch định chính sách quan tâm, sử dụng vào việc hoạch định các chính sách kinh tế và xã hội. Đương nhiên, hai chỉ số này có những khác biệt nhất định vì chúng đƣợc xây dựng và sử dụng những điều kiện không đồng nhất với nhau.

Điểm khác biệt thứ nhất, chỉ số điều chỉnh GDP đo lường mức giá trung bình của tất cả các hàng hóa, dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong nước, trong khi CPI đo lường mức giá trung bình của mọi hàng hóa, dịch vụ mà một hộ gia đình/người tiêu dùng điển hình tiêu dùng. Như vậy, có hàng hóa là một bộ phận của GDP nhưng không thuộc về giỏ hàng hóa do người tiêu dùng điển hình mua, ví dụ nhƣ xe tăng quân sự. Giả sử có sự tăng giá đối với mặt hàng này do chi phí đầu vào tăng lên thì sự gia tăng giá cả này chỉ đƣợc phản ánh ở chỉ số điều chỉnh GDP mà không đƣợc phản ánh trong CPI. Chúng ta xét thêm một ví dụ khác: hàng SAMSUNG của Hàn Quốc nên nó thuộc GDP của Hàn Quốc chứ không thuộc GDP của Việt Nam. Do nhiều người tiêu dùng của Việt Nam mua tivi SAMSUNG sản xuất tại Hàn Quốc nhập khẩu vào Việt Nam nên ti vi SAMSUNG là một bộ phận của giỏ hàng tiêu dùng điển hình của Việt Nam. Ở đây sự tăng giá của hàng tiêu dùng nhập khẩu, nhƣ tivi SAMSUNG, đƣợc phản ánh trong CPI nhƣng không đƣợc tính đến trong chỉ số điều chỉnh GDP. Sự khác biệt thứ nhất này đặc biệt quan trọng khi giá dầu thay đổi. Mặc dù Việt Nam đã sản xuất đƣợc dầu nhƣng hầu hết lƣợng dầu mà chúng ta đang sử dụng là nhập từ nước ngoài. Do vậy, dầu và các sản phẩm dầu mỏ như xăng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong chi tiêu của người tiêu dùng so với GDP. Khi giá dầu tăng, chỉ số giá tiêu dùng tăng nhiều hơn mức gia tăng của chỉ số điều chỉnh GDP.

Bên cạnh đó, chỉ số điều chỉnh GDP và chỉ số giá tiêu dùng CPI còn phân biệt nhau ở một khía cạnh khác, đó là làm sao quy quyền số cho các giá cả khác nhau để thu đƣợc một con số duy nhất về mức giá chung. Chỉ số giá tiêu dùng so sánh giá của một giỏ hàng hóa, dịch vụ cố định ở năm tính toán với giá của giỏ hàng hóa đó ở năm cơ sở. Giỏ hàng tiêu dùng thỉnh thoảng mới đƣợc tổng cục thống kê thay đổi, do đó, nó thường được giữ cố định cho nhiều năm. Trong khi đó, chỉ số điều chỉnh GDP so sánh giá của những hàng hóa, dịch vụ đƣợc sản xuất ra trong năm hiện hành với giá của những hàng hóa ấy trong năm cơ sở. Vì vậy, nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng để tính chỉ số điều chỉnh GDP tự động thay đổi theo thời gian. Khi tất cả giá cả đều thay đổi theo cùng tỷ lệ thì sự khác biệt này là không quan trọng, song nếu giá cả của những hàng hóa, dịch vụ khác nhau không thay đổi theo cùng tỷ lệ, việc gán quyền số cho các giá cả khác nhau tác động mạnh tới tỷ lệ lạm phát.

Chính những khác biệt giữa hai chỉ số này đã giải thích tại sao có sự chênh lệch giữa tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số điều chỉnh GDP và tỷ lệ lạm phát tính theo CPI. Nhìn chung hai chỉ số này biến động cùng chiều ở hầu hết các năm mặc dù CPI dao động mạnh hơn và đôi khi có lúc ngƣợc chiều nhau (đối với Việt Nam là năm 2003). Do chi tiêu cho lương thực, thực phẩm chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu của giỏ hàng tiêu dùng nên tốc độ tăng trưởng của ngành sản xuất lương thực, thực phẩm và sự biến động của giá hàng lương thực, thực phẩm có tác động lớn tới tỷ lệ lạm phát tính theo CPI. Tuy nhiên, trong 3 ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, ngành nông nghiệp chỉ tạo ra hơn 20% GDP nên tác động của những dao động ở giá hàng nông sản nói chung đối với chỉ số điều chỉnh GDP không lớn nhƣ chúng tác động tới CPI.

Chỉ số điều chỉnh GDP Chỉ số giá tiêu dùng CPI - Phản ánh giá của tất cả các hàng hóa,

dịch vụ sản xuất ra trong năm/thời kỳ.

- Chỉ phản ánh giá của các hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước.

- Tính theo cơ cấu hàng hóa, dịch vụ thực tế của từng năm

- Phản ánh giá của các loại hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng điển hình mua.

- Bao gồm cả giá của những hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu mà người tiêu dùng mua.

- Tính theo cơ cấu hàng hóa, dịch vụ điển hình, cố định chung cho tất cả các năm.

2.4.4. Những vấn đề phát sinh khi tính toán chỉ số giá tiêu dùng

Tới thời điểm này chúng ta đã biết cách tính và nội dung của chỉ tiêu phản ánh mức giá chung của nền kinh tế là chỉ số giá tiêu dùng. Mục tiêu chủ yếu của CPI đƣợc xem xét ở đây là để đo lường lạm phát và ứng dụng của nó trong thực tiễn kinh tế. Ví dụ Chính phủ sử dụng CPI để xác định hướng dẫn điều chỉnh chi phí sinh hoạt và ngành ngân hàng sử dụng CPI để điều chỉnh lãi suất tiền gửi và tiền cho vay. Song liệu CPI có phải là một thước đo lạm phát tốt không? Liệu CPI tăng 9,5 phần trăm có nghĩa là chi phí sinh hoạt đã tăng lên 9,5 phần trăm không?

Bất kể những nỗ lực tính toán của các nhà thống kê kinh tế thực tế vẫn cho thấy rằng CPI chưa phải là một thước đo hoàn hảo. Có ba nguồn chủ yếu tạo ra những sai lệch về các chỉ báo lạm phát là: Lệch do hàng hóa mới, lệch do chất lƣợng hàng hóa thay đổi – đƣợc cải thiện và lệch thay thế.

Có thể nhìn nhận khái quát về các nguồn sai lệch nhƣ sau:

- Lệch do hàng hóa mới

Hàng hóa mới luôn xuất hiện thay thế hàng hóa cũ. Hàng hóa mới xuất hiện tạo cho người tiêu dùng có sự lựa chọn đa dạng hơn, điều này cũng có nghĩa là mỗi một đồng trở nên có giá trị hơn. Tuy nhiên, vì CPI đƣợc tính dựa trên một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định, không tính đến hàng hóa mới được người tiêu dùng mua nên nó

không phản ánh đƣợc sự thay đổi về sức mua của đồng tiền trong đó. Ví dụ, máy tính đã thế chỗ máy chữ, ấm đun sôi nước siêu tốc dùng nhiệt điện thế chỗ cho chiếc ấm nhôm đun bằng chất đốt cổ truyền. Nếu so sánh mức giá của năm N với mức giá của năm cơ sở chúng ta so sánh giá máy chữ văn phòng và ấm đun nước bằng nhôm dùng phổ biến trong năm cơ sở với giá chiếc máy tính và giá chiếc ấm đun sôi nước siêu tốc dùng điện của năm N. Do giá của máy tính cao hơn của chiếc máy chữ và giá ấm điện cao hơn giá chiếc ấm nhôm thông thường nên chúng ta thấy rằng sự xuất hiện của hàng hóa mới đẩy mức giá dự toán lệch lên trên.

- Lệch do chất lƣợng thay đổi

Hầu hết các hàng hóa và dịch vụ đều kinh qua sự cải thiện chất lƣợng không ngừng theo thời gian. Khi chất lƣợng hàng tiêu dùng tăng thì giá trị của đồng tiền cũng tăng theo. Đương nhiên nếu chất lượng hàng hóa nào đó thuộc giỏ hàng tiêu dùng giảm liên tục trong khi giá của hàng hóa ấy không thay đổi thì giá trị của đồng tiền cũng giảm đi.

Trên thực tế, chất lƣợng của đài, vô tuyến, các dụng cụ sinh hoạt gia đình nói chung, sách giáo khoa, máy tính các loại cao hơn ở năm sau so với năm trước. Cải thiện chất lượng thường đồng nghĩa với sự tăng lên của giá cả. Song những sự gia tăng giá cả như vậy không phải là lạm phát. Ví dụ, giả sự giá một chiếc quạt treo tường ở năm N cao hơn giá chiếc quạt treo tường ở năm N-1 là 10% do nhà máy sản xuất quạt cải tiến lắp thêm bộ phận lọc không khí i-on. Nếu nhƣ điều chỉnh theo chất lƣợng thay đổi thì giá chiếc quạt đó vẫn không đổi. Nhƣng khi tính vào CPI thì giá của chiếc quạt sẽ đƣợc tính nhƣ là nó đã tăng lên 10%.

- Lệch thay thế

Thay đổi của CPI đo lường phần trăm thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định. Mặc dù giá hàng hóa và dịch vụ thay đổi từ năm này qua năm khác song không phải giá của mọi hàng hóa thay đổi theo cùng một tỷ lệ nhƣ nhau. Một số hàng hóa có giá tăng nhanh hơn những hàng hóa khác. Chính những thay đổi về giá tương đối này khiến người tiêu dùng tìm đến những mặt hàng có giá tăng chậm hơn hay rẻ hơn tương đối thay vì tiêu dùng đúng như cơ cấu của giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định trước đây. Ví dụ, giả sử trong năm cơ sở cá rẻ hơn thịt (giá của 2kg cá bằng giá của 1 kg thịt) nên người tiêu dùng mua nhiều cá hơn thịt. Khi hình thành giỏ hàng tiêu dùng các nhà thống kê kinh tế đã đƣa cá vào giỏ hàng nhiều hơn thịt. Nếu ở năm sau đó do điều kiện thời tiết bất lợi và chi phí đầu vào cao nguồn cá đánh bắt và nuôi thả giảm làm cá đắt hơn thịt (giá của 1 kg cá bằng giá của 1,5 kg thịt) người tiêu dùng phản ứng đối với sự thay đổi giá này bằng cách mua nhiều thịt hơn cá do con người phản ứng với các kích thích. Kiểu thay thế hàng hóa rẻ hơn cho hàng hóa đắt hơn này đã không đƣợc tính đến trong CPI.

Nhƣ vậy, chúng ta thấy các yếu tố trên góp phần làm cho chi phí sinh hoạt tăng thêm quá nhiều từ năm này so với năm trước đó. Để giảm bớt những vấn đề về sai lệch Tổng cục thống kê đã định kỳ ra soát và sửa đổi bổ sung giỏ hàng dùng tính CPI.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 38 - 43)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)