CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 1. Thuế quan

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 190 - 193)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

CHƯƠNG 7: KINH TẾ VĨ MÔ CỦA NỀN KINH TẾ MỞ

7.3. CÁC CÔNG CỤ CHỦ YẾU TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI 1. Thuế quan

Thuế quan là những khoản tiền tệ mà người chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện của nước sở tại.

- Thuế quan phân thành 3 loại:

+ Thuế quan xuất khẩu (hiện ít đƣợc sử dụng vì nó sẽ làm hạn chế quy mô xuất khẩu của hàng hoá).

+ Thuế quan nhập khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc nhận được.

+ Thuế quan quá cảnh áp dụng với các quốc gia có điều kiện, vị trí đặc biệt thực hiện các nghiệp vụ trung chuyển hàng hoá (tái xuất khẩu và chuyển khẩu).

- Tác động của thuế quan:

Thuế quan tăng -> giá cả hàng hoá ngoại thương tăng lên -> cầu hàng hoá ngoại thương giảm xuống (cầu hàng hoá nội địa tăng lên) -> cung hàng hoá ngoại thương cũng giảm xuống (cung hàng hoá nội địa tăng lên). Và ngƣợc lại...

- Cách tính thuế quan khác nhau (ví dụ tính thuế quan nhập khẩu):

+ Phương pháp tính thuế quan theo đơn vị vật chất của hàng hoá nhập khẩu:

P1 = P0 + TS

Trong đó: P0 là giá cả hàng hoá trước thuế nhập khẩu.

TS là thuế quan tính theo đơn vị hàng hoá.

P1 là giá cả hàng hoá sau thuế nhập khẩu.

+ Phương pháp tính thuế quan theo giá trị hàng hoá là mức thuế tính theo tỷ lệ phần trăm (%) của mức giá hàng hoá trả cho nhà xuất khẩu ngoại quốc:

P1 = P0 (1 + t) Trong đó: P0: là thuế nhập khẩu.

TS: là giá cả hàng hoá sau thuế nhập khẩu t: là tỷ lệ % thuế đánh vào giá hàng.

+ Phương pháp tính thuế quan hỗn hợp là thuế quan vừa tính theo một tỷ lệ phần trăm so với giá trị hàng hoá vừa cộng với mức thuế tính theo một đơn vị vật chất của hàng hoá. Có trường hợp thuế quan tính theo tỷ lệ phần trăm của mức giá hàng hoá

được bán ở thị trường trong nước P1 chứ không tính theo P0. Có thể dùng phép số học để chuyển hoá giữa hai hình thức thuế quan nói trên.

7.3.2. Các hàng rào phi thuế quan 7.3.2.1. Hạn ngạch (Quota)

Hạn ngạch là quy định của Nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập khẩu từ một thị trường trong một thời gian nhất định (thường là một năm) thông qua hình thức cấp giấy phép (quota xuất khẩu khẩu). Đây là một công cụ phổ biến trong hàng rào phi thuế quan.

Thông thường hạn ngạch nhập khẩu phổ biến hơn hạn ngạch xuất khẩu bởi quốc gia nào cũng muốn xuất khẩu để bán hàng và thu ngoại tệ...

- Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho Chính phủ và không có tác dụng hỗ trợ các loại thuế khác. Hạn ngạch có thể đem lại lợi nhuận rất lớn cho những người xin đƣợc cấp giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch.

- Hạn ngạch nhập khẩu có thể biến một doanh nghiệp trong nước thành một nhà độc quyền. Có thể tránh tình trạng này bằng cách bán đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch.

7.3.2.2. Giấy phép (Licence)

Đây là hình thức cơ quan có thẩm quyền cho phép các nhà kinh doanh đƣợc xuất hoặc nhập khẩu. Công cụ này có hiệu lực mạnh hơn so với thuế quan nhƣng thuộc nhóm hạn chế phi thuế quan, nên xu hướng chung là các nước dần dần ít sử dụng.

Các loại giấy phép:

- Giấy phép chung: chỉ quy định tên hàng và thị trường không hạn chế định lƣợng và không ghi rõ địa chỉ doanh nghiệp cấp.

- Giấy phép riêng: cấp riêng cho từng nhà kinh doanh, ghi rõ số lƣợng, giá trị, thị trường và mặt hàng cụ thể.

Ngoài ra, còn có các hình thức khác nhƣ giấy phép có điều kiện, giấy phép đổi hàng, giấy phép ƣu tiên.

7.3.2.3. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary export restraint - VER)

Đây là một hình thức của hàng rào mậu dịch phi thuế quan. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu, mà theo đó, một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “tự nguyện”, nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết.

Hình thức này thường được áp dụng cho các quốc gia có lượng xuất khẩu quá lớn ở một số mặt hàng nào đó.

7.3.2.4. Trợ cấp xuất khẩu (Export subsidise)

Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thập đối với các nhà xuất khẩu trong nước. Bên cạnh đó, Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với các bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất và để xuất khẩu ra bên ngoài.

Đây là chính sách tín dụng “viện trợ” mà Chính phủ các nước công nghiệp phát triển áp dụng khi cho các nước đang phát triển vay (thường kèm theo các điều kiện chính trị).

7.3.2.5. Tín dụng xuất khẩu (Export Credits)

Đây là hình thức khuyến khích xuất khẩu bằng cách Nhà nước lập các quỹ tín dụng xuất khẩu hỗ trợ cho hệ thống ngân hàng thương mại, bảo đảm gánh vác rủi ro nhằm tăng cường tín dụng cho hoạt động xuất khẩu và thông qua đó thúc đẩy hoạt động xuất khẩu.

7.3.2.6. Bán phá giá (Dumping)

Theo hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADA) đặt ra tiêu chí xác định việc bán phá giá. Một hàng hóa đƣợc xác định là bán phá giá trên cơ sở xác định giá trị thông thường bằng 3 cách sau:

- Căn cứ vào giá bán của sản phẩm đó tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu.

- Căn cứ vào giá bán của nước xuất khẩu tại một nước khác.

- Căn cứ vào tổng hợp giá thành sản xuất, các chi phí có liên quan cùng với lợi nhuận tối thiểu của nhà sản xuất và xuất khẩu.

Hành vi chống bán phá giá là hành vi đánh thuế nhập khẩu bổ sung đối với một loại hàng hóa cụ thể từ một nước xuất khẩu nào đó, nhằm cân bằng giữa giá hàng nhập khẩu và giá trị thực của nó, nhằm giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất trong nước tại nước nhập khẩu.

7.3.2.7. Phá giá tiền tệ (Exchange Dumping)

Hay còn gọi là phá giá hối đoái: là hình thức biến tướng của phá giá. Đặc điểm của biện pháp này là thông qua các thủ thuật tác động vào tỷ giá hối đoái làm cho đồng tiền nội tệ mất giá so với một, một nhóm hoặc tất cả các đồng tiền ngoại tệ để hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn khi tính bằng ngoại tệ và do vậy có lợi thế cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường nước ngoài.

7.3.2.8. Một số biện pháp khác

Ngoài các biện pháp nêu trên, chính sách thương mại còn sử dụng một số biện pháp sau đây:

- Hệ thống thuế nội địa: nhƣ thuế thu nhập, thuế lợi tức, VAT...

- Cơ quan quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Ví dụ hạn chế bán ngoại tệ cho nhà nhập khẩu để hạnh chế nhập khẩu, hỗ trợ SX trong nước.

- Độc quyền mua bán: thực hiện biện pháp này sẽ tăng khả năng kiểm soát các doanh nghiệp và việc xuất - nhập khẩu của các doanh nghiệp.

- Quy định về chứng thƣ khi làm thủ tục xuất nhập khẩu: nhƣ xuất xứ sản phẩm, kiểm định, kiểm dịch... đây coi nhƣ hàng rào kỹ thuật để kiểm soát xuất nhập khẩu.

- Thưởng xuất khẩu: Nhà nước sử dụng quỹ thưởng xuất khẩu để thưởng cho những nhà xuất khẩu đạt tiêu chí xét thưởng nhằm khuyến khích xuất khẩu...

- Đặt cọc nhập khẩu: Chính phủ nước nhập khẩu có thể quy định chủ hàng nhập khẩu phải đặt cọc một khoản tiền nhất định nếu muốn nhận giấy nhập khẩu.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 190 - 193)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)