VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
CHƯƠNG 6: LẠM PHÁT VÀ THẤT NGHIỆP
6.1.4. Nguyên ngân gây ra lạm phát
Lạm phát là sự tăng giá chung của toàn bộ nền kinh tế và các yếu tố đƣa đến giá lại rất đa dạng, phức tạp và mức độ tác động của chúng có thể rất khác nhau tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của một nền kinh tế trước và trong quá trình xảy ra lạm phát. Vì
vậy phần này chúng ta sẽ đề cập đến một số lý thuyết và quan điểm nhằm lý giải những nguyên nhân gây ra và duy trì thúc đẩy lạm phát.
a. Lạm phát do cầu kéo
Đây chính là hậu quả của việc ấn định chỉ tiêu thất nghiệp quá thấp. Một chỉ tiêu thất nghiệp quá thấp, tương ứng với một chỉ tiêu sản lượng quá cao. Chính phủ làm tăng tổng cầu, dịch chuyển đường tổng cầu sang phải, trong khi đó các đường AS dịch chuyển sang trái và hậu quả là làm tăng liên tục mức giá
Nhƣ vậy bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hạn chế về hàng hoá có thể sản xuất được trong điều kiện thị trường lao động đạt cân bằng.
Hình 6.1 cho thấy, khi sản lượng vượt tiềm năng, đường AS có độ dốc lớn khi cầu tăng mạnh, đường AD dịch chuyển lên trên (AD1), giá cả tăng nhanh từ P0 đến P1.
b. Lạm phát do chi phí đẩy
Nguyên nhân do các cơn sốt giá hàng hóa đầu vào làm tăng chi phí sản xuất, đẩy đường cung dịch chuyển sẽ làm giá cả tăng lên.
Các cơn sốc giá cả của thị trường đầu vào - đăc biệt là các vật tư cơ bản (xăng dầu, điện…) là nguyên nhân chủ yếu đẩy chi phí lên cao, đường AS dịch chuyển lên trên.
Tuy tổng cầu không thay đổi nhƣng giá cả đã tăng lên và sản lƣợng lại giảm xuống.
Giá cả sản phẩm trung gian (vật tư) tăng đột biến thường do các nguyên nhân sau: thiên tai, chiến tranh, sự biến động chính trị, kinh tế… Đặc biệt sự biến động giá dầu lửa do OPEC tạo ra những năm 1970 đã gây ra các cuộc lạm phát đình trệ trầm trọng trên quy mô thế giới.
Hình 6.2 cho thấy, khi các cú sốc giá cả của thị trường đầu vào làm cho đường AS0 dịch chuyển dịch chuyển lên trên (AS1), đường tổn cầu không thay đổi nhƣng giá cả tăng nhanh từ P0 đến P1 và sản lƣợng giảm từ Y0 đến Y1.
Hình 6.1: Lạm phát do cầu kéo
P1 P0
AD0
Y1
P AS
Y
LAS
Y*
AD1
Hình 6.2: Lạm phát do chi phí đẩy
P1 P0
AD Y1
AS0
P
Y
LAS
Y*
AS1
Y0
Ngoài ra sụt giảm của tổng cung có thể còn do năng lực sản xuất của nền kinh tế giảm, do sự gia tăng của tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tác động này làm cho đường AS dịch chuyển sang trái cùng với mức giảm của sản lƣợng tiềm năng.
c. Lạm phát dự kiến
Khi mà giá cả chung của các hàng hóa và dịch vụ tăng đều đều với một tỷ lệ tương đối ổn định, tức là giá cả chung tăng liên tục đều đặn theo thời gian. Mọi hoạt động kinh tế sẽ trông đợi và ngắm vào nó để tính toán điều chỉnh (ví dụ điều chỉnh lãi suất danh nghĩa, tiền lương danh nghĩa, giá cả trong các hợp đồng kinh tế, các khoản chi, tiêu ngân sách…)
Hình 6.3 cho thấy lạm phát dự kiến xảy ra như thế nào. Đó là đường AD và AS dịch chuyển lên trên cùng một tốc độ. Vì lạm phát đã đƣợc dự kiến trên chi phí sản xuất (gồm cả tiền lương) và nhu cầu chi tiêu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tốc độ lạm phát. Nhƣ vậy, sản lƣợng vẫn đƣợc giữ nguyên nhƣng giá cả đã tăng lên theo dự kiến
Tỷ lệ lạm phát dự kiến một khi đã hình thành thì trở nên ổn định và tự duy trì trong 1 thời gian. Những cú sốc mới trong nền kinh tế (có thể từ trong nước hoặc từ nước ngoài) sẽ đẩy lạm phát khỏi trạng thái ì
d. Siêu lạm phát
Có một số điều kiện cơ bản gây ra siêu lạm phát. Thứ nhất, các hiện tƣợng này chỉ xuất hiện trong các hệ thống sử dụng tiền pháp định. Thứ hai, nhiều cuộc siêu lạm phát đã có xu hướng xuất hiện trong thời gian sau chiến tranh, nội chiến hoặc cách mạng, do sự căng thẳng về ngân sách Chính phủ. Vào những năm 80, các cú sốc bên ngoài và cuộc khủng hoảng nợ của thế giới thứ ba đã đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra siêu lạm phát ở một số nước Mỹ la tinh.
Đặc điểm chung trong mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trong cung tiền, điều này bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụt ngân sách quá
Y*
Hình 6.3: Lạm phát dự kiến
Y
P1
P0
AD1
AD0
P LAS AS2
AS1
AS0
AD2 P2
lớn. Hơn nữa, khi lạm phát cao đã bắt đầu, tình hình thâm hụt ngân sách có thể trở nên không thể kiểm soát đƣợc, lạm phát cao dẫn đến giảm mạnh nguồn thu từ thuế tính theo % so với GDP mà điều này đến lƣợt nó lại làm tăng thâm hụt ngân sách và dẫn đến lạm phát cao hơn. Dựa trên bằng chứng lịch sử, dường như thâm hụt ngân sách kéo dài đƣợc tài trợ bằng phát hành tiền trong khoảng 10 – 12% của GDP sẽ gây ra siêu lạm phát.
* Quan hệ giữa lạm phát và tiền tệ
Trong chương 5 nghiên cứu lý thuyết tiền tệ và đã biết dạng thức MS=MD (i,Y) khi thị trường tiền tệ cân bằng.
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) sản lƣợng thực tế (Y) đạt mức cân bằng, nghĩa là (i) và (Y) là ổn định (Y đạt tiềm năng), cầu tiền thực tế là không đổi và do vậy MS cũng sẽ không thay đổi. Điều đó có nghĩa là nếu lƣợng cung tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả (P) cũng sẽ tăng với tỷ lệ tương ứng, nói cách khác tỷ lệ lạm phát sẽ bằng tỷ lệ tăng tiền. Nhƣ vậy, lạm phát là một hiện tƣợng tiền tệ. Điều này xảy ra trong thực tế khi nền kinh tế gặp phải cơn sốc (ví dụ giá đầu vào tăng lên) làm cho lƣợng tiền thực tế nhất thời giảm xuống. Chính phủ cần phải tăng mức cung tiền danh nghĩa để đảm bảo nhu cầu thực tế. Nhƣng vì sản lƣợng và việc làm không đổi, lãi suất thực tế cũng không đổi, chỉ có mức cung tiền danh nghĩa, giá cả cũng như tiền lương danh nghĩa tăng lên. Lý thuyết này dựa trên giả định mức cầu tiền thực tế không đổi, một giả định chƣa có cơ sở chắc chắn và chƣa phù hợp với thực tế. Kết quả nghiên cứu trong thời kỳ dài hạn (30 năm) ở nhiều nước phát triển đã chỉ ra rằng sự thay đổi của lãi suất và thu nhập đã dẫn đến cầu tiền thực tế thay đổi. Vì vậy tốc độ tăng tiền danh nghĩa và tốc độ lạm phát rất khác nhau giữa các nước. Tốc độ tăng tiền ở Mỹ là thấp nhất trong các nước phát triển nhưng tốc độ lạm phát còn cao hơn một số nước. Tốc độ tăng tiền của Nhật Bản gấp đôi của Pháp nhƣng tốc độ lạm phát lại thấp hơn của Pháp.
Tuy nhiên lịch sử lạm phát cũng chỉ ra rằng, không có cuộc lạm phát cao nào mà không có sự tăng trưởng mạnh mẽ về tiền tệ. Lượng tiền tăng càng nhanh thì lạm phát càng cao và bất kỳ một chính sách vĩ mô nào giảm đƣợc tốc độ tiền cũng dẫn đến giảm tỷ lệ lạm phát và điều này đặc biệt phù hợp với thời kỳ ngắn hạn.
Khi ngân sách thâm hụt lớn các Chính phủ có thể in thêm tiền để trang trải, lƣợng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân gây ra lạm phát (nhƣ lạm phát cầu kéo). Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới lại nảy sinh đòi hỏi phải in thêm một lƣợng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm phát xoáy ốc này thường xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên các Chính phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dần qua bán tín phiếu. Lƣợng tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhƣng nếu thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho
dân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc chắn.
* Quan hệ giữa lạm phát và lãi suất
Lãi suất thực tế thường ít thay đổi và ở mức mà cả người cho vay và người đi vay đều có thể chấp nhận đƣợc. Nếu khác đi sẽ tạo ra mức dƣ cầu hoặc dƣ cung và sẽ đẩy lãi suất này về mức ổn định, Nhƣng lãi suất danh nghĩa lại biến động theo lạm phát. Khi lạm phát thay đổi lãi suất danh nghĩa để duy trì lãi suất thƣc tế ở mức ổn định. Vậy lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát. Khi tỷ lệ lạm phát tăng lên, lãi suất danh nghĩa tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt. Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mặt giá càng giảm nhanh, tăng mức độ gửi tiền vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trường để mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên thị trường hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.