Hàm tổng cầu và phương pháp xác định sản lượng cân bằng

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 76 - 87)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

4.1. TỔNG CẦU CỦA NỀN KINH TẾ

4.1.3. Hàm tổng cầu và phương pháp xác định sản lượng cân bằng

Tổng cầu (trong điều kiện tổng cung không hạn chế) chỉ ra cách thức quyết định mức giá và sản lƣợng của nền kinh tế. Hai biến số đƣợc tập trung nghiên cứu là tổng sản lƣợng hàng hóa, dịch vụ đƣợc đo bằng GDP thực tế và mức giá chung đƣợc đo bằng chỉ số điều chỉnh GDP hay chỉ số giá tiêu dùng CPI.

Tổng cầu là tổng sản lượng trong nước mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.

Tổng cầu trong một nền kinh tế mở bao gồm 4 nguồn: tiêu dùng, đầu tƣ, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu ròng. Lƣợng tổng cầu tại mỗi mức giá nhất định chính là tổng của tiêu dùng, đầu tƣ, chi tiêu Chính phủ và xuất khẩu ròng tại mức giá đó. Có thể cho rằng tổng cầu nhƣ là tổng chi tiêu của bốn khu vực của nền kinh tế: các hộ gia đình mua hàng tiêu dùng, các doanh nghiệp và hộ gia đình mua hàng đầu tƣ, Chính phủ mua hàng hóa và dịch vụ công, và thế giới bên ngoài mua xuất khẩu ròng.

AD = Y = C + I + G + NX (4.1) 4.1.3.1. Tổng cầu trong nền kinh tế giản đơn

Bắt đầu nghiên cứu tổng cầu với một nền kinh tế giản đơn chỉ bao gồm hai khu vực là hộ gia đình và doanh nghiệp. Tổng cầu là toàn bộ số lƣợng hàng hóa, dịch vụ mà các hộ gia đình và các doanh nghiệp dự kiến chi tiêu, tương ứng với mức thu nhập của họ.

AD = C + I (4.2)

Tiêu dùng phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập, đầu tƣ phụ thuộc chủ yếu vào lãi suất. Do vậy, chúng ta sẽ xem xét từng nhân tố.

a. Hàm tiêu dùng

Khái niệm tiêu dùng: Tiêu dùng là toàn bộ chi tiêu của dân cƣ về hàng hoá và dịch vụ cuối cùng.

Tiêu dùng của dân cƣ phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

- Phụ thuộc vào tiền lương và tiền công

- Phụ thuộc vào của cải hay tài sản, bao gồm cả tài sản thực và tài sản tài chính.

- Những yếu tố xã hội như tâm lý, tập quán, thói quen chi tiêu của người tiêu dùng.

- Cơ cấu của tiêu dùng thay đổi khi khi thu nhập thay đổi.

Mối quan hệ giữa tiêu dùng và thu nhập khả dụng được gọi là hàm tiêu dùng.

Đối với mô hình kinh tế giản đơn, thu nhập khả dụng bằng thu nhập. Trong trường hợp đơn giản nhất, hàm tiêu dùng có dạng sau:

(4.3)

Y: Là thu nhập và trong mô hình giản đơn thu nhập bằng với thu nhập khả dụng YD (Y = YD).

: tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập (có thể gọi là tiêu dùng tối thiểu) MPC: xu hướng tiêu dùng cận biên (0 < MPC < 1)

* Xu hướng tiêu dùng cận biên (Marginal Propensity to Consume – MPC): Biểu thị mối quan hệ gia tăng tiêu dùng và sự gia tăng thu nhập

Chỉ tiêu thể hiện lượng tiêu dùng tăng lên khi thu nhập tăng lên 1 đơn vị và ngược lại được gọi là xu hướng tiêu dùng cận biên. ( 0 < MPC < 1).

Trong đó: ΔC: sự thay đổi của tiêu dùng

ΔYD: Sự thay đổi của thu nhập khả dụng

* Hàm tiết kiệm:

Tiết kiệm: Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi đã tiêu dùng.

Do S = Y – C

 (4.4)

* Xu hướng tiết kiệm cận biên (Marginal Propensity to Saving – MPS)

Chỉ tiêu thể hiện lượng tiết kiệm tăng lên khi thu nhập tăng lên 1 đơn vị và ngược lại được gọi là xu hướng tiết kiệm cận biên. ( 0 < MPS < 1).

Trong đó: ΔS: sự thay đổi của tiết kiệm

Do thu nhập khả dụng chỉ có thể sử dụng cho tiêu dùng hay để tiết kiệm nên tổng của xu hướng tiêu dùng cận biên và xu hướng tiết kiệm cận biên luôn bằng 1.

MPC + MPS = 1 (4.5)

Giả sử xu hướng tiêu dùng cận biên là 0,8 có nghĩa là nếu thu nhập tăng lên 1 triệu đồng, người dân có xu hướng tiêu dùng thêm 800.000đ (0,8triệu đồng) còn 200.000đ (0,2triệu đồng) họ sẽ giữ lại dưới dạng tiết kiệm.

* Đường tiêu dùng và đường tiết kiệm

Đường 450 thể hiện tiêu dùng bằng thu nhập, do vậy khi đường tiêu dùng cắt đường 450 thì tại đó thu nhập vừa đủ để trang trải chi tiêu cho tiêu dùng, khi đó tiết kiệm bằng 0. Hộ gia đình không có tích lũy cho tương lai nhưng cũng không phải đi vay hay dùng của cải đã tích lũy đƣợc để trang trải cho mức tiêu dùng hiện tại. Các nhà kinh tế thường gọi đó là “điểm vừa đủ” (YV). Bên dưới điểm vừa đủ là thu nhập nhỏ hơn chi tiêu nên tiết kiệm âm (đi vay). Còn bên trên điểm vừa đủ là thu nhập lớn hơn chi tiêu, do đó tiết kiệm dương.

b. Hàm đầu tư

Đầu tư thay đổi mạnh từ năm này qua năm khác và thường được coi là phụ thuộc âm vào lãi suất vì lãi suất đóng vai trò là chi phí đầu tƣ.

Tuy nhiên, trong mô hình giản đơn này, với giả định giá cả không thay đổi dẫn đến lãi suất không thay đổi, thuế là đã cho và đầu tƣ phụ thuộc chủ yếu vào sản lƣợng hay thu nhập, chúng ta tập trung vào mối quan hệ giữa tổng cầu và thu nhập quốc dân. Giả thiết mức đầu tƣ không liên quan đến mức thu nhập hiện tại của nền kinh tế. Giả thiết

C

S

Y

Y

Đường 450

C = + MPC*Y

S = - + MPS*Y 0

0 -

YV

Hình 4.2: Mối quan hệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm

này đƣa ra chủ yếu nhằm làm cho việc phân tích trở nên đơn giản hơn, tuy nhiên, nó cũng phản ánh quan điểm cho rằng đầu tư trước hết được quyết định bởi dự tính của doanh nghiệp về triển vọng kinh tế tương lai. Vì thế, mức đầu tư ít chịu ảnh hưởng bởi những điều đang diễn ra và cụ thể, nó ít bị ảnh hưởng bởi sản lượng và thu nhập hiện tại.

I = Ī (4.6)

c. Hàm tổng cầu và phương pháp xác định sản lượng cân bằng

AD = C + I

Sau khi đã nghiên cứu về hàm tiêu dùng và hàm đầu tƣ, hàm tổng cầu của nền kinh tế giản đơn đƣợc xác định nhƣ sau:

(4.7)

- Xác định sản lượng cân bằng

Với giả định tổng cung không hạn chế và sản lƣợng cân bằng đƣợc quyết định bởi tổng cầu, do vậy, thị trường đạt cân bằng ngắn hạn khi tổng cầu bằng đúng sản lƣợng thực tế sản xuất ra trong nền kinh tế.

AD = Y  ( + Ī) + MPC*Y = Y

=> (4.8)

Trong trạng thái cân bằng ngắn hạn, sản lƣợng sản xuất ra bằng đúng sản lƣợng mà các hộ gia đình cần để tiêu dùng và các doanh nghiệp cần để đầu tƣ. Dự kiến chi tiêu không bị thay đổi do thiếu hàng hóa. Ngƣợc lại, các doanh nghiệp cũng không sản xuất nhiều hơn mức có thể bán đƣợc.

Trạng thái cân bằng đạt được tại điểm trên đường tổng cầu thỏa mãn tổng cầu bằng tổng sản lượng. Đó chính là giao điểm của đường tổng cầu và đường 450. Giá trị tương ứng của tổng sản lượng tại trạng thái cân bằng ký hiệu là Y*. (Hình 4.3)

Ở đồ thị này cho biết với mức giá và tiền công không đổi, tổng cầu phụ thuộc vào sản lƣợng hay thu nhập nhƣ thế nào?

Để vẽ được đường tổng cầu, trước hết ta xác định đường tiêu dùng (C), sau đó tịnh tiến một đoạn bằng I. Đường thẳng thu được chính là đường biểu thị tổng cầu

Đường AD cắt đường 450 ở điểm nào, đó chính là điểm cân bằng của nền kinh tế (E), tại đó mức sản lƣợng cân bằng là Y0.

Nếu mức sản lƣợng < Y0, mọi mức sản lƣợng đều nhỏ hơn mức chi tiêu, thiếu hụt hàng hoá. Nếu sản lƣợng > Y0 thì sản lƣợng lớn hơn chi tiêu, dẫn đến dƣ thừa hàng hoá.

d. Số nhân chi tiêu

Xét một sự dịch chuyển lên trên của đường tổng cầu khi đầu tư tăng thêm 1 tỷ đồng. Rất dễ nhận ra sản lƣợng tăng 1 tỷ đồng khi các doanh nghiệp mua thêm 1 tỷ đồng hàng tƣ bản. Tuy nhiên, đó mới chỉ là bắt đầu. Phần thu nhập gia tăng này đƣợc phân phối cho các thành viên của nền kinh tế dưới dạng tiền lương cao hơn, tiền lãi nhiều hơn, và lợi nhuận cao hơn của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Với xu hướng tiêu dùng cận biên giả sử là 0,9, điều này sẽ làm cho cầu về hàng tiêu dùng tăng thêm một lƣợng là 0,9 x 1 = 900 triệu đồng. Hiệu ứng trong vòng 2 làm sản lƣợng và thu nhập tăng thêm 900 triệu đồng, rồi đến lƣợt chúng lại làm tăng tiêu dùng ở vòng 3 là 0,9 x 900 = 810 triệu đồng, và cứ thế liên tục. Trong ví dụ này, khi mọi sự gia tăng đƣợc tổng hợp lại, sự gia tăng đầu tƣ 1 tỷ sẽ làm cho sản lƣợng cân bằng tăng 10 tỷ.

Tổng hợp hiệu ứng của việc thay đổi đầu tƣ 1 tỷ đồng tới thu nhập cân bằng nhƣ sau:

Sự thay đổi ban đầu của đầu tƣ = 1 Sự thay đổi tiêu dùng trong vòng 2 = 0,9 Sự thay đổi tiêu dùng trong vòng 3 = 0,92 Sự thay đổi tiêu dùng trong vòng 4 = 0,93

………..

ΔY = (1 + 0,9 + 0,92 + 0,93 + …..)

Hay ΔY = 1

= 10 1 – 0,9

Quá trình khuyếch đại theo cấp số nhân cũng hoạt động tương tự theo chiều ngƣợc lại khi đầu tƣ giảm. Nếu đầu tƣ giảm 1 tỷ đồng thì sản lƣợng sẽ giảm 10 tỷ với MPC = 0,9. Mối quan hệ giữa sự thay đổi bất kỳ của tổng chi tiêu đầu tƣ và sự thay

Y AD, C

Hình 4.3: Sản lượng cân bằng trong nền kinh tế giản đơn A

C = + MPC*Y Đường 450

Y*

AD = ( + ) + MPC*Y

0

I =

đổi cuối cùng của thu nhập tạo ra đƣợc gọi là số nhân chi tiêu. Một sự gia tăng trong tiêu dùng cũng có ảnh hưởng hoàn toàn tương tự đến tổng cầu và sản lượng cân bằng.

Trong mô hình nền kinh tế giản đơn đang nghiên cứu, số nhân có dạng:

m = 1

= 1

(4.6)

1 – MPC MPS

Nói cách khác, số nhân chi tiêu trong nền kinh tế giản đơn chính là số nghịch đảo của xu hướng tiết kiệm cận biên.

Mô hình số nhân có nhiều ứng dụng trong nền kinh tế. Nằm trong vùng suy thoái, sản lƣợng chƣa đạt mức sản lƣợng tiềm năng, lúc này các doanh nghiệp dễ dàng tăng sản lƣợng, nhờ thu hút số công nhân thất nghiệp, làm cho tỷ lệ thất nghiệp giảm số lƣợng việc làm tăng. Khi sản lƣợng gần đạt hoặc bằng mức sản lƣợng tiềm năng, mô hình số nhân sẽ không có tác dụng hoặc tác dụng rất nhỏ. Các doanh nghiệp lúc này sẽ không thể tăng sản lƣợng khi tổng cầu tăng. Mọi tác động của tổng cầu sẽ chuyển sang tăng mức giá.

4.1.3.2. Tổng cầu trong nền kinh tế đóng

Chính phủ nên làm gì đó để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như khuyến khích đầu tư, xây dựng những con đường mới, tăng lương cho viên chức Nhà nước, giảm thuế cho người dân, hỗ trợ những ngành có khả năng xuất khẩu cao,… Tuy nhiên, Chính phủ có thể thực hiện những việc này nhƣ thế nào? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta bắt đầu xem xét xem Chính phủ có thể ảnh hưởng đến tổng cầu và do đó ảnh hưởng đến mức sản lượng cân bằng của nền kinh tế như thế nào. Dưới đây là hai cách mà Chính phủ có thể sử dụng đế ảnh hưởng đến nền kinh tế:

- Chính phủ thu thuế (Tax) và thực hiện các khoản chuyến giao thu nhập hay trợ cấp (Tr) nhằm thay đổi thu nhập của hộ gia đình. Chênh lệch giữa thuế và chuyển giao thu nhập gọi là thuế ròng (T = Tax – Tr), hay viết tắt là thuế, tức là phần Chính phủ thực thu đƣợc từ khu vực tƣ nhân.

- Chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ của Chính phủ (G) trực tiếp là nhân tố của tổng cầu. Nó bao gồm các khoản chi tiêu cho đầu tƣ nhƣ chi tiêu cho các dự án xây dựng đường sá, sân bay, công viên và các khoản chi cho tiêu dùng của Chính phủ như trả lương cho viên chức, các trang thiết bị cần thiết để duy trì hoạt động của bộ máy Chính phủ.

a. Chi tiêu của Chính phủ và tổng cầu

Khi Chính phủ mua sắm hàng hoá, dịch vụ, tổng cầu của nền kinh tế tăng lên.

AD = C + I + G

Không có lý do nào cho thấy chi tiêu Chính phủ biến thiên theo mức sản lƣợng và thu nhập. Do vậy, giả định rằng dự kiến chi tiêu Chính phủ là một số đƣợc ấn định trước.

Khi đó G =

Khi chưa tính đến thuế, tổng cầu trong trường hợp này sẽ là:

AD = + MPC*Y + Ī + = ( + Ī + ) + MPC*Y (4.9) Sử dụng điều kiện cân bằng của thị trường hàng hoá ta có: AD = Y ↔ ( + Ī + ) + MPC*Y = Y

↔ Y0 = 1

( + Ī + ) (4.10) 1 – MPC

↔ Y0 = m*( + Ī + )

Chi tiêu Chính phủ cũng có số nhân bằng số nhân của tiêu dùng và đầu tƣ. Khi trong nền kinh tế, tiêu dùng của hộ gia đình và các doanh nghiệp không thay đổi, một sự thay đổi nhỏ trong chi tiêu của Chính phủ có thể dẫn đến một sự thay đổi lớn trong sản lƣợng do tác động của số nhân chi tiêu.

b. Thuế và tổng cầu

Bởi vì tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập khả dụng của các cá nhân – lƣợng thu nhập còn lại sau khi đã nộp thuế - nên việc thu thuế của Chính phủ có ảnh hưởng đến tiêu dùng. Tổng thu nhập bằng tổng sản lƣợng, ký hiệu là Y. Thu nhập khả dụng đơn giản là tổng thu nhập trừ đi thuế ròng: YD= Y – T.

* Sản lượng cân bằng trong trường hợp thuế không phụ thuộc vào thu nhập.

Để đơn giản, trước tiên giả định thuế là một đại lượng cho trước. Nói cách khác, Chính phủ đã ấn định số thu từ thuế ngay từ đầu năm:

T =

Lúc này, tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào thu nhập khả dụng chứ không phải vào thu nhập. Hàm tiêu dùng khi này có dạng:

C = + MPC*YD = + MPC*(Y – ) (4.11) Và tổng cầu sẽ là:

AD = ( + Ī + ) + MPC*(Y – ) (4.12)

Sử dụng điều kiện cân bằng của thị trường hàng hoá, ta xác định được sản lƣợng cân bằng nhƣ sau:

Y = AD = ( + Ī + ) + MPC*(Y – )

↔ Y0 = - MPC

+ 1

( + Ī + ) (4.13)

1 - MPC 1 – MPC

Nếu đặt mt = - MPC

: số nhân về thuế 1 - MPC

→ Y0 = mt + m ( + Ī + ) - Mối quan hệ giữa các số nhân:

+ Số nhân về thuế và số nhân chi tiêu có dấu ngƣợc nhau. Số nhân về thuế mang dấu âm hàm ý thuế có tác động ngƣợc chiều với thu nhập và sản lƣợng. Khi thuế tăng lên, thu nhập và sản lƣợng giảm đi. Và ngƣợc lại, khi Chính phủ giảm thuế, thu nhập và sản lƣợng tăng lên.

+ Số nhân về thuế bao giờ cũng nhỏ hơn số nhân chi tiêu về giá trị tuyệt đối và nhỏ hơn MPC lần. Và ta có m + mt = 1

+ Số nhân ngân sách cân bằng: khi Chính phủ thu thêm một lƣợng thuế (Δ ) để chi tiêu thêm (Δ ) (tức là Δ = Δ ), thì sản lƣợng cân bằng sẽ tăng thêm một lƣợng đúng bằng lƣợng tăng thêm về thuế hoặc chi tiêu đó: ΔY* = Δ = Δ .

* Sản lượng cân bằng trong trường hợp thuế phụ thuộc vào thu nhập.

Giả thiết thuế tỷ lệ thuận với thu nhập và là một hàm của thu nhập có dạng nhƣ sau:

T = t.Y Với t là thuế suất.

Khi đó, thu nhập khả dụng:

YD = Y – t.Y = (1 - t)Y Và hàm tiêu dùng có dạng:

C = + MPC*YD = + MPC(1 - t)Y (4.14)

Sử dụng điều kiện cân bằng của thị trường hàng hoá, ta xác định được sản lượng cân bằng nhƣ sau: Y = AD = ( + Ī + ) + MPC(1 - t)Y

↔ Y0 = 1

( + Ī + ) (4.15) 1 – MPC(1 – t)

Nếu đặt m’ = 1 : số nhân chi tiêu của nền kinh tế đóng với thuế phụ thuộc vào thu nhập.

1 – MPC(1 – t) → Y0 = m’( + Ī + )

Trong trường hợp này, tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu Chính phủ có cùng một số nhân. Nói cách khác, trong nền kinh tế đóng, tác dụng của việc tăng chi tiêu Chính phủ đến sản lƣợng cân bằng giống nhƣ tác động của việc hộ gia đình tăng thêm chi tiêu và các doanh nghiệp tăng thêm đầu tƣ.

Biểu diễn tác động của thuế và chi tiêu Chính phủ tới tổng cầu:

Như vậy, thuế có 2 ảnh hưởng đối với tổng cầu

- Tại mỗi mức thu nhập quốc dân, thuế làm giảm thu nhập khả dụng và do đó, làm giảm tiêu dùng, từ đó làm dịch chuyển đường cầu xuống phía dưới.

- Khi mức thu thuế tỷ lệ thuận với thu nhập, thì số nhân trở nên nhỏ hơn (độ dốc của đường cầu nhỏ hơn). Bởi vì khi tổng thu nhập tăng lên 1 đơn vị, tiêu dùng tăng ít hơn trong trường hợp không có thuế do một phần thu nhập tăng lên được Chính phủ thu dưới dạng thuế.

Nếu không có thuế, khi đầu tƣ tăng lên 1 đơn vị, thu nhập cũng tăng 1 đơn vị, và nó làm tăng tiêu dùng bằng đúng xu hướng tiêu dùng cận biên. Sự gia tăng này của tiêu dùng sau đó lại làm tăng thu nhập quốc dân trong các vòng tiếp theo. Bây giờ với thuế suất là t, khi thu nhập tăng thêm 1 đơn vị, Chính phủ thu thuế thêm t đơn vị và thu nhập khả dụng chỉ tăng (1 – t) đơn vị. Do đó, sự gia tăng tiêu dùng khi có thuế nhỏ hơn với khi không có thuế.

4.1.3.3. Tổng cầu trong nền kinh tế mở

Cho đến nay các phân tích trên bỏ qua vai trò quan trọng của thương mại quốc tế.

Thương mại quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập quốc dân. Xuất khẩu mở rộng thị trường cho các nhà sản xuất trong nước, trong khi nhập khẩu lại thu hẹp thị trường cho hàng hóa của các nhà sản xuất trong nước. Do đó, xuất khẩu và nhập khẩu có ảnh hưởng đến tổng cầu theo những cách khác nhau.

Tổng cầu trong nền kinh tế khi này sẽ là: AD = C + I + G + X – IM

Đường 450

Y0 Y A

Hình 4.4: Sản lượng cân bằng của nền kinh tế đóng

AD = C + I + G

0 AD, C

AD = C + I

Y’0

A’

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 76 - 87)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)