NỘI DUNG ÔN TẬP
CHƯƠNG 3: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
3.2. CÁC NGUỒN LỰC CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu của bất kỳ quốc gia nào. Nó tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia. Vậy điều gì quyết định tăng trưởng?
Thuật ngữ năng suất phản ánh lượng hàng hóa, dịch vụ mà một người lao động sản xuất ra trong một đơn vị thời gian. Một nước chỉ có thể có được cuộc sống tốt đẹp hơn với mức sống cao hơn khi nó sản xuất đƣợc lƣợng hàng hóa, dịch vụ lớn hơn. Do vậy, có thể nói rằng mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của nước đó. Hay nói cách khác, năng suất là yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định tăng trưởng kinh tế. Nhưng cái gì quyết định năng suất của một quốc gia?
Chúng ta có thể khái quát các nhân tố đó là : tƣ bản hiện vật, vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và tri thức công nghệ.
3.2.1. Tƣ bản hiện vật
Tƣ bản hiện vật (hay vốn sản xuất) là khối lƣợng máy móc, nhà cửa và hàng tồn kho đƣợc kết hợp với các nhân tố sản xuất khác để sản xuất ra hàng hoá (sản lƣợng).
Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ lao động hơn. Khối lƣợng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ đƣợc gọi là tƣ bản hiện vật, hay ngắn gọn gọi là tƣ bản. Tƣ bản biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó nó từng là đầu ra của quá trình sản xuất khác. Nhƣ vậy, tƣ bản là nhân tố sản xuất đƣợc dùng để sản xuất ra tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ, trong đó có bản thân tƣ bản.
Ví dụ: khi người thợ mộc làm việc, anh ta cần có cưa, đục, bào, máy tiện… Việc có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn. Nghĩa là trong một tuần, người thợ mộc với vài dụng cụ thô sơ sẽ làm được ít đồ gỗ hơn so với người thợ mộc được trang bị công cụ tinh vi, chuyên dụng cho nghề mộc.
Với một lực lƣợng lao động nhất định, khi tăng tổng số tƣ bản và số lƣợng tƣ bản trên đầu người lao động, sản lượng sẽ tăng. Tuy nhiên, tư bản bị hao mòn theo thời gian, vì vậy cần có một lƣợng đầu tƣ mới nhất định chỉ để duy trì nguyên vẹn khối lƣợng tƣ bản hiện có. Khi lực lƣợng lao động tăng, cần có một lƣợng đầu tƣ lớn hơn nữa nếu muốn giữ lƣợng tƣ bản trên một công nhân không thay đổi. Khi đầu tƣ tăng nhanh hơn, lƣợng tƣ bản trên từng công nhân tăng theo thời gian. Do đó làm tăng sản lƣợng mà mỗi công nhân có thể sản xuất ra.
3.2.2. Vốn nhân lực
Đây là nhân tố trung tâm của mọi sự biến đổi và phát triển kinh tế. Nguồn lao động là một nhân tố không thể thiếu được của tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bởi vì mức việc làm có thể tăng vì hai lý do: Thứ nhất, có thể do dân số tăng. Thứ hai, một bộ phận lớn hơn trong dân số nhất định có thể đang có việc làm. Tuy nhiên, đầu vào về lao động phụ thuộc vào số giờ làm việc cũng như số người đang làm việc. Thậm chí với một mức việc làm nhất định, số giờ làm việc tăng sẽ làm tăng đầu vào lao động thực tế trong hàm sản xuất và do vậy làm tăng sản lƣợng.
Ngày nay trước tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nhất là từ nửa cuối thập kỷ 70 trở lại đây, khi lao động trí tuệ trở thành đặc trƣng, thì nguồn lao động dồi dào về số lƣợng chƣa có ý nghĩa quyết định tăng tốc của GDP. Cái có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh tế là sự biến đổi về cơ cấu lao động theo hướng hàm lượng lao động trí tuệ trong tổng lượng lao động xã hội hiện có ngày càng tăng và chiếm ƣu thế so với hàm lƣợng lao động giản đơn.
Vốn nhân lực là kỹ năng và kiến thức nằm trong khối óc và bàn tay của con người. Việc tăng cường giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm cho phép công nhân sản xuất nhiều sản phẩm hơn với cùng một lƣợng tƣ bản.
Ví dụ: Tƣ bản hiện vật của Tây Đức bị phá huỷ đáng kể trong chiến tranh thế giới thứ II, nhƣng vốn nhân lực của lực lƣợng lao động còn lại không mất đi. Với vốn kỹ năng này, nước Đức đã phục hồi được rất nhanh sau 1945 và tái lập được nguồn vốn vật chất của mình với sự trợ giúp bằng các khoản cho vay lớn của Mỹ theo kế hoạch Marshall. Nhƣng nếu không có nguồn vốn nhân lực thừa kế, thì chắc gì chúng ta có thể đƣợc nghe nói về sự thần kỳ kinh tế của Đức sau chiến tranh.
Cũng giống nhƣ tƣ bản hiện vật, vốn nhân lực cũng là một nhân tố đƣợc quá trình sản xuất tạo ra. Việc sản xuất ra vốn nhân lực đòi hỏi đầu vào dưới dạng giáo viên, thư viện và thời gian nghiên cứu.
3.2.3. Tài nguyên thiên nhiên
Nhân tố thứ ba quyết định năng suất là tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất do thiên nhiên mang lại. Đất đai, khoáng sản, nước, khí hậu,… được coi là một nguồn lực quan trọng. Những quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên sẽ đặc biệt thuận lợi trong quá trình đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp trên thế giới đều không được thiên nhiên ban cho những tài nguyên với trữ lƣợng cao và có thể đƣợc khai thác với nhiều lợi nhuận.
Số lƣợng và chất lƣợng các tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia không hoàn toàn là cố định. Nếu chuyển một phần lao động và tƣ bản vào nghiên cứu, quốc gia đó có thể phát hiện đƣợc các nguồn tài nguyên thiên nhiên mới trong phạm vi biên giới của mình để nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai.
Trong nhóm tài nguyên thiên nhiên thì đất đai có vai trò cực kỳ quan trọng. Đặc biệt trong nền kinh tế nông nghiệp, nếu mỗi người lao động có thêm ruộng đất, sản lƣợng nông nghiệp sẽ tăng. Trong các quốc gia có nền công nghiệp hoá cao thì đất đai kém phần quan trọng hơn. Ví dụ, Hồng Kông đã tăng trưởng và phát triển hết sức nhanh chóng mặc dù dân quá đông đúc và đất đai khan hiếm.
Có hai loại tài nguyên thiên nhiên: loại tái tạo đƣợc và loại không tái tạo đƣợc.
Rừng cây là ví dụ về tài nguyên tái tạo được. Khi một cây gỗ bị đốn, người ta có thể trồng cây mới để thu hoạch trong tương lai. Dầu mỏ là ví dụ về tài nguyên không tái tạo đƣợc. Vì dầu mỏ là sản phẩm của thiên nhiên sau hàng ngàn năm biến đổi, nên nguồn cung chỉ có hạn. Khi nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt, chúng ta không thể tạo thêm.
Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt về mức sống trên thế giới. Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ một phần bắt nguồn từ
cung đất đai mênh mông, thích hợp cho ngành nông nghiệp. Ngày nay, một số nước ở vùng Trung Đông nhƣ Cô - oét và Ả rập Xê út rất giàu chỉ vì họ vô tình sống trên những giếng dầu lớn nhất thế giới.
Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, nhƣng đó không nhất thiết phải là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trong việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Ví dụ: Nhật là nước thuộc loại giàu nhất thế giới mặc dù không có mấy tài nguyên thiên nhiên. Thương mại quốc tế là nguyên nhân thành công của nước Nhật. Nhật nhập khẩu rất nhiều tài nguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạn dầu mỏ, rồi xuất khẩu hàng công nghiệp sang nước có nhiều tài nguyên.
3.2.4. Tri thức công nghệ
Tri thức công nghệ là những hiểu biết của xã hội về cách thức tốt nhất để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ. Cách đây một thế kỷ, đa số người Mỹ là nông dân, bởi vì kỹ thuật trồng trọt hồi ấy đòi hỏi nhiều đầu vào lao động để làm ra lượng lương thực cần thiết cho mọi người. Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật trồng trọt, chỉ một phần nhỏ dân số làm việc trong nông nghiệp cũng đủ nuôi sống toàn xã hội. Sự thay đổi về công nghệ nhƣ thế cho phép chuyển lao động sang các ngành sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ.
Tri thức công nghệ có nhiều dạng. Một số công nghệ là tri thức chung - nghĩa là khi một người sử dụng nó, những người khác cũng nhận thức được nó. Ví dụ, khi Henry Ford áp dụng thành công cách sản xuất bằng dây chuyền lắp ráp, các nhà sản xuất xe hơi khác cũng nhanh chóng áp dụng công nghệ này. Các công nghệ khác là công nghệ độc quyền - chỉ có công ty phát minh ra nó biết. Ví dụ, chỉ duy nhất Coca Cola biết công thức bí mật để pha chế loại nước giải khát nổi tiếng của nó. Một số công nghệ khác mang tính độc quyền chỉ trong thời gian ngắn. Khi công ty bào chế dƣợc phẩm phát minh ra một loại thuốc mới, hệ thống bản quyền cho phép nó có quyền tạm thời là nhà sản xuất duy nhất loại thuốc đặc biệt đó. Song khi bản quyền hết hạn, các công ty khác cũng đƣợc phép sản xuất loại thuốc đó. Tất cả các dạng tri thức công nghệ nhƣ trên đều có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế.
Cần phân biệt giữa tri thức công nghệ và vốn nhân lực. Mặc dù hai khái niệm này khá gần nhau, nhƣng chúng có một khác biệt quan trọng. Tri thức công nghệ phản ánh kiến thức xã hội trong việc nhận thức thế giới vận hành ra sao. Vốn nhân lực phản ánh mức độ lực lƣợng lao động hấp thụ và tiếp nhận nguồn tri thức trên nhƣ thế nào. Sử dụng lối nói ẩn dụ, chúng ta có thể coi tri thức là cuốn sách giáo khoa của xã hội, trong khi vốn của nhân lực là lƣợng thời gian mà các thành viên xã hội bỏ ra để đọc cuốn
sách đó. Năng suất của công nhân phụ thuộc vào cả chất lƣợng cuốn sách lẫn thời gian anh ta bỏ ra để đọc nó.
Yếu tố này bao gồm những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng nhƣ về quản lý.
Mấy thập niên qua, loài người đã chứng kiến những tiến bộ to lớn và nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhƣ tin học, sinh học, vật liệu mới,… Công nghệ mới đã giúp nhiều quốc gia nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất, hạ thấp chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, giúp con người khai thác có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn là khan hiếm. Trong thế kỷ XXI, đối với các nước phát triển, yếu tố có ý nghĩa quyết định sự thành công về phát triển kinh tế là công nghệ mới, còn đối với các nước đang phát triển lại đòi hỏi phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề học hỏi, nghiên cứu và lựa chọn công nghệ thích hợp có ý nghĩa quyết định tốc độ tăng trưởng.
Những yếu tố trên đây là những nguồn lực chủ yếu quyết định tăng trưởng kinh tế, nó đƣợc coi là những yếu tố sản xuất - những đầu vào của quá trình sản xuất. Khi gia tăng các đầu vào thì sản lượng đầu ra chủ yếu sẽ tăng lên. Mức tăng trưởng nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào mức tăng các đầu vào. Vì vậy việc đo lường mức tăng trưởng các đầu vào (nhân lực, tư bản,…) để tính toán khả năng tăng trưởng đầu ra (sản lượng…) thể hiện bằng việc xây dựng các mô hình tăng trưởng (như các hàm sản xuất…) là hướng cố gắng của nhiều nhà kinh tế trên thế giới. Tuy nhiên, trong thực tiễn đã có những khó khăn nảy sinh:
- Có những đầu vào khó đo lường và khó tính được ảnh hưởng của nó (như chất lƣợng giáo dục, quản lý sản xuất, kỹ thuật mới,..)
- Vai trò mỗi yếu tố đối với tăng trưởng cũng khác nhau đối với các quốc gia. Có những nước rất cần tư bản. Nếu được đầu tư sẽ đem lại sự tăng trưởng rõ rệt. Trái lại có những nước việc gia tăng tiết kiệm mở rộng tích luỹ tư bản lại không hiệu quả. Đối với các nước đang phát triển việc sử dụng hiệu quả vốn nhân lực lại có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng.
Bao trùm lên toàn bộ các yếu tố tăng trưởng là chiến lược khôn ngoan, đúng đắn, nắm bắt cơ hội trong và ngoài nước, tận dụng mọi lợi thế so sánh sẽ làm cho đất nước có đà tăng trưởng nhanh. Lịch sử tăng trưởng của các nước cũng cho thấy vai trò của sự lãnh đạo của Chính phủ trong điều hành kinh tế là đặc biệt quan trọng.