Các công cụ điều tiết cung tiền của ngân hàng Trung ƣơng

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 127 - 130)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

5.3. HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

5.3.5. Các công cụ điều tiết cung tiền của ngân hàng Trung ƣơng

Một trong những chức năng quan trọng của NHTW là kiểm soát lƣợng tiền cung ứng. Các quyết định đƣợc đƣa ra bởi các nhà hoạch định chính sách có liên quan đến cung tiền được gọi là chính sách tiền tệ. Thông qua nghiệp vụ thị trường mở, các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu, NHTW có khả năng kiểm soát cung tiền và các điều kiện tín dụng của một quốc gia.

a. Nghiệp vụ thị trường mở

NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trường mở khi nó mua hoặc bán trái phiếu Chính phủ. Khi mua trái phiếu Chính phủ, NHTW phải trả cho những người bán trái phiếu một lƣợng tiền bằng đúng giá trị của các trái phiếu Chính phủ mua vào. Do đó, tiền cơ sở tăng lên một lượng tương ứng. Do tiền cơ sở tăng, cung tiền của nền kinh tế sẽ tăng. Ngược lại, khi NHTW bán trái phiếu Chính phủ, những người mua trái phiếu sẽ phải trả một khoản tiền tương ứng cho NHTW. Kết quả là một lượng tiền tương ứng sẽ bị rút khỏi lưu thông, tức tiền cơ sở giảm và làm giảm cung tiền trong nền kinh tế.

Cần lưu ý rằng, chỉ khi NHTW mua hoặc bán trái phiếu Chính phủ mới làm thay đổi tiền cơ sở. Hoạt động mua bán trái phiếu của các NHTM không làm thay đổi tiền cơ sở do vậy không làm thay đổi cung tiền nếu tỷ lệ dự trữ và tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi không đổi.

Bên cạnh nghiệp vụ thị trường mở, NHTW đôi khi còn mua hoặc bán ngoại tệ nhằm tác động tới tỷ giá hối đoái. Các hoạt động trên thị trường ngoại hối này cũng có tác động tới tiền cơ sở tương tự như mua bán trái phiếu Chính phủ.

b. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lượng tiền mà hệ thống NHTM có thể tạo ra từ mỗi đồng dự trữ. Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc hàm ý các ngân hàng phải dự trữ nhiều hơn, do đó cho vay ít hơn từ mỗi đồng tiền gửi. Kết quả là nó làm tăng lƣợng dự trữ, giảm số nhân tiền và làm giảm cung tiền. Ngƣợc lại, biện pháp cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm tăng số nhân tiền và tăng cung tiền.

Nhìn chung, các NHTW rất ít khi thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc bởi vì sự thay đổi thường xuyên có thể làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng. Ví dụ, khi NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, một số ngân hàng nhận thấy họ bị thiếu hụt dự trữ mặc dù họ không có sự biến động nào trong tiền gửi. Trường hợp nhƣ vậy, họ phải từ chối cho vay cho đến khi tạo ra đƣợc đủ mức dự trữ theo quy định mới.

c. Lãi suất chiết khấu

Công cụ thứ ba mà NHTW có thể sử dụng để kiểm soát cung tiền là lãi suất chiết khấu, lãi suất mà NHTW áp dụng khi cho các NHTM vay tiền. Khi không đủ dự trữ bắt buộc, NHTM phải vay NHTW. Tình huống này xảy ra khi ngân hàng đã cho vay quá nhiều hoặc bởi vì có quá nhiều các khoản tiền gửi đƣợc rút ra. Khi NHTW cho một ngân hàng vay tiền, hệ thống ngân hàng sẽ có nhiều dự trữ hơn và họ có thể tạo ra nhiều tiền hơn.

NHTW có thể thay đổi cung ứng tiền tệ bằng cách thay đổi lãi suất chiết khấu.

Lãi suất chiết khấu càng cao, các ngân hàng càng ít vay tiền của NHTW để bù đắp dự trữ, họ có xu hướng tăng tỷ lệ dự trữ, đáp ứng nhanh nhu cầu rút tiền của khách hàng và làm giảm số nhân tiền. Bởi vậy, biện pháp tăng lãi suất chiết khấu có xu hướng làm giảm tiền cơ sở và số nhân tiền, dẫn đến cung tiền giảm. Ngƣợc lại, biện pháp giảm lãi suất chiết khấu sẽ khuyến khích các ngân hàng vay tiền nhiều hơn từ NHTW và dự trữ với tỷ lệ thấp hơn, dẫn tới tiền cơ sở và số nhân tiền tăng và cung tiền theo đó cũng tăng lên.

NHTW sử dụng hình thức cho vay chiết khấu không chỉ để kiểm soát cung ứng tiền tệ mà còn nhằm giúp đỡ các tổ chức tài chính khi họ rơi vào tình thế khó khăn.

Khi đó, NHTW đóng vai trò là người cho vay cuối cùng.

Nhƣ vậy, NHTW có thể tác động tới cung tiền thông qua 3 công cụ chủ yếu trên, trong đó nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng rộng rãi nhất. Đó là công cụ có tác động nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đƣợc biết đến nhƣ một công cụ mà NHTW thường sử dụng vào thời điểm có khủng hoảng, khi mà các NHTM đã cho vay quá nhiều.

Tuy nhiên, cần lưu ý, NHTW không bao giờ có thể kiểm soát được lượng tiền cung ứng một cách hoàn hảo bởi vì NHTW không thể chi phối trực tiếp mọi nhân tố của số nhân tiền.

Thứ nhất, NHTW không kiểm soát đƣợc lƣợng tiền mà các hộ gia đình nắm giữ dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng. Khi các hộ gia đình và doanh nghiệp giữ ít tiền mặt hơn và gửi nhiều tiền vào ngân hàng hơn, thì các ngân hàng sẽ cho vay đƣợc nhiều hơn và do đó càng tạo thêm nhiều tiền hơn. Để thấy rõ tại sao đây lại là một vấn đề của NHTW, chúng ta hãy giả sử rằng vào một ngày nào đó, người dân mất niềm tin vào hoạt động của hệ thống ngân hàng, họ quyết định rút tiền ra khỏi ngân hàng và giữ nhiều tiền mặt hơn. Khi điều này xảy ra, dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm đi và lƣợng tiền tạo ra từ chúng cũng giảm. Cho dù không có bất kỳ sự can thiệp nào của NHTW, cung tiền vẫn giảm.

Thứ hai, trong việc kiểm soát cung tiền, NHTW cũng không thể kiểm soát đƣợc lƣợng tiền mà các ngân hàng cho vay. Khi tiền đƣợc gửi vào một ngân hàng, thì cung tiền chỉ tăng thêm một khi ngân hàng này cho vay một phần số tiền đó. Bởi vì các ngân hàng có thể quyết định nắm giữ những khoản dự trữ dôi ra, nên NHTW không thể nắm chắc đƣợc sẽ có bao nhiêu tiền mà hệ thống ngân hàng này tạo ra. Ví dụ, giả sử các ngân hàng trở nên thận trọng hơn trong kinh doanh bởi vì các điều kiện kinh tế không thuận lợi, họ quyết định cho vay ít hơn và giữ nhiều tiền dự trữ hơn. Với quyết định này của các ngân hàng, cung tiền sẽ giảm.

Vì vậy, trong hệ thống ngân hàng dự trữ một phần, số lƣợng tiền trong nền kinh tế phụ thuộc một phần vào hành vi của những người gửi tiền và các ngân hàng. Vì NHTW không thể kiểm soát hoặc không thể dự đoán đƣợc hành vi này, nên nó không thể kiểm soát cung tiền một cách hoàn hảo. Tuy nhiên, nếu NHTW chú ý đến những vấn đề này, thì chúng thực ra không phải là vấn đề lớn. Hàng tuần, NHTW vẫn thu thập dữ liệu về các khoản tiền gửi và dự trữ từ các NHTM, chính vì vậy, có thể nhanh chóng nhận ra bất kỳ sự thay đổi nào về hành vi của người gửi tiền và các ngân hàng.

Do đó, nó có thể phản ứng lại những thay đổi này và duy trì cung tiền sát với mức mà nó lựa chọn.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 127 - 130)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)