Các yếu tố cấu thành tổng cầu

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 73 - 76)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

4.1. TỔNG CẦU CỦA NỀN KINH TẾ

4.1.2. Các yếu tố cấu thành tổng cầu

Toàn bộ thu nhập của khu vực hộ gia đình do cung cấp các yếu tố sản xuất đƣợc dành phần lớn để chi mua hàng hoá và dịch vụ cho đời sống (tiêu dùng), phần còn lại để dành tiết kiệm.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng và tiết kiệm của hộ gia đình.

Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng cá nhân, đó là thu nhập khả dụng cá nhân, thu nhập dự đoán và lãi suất.

- Thu nhập khả dụng cá nhân là tổng số thu nhập mà một cá nhân hoặc một hộ gia đình có thể sử dụng cho tiêu dùng và cho tiết kiệm.Thu nhập khả dụng của hộ gia đình đƣợc xác định bằng tổng số thu nhập của hộ gia đình bao gồm thu nhập từ lợi tức cho vay, cổ tức, tiền cho thuê các yếu tố sản xuất kinh doanh, tiền lương, tiền trợ cấp (trợ cấp nghỉ hưu, thất nghiệp, khó khăn, học bổng ..v.v..) sau đó trừ đi khoản thuế thu nhập cá nhân và bảo hiểm xã hội. Thu nhập khả dụng đƣợc sử dụng vào hai mục đích:

tiêu dùng và tiết kiệm.

- Tiết kiệm là phần còn lại của thu nhập khả dụng sau khi trừ đi tiêu dùng. Khi sử dụng lƣợng thực phẩm, quần áo hoặc đi xem phim chúng ta đã tiêu dùng sản phẩm của nền kinh tế. Do đó, thu nhập khả dụng YD tăng thì tiêu dùng (C) tăng và tiết kiệm (S) tăng. Ngoài ra, khi thu nhập dự đoán tăng thì chi tiêu cũng tăng.

Trong khi đó, lãi suất lại có xu hướng biến động ngược chiều với tiêu dùng. Lãi suất cao thì chi tiêu tiêu dùng giảm. Bởi vì, lãi suất cao sẽ không khuyến khích chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình đặc biệt là các khoản chi tiêu trả góp, trái lại nó khuyến khích tiết kiệm. Ngƣợc lại, với mức lãi suất thấp hơn thì các hộ gia đình có khuynh hướng chi tiêu nhiều hơn.

AD

P

Y Hình 4.1: Đường tổng cầu theo giá

4.1.2.2. Đầu tư

Nhân tố quan trọng thứ hai của tổng cầu là đầu tƣ. So với tiêu dùng, đầu tƣ chiếm tỷ trọng khiêm tốn hơn. Trong những năm gần đây, đầu tư thường chiến tỷ trọng khoảng 35% GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, đầu tƣ biến động rất mạnh trong chu kỳ kinh doanh. Nhìn chung, đầu tư giảm ngay trước khi và trong thời kỳ suy thoái và có xu hướng tăng lên vào đầu thời kỳ tăng trưởng.

Đầu tư đƣợc định nghĩa là sự sản xuất ra vốn vật chất nên những thay đổi nguồn vốn là một yếu tố quan trọng quyết định tốc độ tăng trưởng và hướng đi tương lai cho nền kinh tế.

Đầu tƣ là một đề tài quan trọng trong kinh tế vĩ mô vì mặc dù tiêu dùng là phần lớn nhất của tổng cầu, nhƣng hầu hết những thay đổi về giá trị GDP là do những thay đổi về đầu tƣ trong chu kỳ kinh doanh.

Đầu tƣ là một bộ phận lớn hay thay đổi trong tổng chi tiêu. Đầu tƣ có hai vai trò trong kinh tế vĩ mô.

(1) Về ngắn hạn: Đầu tƣ là một bộ phận lớn của chi tiêu và hay thay đổi. Những thay đổi thất thường của đầu tư có ảnh hưởng lớn tới thu nhập và sản lượng về mặt ngắn hạn.

(2) Về dài hạn: Đầu tƣ dẫn đến tích tụ tƣ bản, có tác dụng mở rộng năng lực sản xuất. Vì vậy về mặt dài hạn nó làm tăng sản lượng tiềm năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Vì vậy, đầu tƣ là để các doanh nghiệp mong đợi đƣợc lợi nhuận lớn hơn trong tương lai. Do vậy, cầu về đầu tư phụ thuộc rất lớn vào 3 yếu tố sau đây:

- Mức cầu về sản phẩm do đầu tư mới tạo ra, nói cách khác đó là mức cầu về sản lượng (GNP) trong tương lai. Nếu mức cầu về sản phẩm càng lớn, thì dự kiến đầu tư của các doanh nghiệp càng cao và ngƣợc lại.

- Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đầu tư. Trong nền kinh tế thị trường để kinh doanh, doanh nghiệp có thể vay vốn ngân hàng, hoặc các trung gian tài chính để đầu tƣ nên chi phí đầu tƣ phụ thuộc nhiều vào lãi suất. Trên thực tế có nhiều mức lãi suất khác nhau. Chẳng hạn nhƣ lãi suất phải trả đối với các tài khoản ngân hàng, lãi suất phải trả đối với các trái phiếu công ty cũng nhƣ lãi suất trên trái phiếu Chính phủ. Sự khác nhau của các mức lãi suất có thể do bởi nhiều yếu tố nhƣ thời hạn cho vay hay mƣợn, qui mô giao dịch và có lẽ quan trọng hơn hết là mức độ xảy ra rủi ro.

Khi đầu tƣ nguồn vốn có thể đƣợc tài trợ từ quỹ riêng hoặc vay mƣợn. Bất luận dự án đầu tư được tài trợ bằng phương thức nào, mức lãi suất cũng là một phần chi phí cơ hội của dự án đó. Tiền trả lãi cho khoản tiền vay là chi phí trực tiếp.Tiền lãi mà một doanh nghiệp bị mất khi sử dụng lợi nhuận không phân phối để tài trợ cho dự án riêng của mình thay vì dùng để cho vay đƣợc gọi là chi phí cơ hội. Mức lãi suất càng thấp thì chi phí cơ hội của dự án càng thấp, càng có nhiều dự án đầu tƣ mang lại lợi nhuận

và vì vậy mức đầu tƣ sẽ gia tăng. Lãi suất cao thì chi phí đầu tƣ cao, lợi nhuận giảm và do vậy cầu về đầu tƣ sẽ giảm.

Thuế cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đầu tư. Nếu thuế đánh vào thu nhập của doanh nghiệp cao thì sẽ hạn chế số lƣợng và quy mô của đầu tƣ vì thu nhập còn lại của doanh nghiệp sẽ thấp. Để phát triển đầu tƣ thì Chính phủ phải có chính sách thuế phù hợp.

- Dự đoán của các doanh nghiệp kinh doanh về tình trạng của nền kinh tế trong tương lai. Vì đầu tƣ bao gồm các khoản mà các doanh nghiệp dự định bổ sung vào tài khoản cố định và hàng tồn kho (dự trữ) để sản xuất và bán trong tương lai dẫn đến nhu cầu đầu tư phụ thuộc rất lớn vào dự đoán của họ về tình hình kinh tế tăng trưởng đến mức độ nào trong tương lai.

4.1.2.3. Chi tiêu của Chính phủ (G):

Chi tiêu Chính phủ là các khoản chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ do khu vực Chính phủ thực hiện. Chi tiêu Chính phủ có thể phân ra làm hai loại.

- Triệt để: những khoản chi tiêu có thể tận dụng đƣợc các nguồn lực, ví dụ xây một tòa nhà quốc hội.

- Không triệt để: những khoản chi tiêu không tận dụng đƣợc các nguồn lực nhƣng chuyển các nguồn vốn từ nơi này đến nơi khác (ví dụ: các khoản chi cho thất nghiệp hay chi cho phúc lợi).

Những khoản chi tiêu không toàn diện đƣợc xem nhƣ những khoản chuyến giao thu nhập hay trợ cấp (Tr) và không đƣợc tính trong chi tiêu Chính phủ vì chúng đã đƣợc tính trong các khoản chi tiêu tiêu dùng. Điều này giúp tránh đƣợc việc tính hai lần.

4.1.2.4. Xuất khẩu ròng (NX) a. Xuất khẩu

Xuất khẩu chịu sự tác động bởi 5 nhân tố chính là GDP của nước ngoài, mức độ chuyên môn hoá sản xuất toàn cầu, giá tương đối của hàng hoá được sản xuất trong nước và hàng hoá tương tự ở nước ngoài, tỷ giá hối đoái, và chính sách của Chính phủ.

- GDP thực của các nước khác trên thế giới càng cao thì cầu hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra trong nước càng lớn.

- Mức độ chuyên môn hoá sản xuất trong nền kinh tế toàn cầu càng cao, qui mô xuất khẩu của từng nước càng lớn với giả thiết là các nhân tố khác không đổi.

- Nếu giá của một hàng hoá sản xuất ở một nước càng thấp tương đối so với giá của hàng hoá đó ở nước ngoài thì sẽ có nhiều khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Kết quả tương tự cũng xảy ra khi đồng tiền một nước có giá trị so với đồng tiền của các nước khác trên thế giới.

b. Nhập khẩu

Nhập khẩu phụ thuộc vào 4 nhân tố: GDP thực trong nước, mức độ chuyên môn hoá sản xuất toàn cầu, giá tương đối của hàng hoá ở nước ngoài và hàng hoá tương tự được sản xuất trong nước, tỷ giá hối đoái.

- Giả sử những nhân tố khác không đổi, GDP thực trong nước càng cao thì lượng nhập khẩu càng lớn. Điều này có thể giải thích là khi GDP thực tăng thì thu nhập khả dụng cũng tăng. Người tiêu dùng sẽ mua nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn kể cả hàng hoá nhập khẩu.

- Mức độ chuyên môn hoá sản xuất của từng nước càng cao thì nhập khẩu của từng nước càng tăng.

- Giá hàng hoá được sản xuất ra ở một nước cao tương đối so với giá hàng hoá tương tự được sản xuất ra ở các nước khác và giá trị của đồng tiền một nước càng cao, nhập khẩu của nước đó sẽ tăng.

- Chính sách của một Chính phủ nhƣ hàng rào thuế quan, bảo hộ sản xuất cũng có ảnh hưởng đến nhập khẩu và xuất khẩu.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 73 - 76)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)