Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm (Phương pháp chi tiêu)

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 33 - 36)

NỘI DUNG ÔN TẬP

CHƯƠNG 2: HẠCH TOÁN TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN

2.3. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GDP

2.3.2. Phương pháp xác định GDP theo luồng sản phẩm (Phương pháp chi tiêu)

2.3.2.1. Tiêu dùng của hộ gia đình (C)

Tiêu dùng của hộ gia đình bao gồm tổng giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của hộ gia đình mua trên thị trường để chi dùng phục vụ đời sống hàng ngày.

Như vậy GDP chỉ bao gồm những sản phẩm được giao dịch trên thị trường, còn các sản phẩm mà các hộ gia đình tự sản xuất để sử dụng thì bị bỏ sót không thể tập hợp đƣợc.

Chú ý: GDP chỉ bao gồm hàng hoá mới đƣợc sản xuất và bán ra. Hàng hoá mới là hàng hoá lần đầu tiên được giao dịch, mua bán trên thị trường.

2.3.2.2. Đầu tư (I)

Đầu tư bao gồm các hàng hóa được mua để dùng trong tương lai. Đầu tư chính là việc giảm tiêu dùng hiện tại, có tác dụng tái sản xuất mở rộng để tăng tiêu dùng trong tương lai. Đầu tư được chia thành: đầu tư cố định vào kinh doanh, đầu tư cố định vào nhà ở và đầu tƣ vào hàng tồn kho.

Đầu tƣ cố định vào kinh doanh là việc mua sắm nhà máy và thiết bị mới của doanh nghiệp. Đầu tƣ cố định vào nhà ở là việc mua nhà mới của hộ gia đình và người cho thuê nhà. Đầu tư vào hàng tồn kho là mức tăng tồn kho hàng hóa của doanh nghiệp (nếu hàng tồn kho giảm xuống, đầu tƣ vào hàng tồn kho mang dấu âm). Hàng tồn kho là những hàng hóa đƣợc giữ lại để sản xuất hay tiêu thụ sau này. Thực chất của hàng tồn kho là một loại tài sản lưu động. Nó là những vật liệu hay đầu vào của sản xuất sẽ đƣợc sử dụng trong chu kỳ sản xuất tiếp theo, hoặc các thành phẩm chờ để bán trong thời gian tới. Do chúng sẽ được tiêu thụ trong tương lai nên khi tính GDP, chúng đƣợc xếp vào khoản mục đầu tƣ.

Cần phân biệt khái niệm tổng đầu tƣ và đầu tƣ ròng.Tổng đầu tƣ là giá trị các tƣ liệu lao động chƣa trừ đi phần đã hao mòn trong quá trình sản xuất. Đầu tƣ ròng bằng tổng đầu tƣ trừ đi khấu hao tài sản cố định.

Trong tính toán GDP, chúng ta tính tổng đầu tƣ chứ không phải đầu tƣ ròng.

2.3.2.3. Chi tiêu của Chính phủ (G)

Chi tiêu của Chính phủ là những hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ, chính quyền địa phương mua. Chính phủ là một tác nhân kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế. Hàng năm các khoản chi tiêu của Chính phủ cho khu vực hành chính sự nghiệp của mình, chi tiêu cho xây dựng các cơ sở kết cấu hạ tầng vật chất cho nền kinh tế, xã hội và chi tiêu cho sự nghiệp phúc lợi xã hội rất lớn. Phần lớn các khoản chi tiêu này của Chính phủ đều được tính vào GDP. Song phải lưu ý, khi tính cần phải loại trừ ra:

Thứ nhất, những khoản thanh toán chuyển nhƣợng xã hội, ký hiệu là Tr bao gồm:

bảo hiểm xã hội, trợ cấp cho những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi

nương tựa, những người thuộc diện trợ cấp thất nghiệp, người có công với cách mạng

… Những khoản đã chi này lại không tương ứng với loại hàng hoá, dịch vụ nào mới đƣợc sản xuất ra trong nền kinh tế. Do đó không đóng góp gì vào GDP, nên không đƣợc tính.

Thứ hai, chi tiêu của nhà nước được tạo nguồn chủ yếu từ thuế (Tax), gồm hai loại cơ bản:

- Thuế gián thu (Te): là loại thuế gián tiếp tác động vào thu nhập, đối tƣợng chịu thuế và đối tƣợng nộp thuế là riêng biệt (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…)

- Thuế trực thu (Td): là loại thuế trực tiếp tác động vào thu nhập, đối tƣợng chịu thuế và đối tƣợng nộp thuế là một (thuế thu nhập cá nhân, thuế lợi tức…)

Song khi tính GDP theo cung trên, tức là theo phương pháp luồng sản phẩm chưa cần điều chỉnh gì về thuế vì trên thị trường những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã được tính thuế vào giá cả dưới hình thức thuế gián thu đánh vào hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng.

2.3.2.4. Xuất khẩu ròng (NX = X – IM)

Xuất khẩu ròng tính đến quan hệ buôn bán với các nước khác. Xuất khẩu ròng là giá trị hàng hóa, dịch vụ được xuất khẩu sang các nước khác (xuất khẩu – X) trừ đi giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người nước ngoài cung cấp cho nước ta (nhập khẩu – IM). Từ ròng thể hiện nhập khẩu đã đƣợc khấu trừ khỏi xuất khẩu. Việc khấu trừ này đƣợc thực hiện bởi vì nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đã nằm trong những thành tố khác của GDP. Ví dụ: một hộ gia đình mua một chiếc ôtô trị giá 500 triệu của doanh nghiệp General Motors, một nhà sản xuất ôtô của Mỹ. Giao dịch này làm tăng tiêu dùng một lƣợng là 500 triệu bởi vì khoản chi tiêu để mua chiếc xe này là một thành tố chi tiêu của người tiêu dùng. Nó cũng làm giảm xuất khẩu ròng đi 500 triệu bởi vì nó là hàng nhập khẩu. Nói cách khác, xuất khẩu ròng bao gồm các hàng hóa và dịch vụ đƣợc sản xuất ra ở nước ngoài (với dấu âm), bởi vì những hàng hóa và dịch vụ này đã nằm trong tiêu dùng, đầu tư và chi tiêu của Chính phủ (với dấu dương). Do vậy, khi hộ gia đình, doanh nghiệp hay Chính phủ mua hàng hóa hoặc dịch vụ từ nước ngoài, thì khoản chi tiêu đó làm giảm xuất khẩu ròng – song nó cũng làm tăng tiêu dùng, đầu tƣ hoặc chi tiêu của Chính phủ, nên nó hoàn toàn không ảnh hưởng đến GDP. Mặt khác, xuất khẩu ròng biểu thị phần chi tiêu ròng của nước ngoài để mua hàng hóa, dịch vụ của nước ta và làm tăng thu nhập của các nhà sản xuất trong nước.

Như vậy, công thức chung để xác định GDP theo phương pháp luồng sản phẩm (chi tiêu) nhƣ sau:

GDP = C + I + G + NX (2.6)

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 33 - 36)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)