NỘI DUNG ÔN TẬP
CHƯƠNG 3: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
3.3. CÁC CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG
Vì tƣ bản là nhân tố sản xuất đƣợc sản xuất ra nên xã hội có thể làm thay đổi khối lượng tư bản trong nền kinh tế. Nếu hôm nay đất nước sản xuất ra nhiều hàng hóa đầu tƣ thì ngày mai nó sẽ có nhiều tƣ bản hơn và có thể sản xuất ra nhiều hàng hóa,
dịch vụ hơn. Do đó, một cách để nâng cao năng suất trong tương lai là đầu tư nguồn lực hiện có nhiều hơn vào quá trình sản xuất hàng hóa đầu tƣ.
Tuy nhiên, vì nguồn lực có tính chất khan hiếm nên việc tập trung nhiều nguồn lực hơn vào sản xuất hàng đầu tƣ buộc chúng ta phải giảm bớt nguồn lực dành cho sản xuất hàng hóa, dịch vụ cho tiêu dùng hiện tại. Nghĩa là, khi xã hội đầu tƣ nhiều hơn vào tƣ bản, nó buộc phải tiêu dùng ít hơn và phải tiết kiệm phần thu nhập lớn hơn đồng nghĩa với việc xã hội phải hi sinh tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ ở hiện tại để được hưởng mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai.
Giả sử Chính phủ một nước theo đuổi chính sách tăng tỷ lệ tiết kiệm thì điều gì sẽ xảy ra? Khi tiết kiệm nhiều hơn đồng nghĩa với việc các nguồn lực dành cho sản xuất hàng tiêu dùng giảm xuống và nguồn lực dành cho sản xuất hàng đầu tƣ tăng lên.
Kết quả là khối lượng tư bản tăng dẫn đến năng suất và tốc độ tăng trưởng tăng.
Nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao như thế sẽ duy trì được bao lâu? Nếu tỷ lệ tiết kiệm tiếp tục giữ ở mức cao như ban đầu thì tỷ lệ tăng trưởng cứ cao mãi hay chỉ duy trì trong một khoảng thời gian nào đó thôi?
Quan điểm về quá trình sản xuất là tƣ bản bị chi phối bởi quy luật lợi suất giảm dần: khi khối lƣợng tƣ bản tăng, mức sản lƣợng đƣợc sản xuất thêm từ một đơn vị tƣ bản bổ sung thêm sẽ giảm xuống. Nói cách khác, khi người lao động đã có một lượng lớn tƣ bản để sản xuất ra hàng hóa và doanh nghiệp thì việc trang bị thêm cho họ một đơn vị tƣ bản nữa chỉ làm tăng năng suất lên một ít. Vì lợi suất giảm dần, sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ dẫn tới tăng trưởng nhanh hơn trong một khoảng thời gian nào đó.
Vì tỷ lệ tiết kiệm tăng cho phép tích lũy tƣ bản nhiều hơn nên ích lợi thu đƣợc từ khối lượng tư bản tăng thêm ngày càng giảm xuống và tăng trưởng chậm dần. Trong dài hạn, tỷ lệ tiết kiệm cao hơn dẫn tới năng suất và thu nhập cao hơn nhƣng không làm cho các biến số này tăng nhanh hơn.
Lợi suất giảm dần của tƣ bản còn có một hàm ý quan trọng khác: khi các yếu tố khác không đổi, một nước có xuất phát điểm thấp thường sẽ tăng trưởng với tốc độ cao hơn. Hiệu ứng của điều kiện ban đầu trong tăng trưởng như vậy đôi khi được gọi là hiệu ứng đuổi kịp. Tại các nước kém phát triển, người lao động thiếu phương tiện sản xuất do đó năng suất của họ thấp. Chỉ cần đầu tƣ thêm một chút tƣ bản là năng suất của họ tăng lên đáng kể. Trái lại, người lao động ở những nước phát triển đã được trang bị nhiều phương tiện sản xuất và điều này khiến cho năng suất của họ cao.
Nhưng do khối lượng tư bản trên một người lao động đã rất cao nên khối lượng tư bản tăng thêm cho những người này chỉ làm tăng năng suất ở mức tương đối nhỏ. Việc nghiên cứu các số liệu quốc tế khẳng định hiệu ứng đuổi kịp: khi kiểm soát đƣợc các biến số khác, chẳng hạn tỷ lệ phần trăm GDP dành cho đầu tư, các nước kém phát triển có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn các nước phát triển.
3.3.2. Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài
Tiết kiệm trong nước không phải là cách duy nhất để một nước đầu tư vào tư bản. Một cách khác là nhận đầu tư từ nước ngoài.
Có nhiều loại đầu tư nước ngoài. Công ty Youngone có thể xây dựng nhà máy may ở Việt Nam. Một khoản đầu tƣ vào tƣ bản mà quyền sở hữu và quyền điều hành thực hiện bởi chủ thể nước ngoài được gọi là đầu tư nước ngoài trực tiếp. Dạng khác là người Hàn Quốc mua cổ phiếu của một công ty Việt Nam. Khoản đầu tư được tài trợ bằng tiền nước ngoài nhưng do người dân trong nước điều hành gọi là đầu tư nước ngoài gián tiếp. Trong cả hai trường hợp, người Hàn Quốc cung cấp nguồn lực cần thiết để tăng khối lƣợng tƣ bản ở Việt Nam. Nghĩa là, tiết kiệm của Hàn Quốc đƣợc dùng để tài trợ cho đầu tƣ ở Việt Nam.
Khi một người nước ngoài đầu tư vào một nước nào đó, họ hi vọng thu được lợi nhuận từ khoản đầu tƣ. Nhà máy may của Youngone làm tăng khối lƣợng tƣ bản của Việt Nam, do vậy làm tăng năng suất và GDP của Việt Nam. Nhƣng Youngone lấy đi một phần thu nhập tăng thêm và chuyển về Hàn Quốc dưới dạng lợi nhuận. Tương tự, khi nhà đầu tư Hàn Quốc mua cổ phiếu của Việt Nam, nhà đầu tư này có quyền hưởng một phần lợi nhuận mà công ty Việt Nam kiếm được. Do đó, đầu tư từ nước ngoài là một cách thúc đẩy tăng trưởng của một nước mặc dù một phần lợi ích của khoản đầu tư này chảy ra nước ngoài vì nó thực sự làm tăng khối lượng tư bản của đất nước nhận đầu tư, dẫn tới năng suất và tiền lương cao hơn. Ngoài ra, đầu tư nước ngoài là một cách để các nước kém phát triển học hỏi trực tiếp công nghệ hiện đại của các nước phát triển. Vì lý do đó, Chính phủ nhiều nước khuyến khích đầu tư nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc xóa bỏ các hạn chế của Chính phủ đối với quyền sở hữu tƣ bản trong nước của người nước ngoài.
3.3.3. Chính sách về giáo dục
Giáo dục nghĩa là đầu tƣ vào vốn nhân lực và nó đóng vai trò quan trọng nhƣ đầu tƣ vào tƣ bản trong việc đóng góp vào sự thành công về kinh tế trong dài hạn của một quốc gia. Có khoảng cách về tiền lương giữa những người có học và những người ít học. Do đó, một cách để chính sách của Chính phủ nâng cao mức sống của người dân là cải thiện điều kiện giáo dục và khuyến khích người dân tham gia vào hệ thống này.
Tương tự như tư bản, đầu tư vào vốn nhân lực cũng có chi phí cơ hội. Khi một sinh viên ngồi trên ghế nhà trường, họ phải từ bỏ số tiền kiếm được nếu như họ đi làm.
Tại một số huyện miền núi của Việt Nam, trẻ em phải bỏ học từ khi còn nhỏ vì phải lao động giúp bố mẹ bất chấp lợi ích to lớn từ việc đến trường.
Vốn nhân lực đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế vì vốn nhân lực hàm chứa các ngoại ứng tích cực. Ngoại ứng là ảnh hưởng của hành động mà một cá
nhân thực hiện tới phúc lợi của người ngoài cuộc. Ví dụ: một người được đào tạo tốt có thể đưa ra những ý tưởng mới về việc làm thế nào để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ theo cách tốt nhất. Nếu những ý tưởng đó trở thành tri thức của xã hội và mọi người đều có thể sử dụng thì chúng là những ích lợi từ ngoại ứng của giáo dục. Trong trường hợp này, ích lợi từ đi học đối với xã hội còn lớn hơn ích lợi của cá nhân. Lập luận nhƣ vậy giải thích cho các khoản trợ cấp to lớn cho đầu tư vào vốn nhân lực mà thường được thực hiện dưới hình thức giáo dục công lập.
Một vấn đề mà Việt Nam phải đối mặt là hiện tƣợng chảy máu chất xám – sự di cư của lực lượng lao động có trình độ cao sang các nước phát triển, nơi họ được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn. Ngoài ra, những sinh viên học ở nước ngoài thường không muốn trở về nước và hiện tượng chảy máu chất xám như thế làm cho khối lượng vốn nhân lực trong nước giảm xuống.
3.3.4. Xác định quyền sở hữu tài sản và sự ổn định chính trị
Chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bằng cách bảo hộ quyền sở hữu và tăng cường sự ổn định chính trị. Quá trình sản xuất trong nền kinh tế thị trường nảy sinh từ mối quan hệ qua lại giữa hàng triệu cá nhân và doanh nghiệp. Ví dụ: khi bạn mua một chiếc xe máy, điều này đồng nghĩa là bạn đang mua sản lượng của người bán xe, của doanh nghiệp sản xuất xe máy, doanh nghiệp sản xuất thép, công ty khai thác quặng… Sự phân công sản xuất giữa vô số doanh nghiệp cho phép các nhân tố sản xuất đƣợc sử dụng với hiệu quả tối đa. Để đạt đƣợc điều này, nền kinh tế phải phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp, cũng như giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trường đạt được sự phối hợp này nhờ giá thị trường. Một tiền đề quan trọng để hệ thống giá cả hoạt động là sự tôn trọng quyền sở hữu tài sản trên toàn bộ nền kinh tế.
Quyền sở hữu tài sản là khái niệm được dùng để chỉ khả năng của con người trong việc thực hiện những quyền của mình đối với những nguồn lực mà họ sở hữu. Vì lý do đó, tòa án đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Thông qua hệ thống luật hình sự, tòa án ngăn cản những vụ trộm cắp trực tiếp. Ngoài ra, thông qua hệ thống luật dân sự, tòa án đảm bảo cho người mua và người bán thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Sự bất ổn về chính trị sẽ đe dọa quyền sở hữu tài sản. Khi cách mạng và đảo chính thường xuyên diễn ra, không ai biết trong tương lai quyền sở hữu tài sản có đƣợc tôn trọng hay không. Nếu Chính phủ cách mạng tịch thu tài sản của một số doanh nghiệp, thì người dân sẽ mất động cơ tiết kiệm, đầu tư và thành lập doanh nghiệp mới. Đồng thời, người nước ngoài cũng không muốn đầu tư vào nền kinh tế trong nước nữa.
Do đó, sự thịnh vƣợng của nền kinh tế một quốc gia phụ thuộc vào sự thịnh vƣợng về chính trị. Một nước có hệ thống tòa án hữu hiệu, quan chức Chính phủ thanh liêm và có thể chế ổn định sẽ được hưởng mức sống cao hơn so với nước có hệ thống tòa án yếu kém, quan chức tham nhũng, thường xuyên bị bạo loạn và đảo chính đe dọa.
3.3.5. Chính sách thương mại tự do
Một số nước kém phát triển trên thế giới đã từng cố gắng đạt được sự tăng trưởng kinh tế bằng cách theo đuổi chính sách hướng nội. Các chính sách này hướng tới việc nâng cao năng suất và mức sống trong nước bằng cách tránh giao lưu với các nước bên ngoài. Nguyên do của việc áp dụng chính sách này vì các doanh nghiệp trong nước yêu cầu được bảo hộ trước sự cạnh tranh từ nước ngoài để tiến lên và phát triển và cần phải bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ. Do đó, Chính phủ các nước kém phát triển đã dựng nên nhiều loại thuế quan và rào cản thương mại khác.
Đa số các nhà kinh tế hiện nay tin rằng các nước kém phát triển sẽ được lợi nếu thực hiện chính sách hướng ngoại, những chính sách cho phép họ hội nhập với thế giới. Thương mại quốc tế cải thiện phúc lợi kinh tế của công dân một nước tham gia vào quá trình thương mại. Nói theo một cách cụ thể nào đó, thương mại là một loại công nghệ. Khi một nước xuất khẩu quần áo và nhập khẩu ô tô, quốc gia thu được lợi ích giống hệt trường hợp nó sáng chế ra một công nghệ chế biến quần áo thành ô tô.
Do đó, một nước tháo dỡ các rào cản thương mại sẽ tăng trưởng kinh tế giống hệt như trường hợp nó đạt được tiến bộ về công nghệ.
Tổng kim ngạch thương mại của một nước với các nước khác không chỉ phụ thuộc vào chính sách của Chính phủ mà còn vào điều kiện địa lý. Các nước có nhiều cảng biển tự nhiên thuận tiện giao thương trong thương mại quốc tế dễ dàng hơn những nước không có ưu thế này.
3.3.6. Chính sách kiểm soát tốc độ tăng dân số
Sự gia tăng dân số cũng chi phối một phần năng suất và mức sống của một nước.
Rõ ràng dân số là nhân tố then chốt quyết định lực lượng lao động của một nước. Do đó, khi một nước đông dân như Trung Quốc có xu hướng tạo ra GDP lớn hơn các nước ít dân. Nhƣng quy mô GDP không phải là chỉ tiêu tốt phản ánh phúc lợi kinh tế. Bởi vì các nước quan tâm tới mức sống nên GDP bình quân đầu người mới là quan trọng, vì nó cho biết lượng hàng hóa và dịch vụ người dân trong nền kinh tế được hưởng.
Sự gia tăng dân số tác động đến GDP bình quân đầu người như thế nào? Các lý thuyết chuẩn về tăng trưởng kinh tế dự báo rằng mức gia tăng dân số cao làm giảm GDP bình quân đầu người. Lý do là sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng lao động làm phân tán các nhân tố sản xuất khác. Đặc biệt, khi dân số tăng nhanh, việc trang bị
thêm máy móc, thiết bị cho mỗi người lao động trở nên khó khăn hơn. Tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động giảm làm cho GDP bình quân trên mỗi lao động giảm.
Vấn đề này thể hiện rõ nét trong trường hợp vốn nhân lực. Các nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao thường có số trẻ em ở độ tuổi đi học lớn. Điều này gây sức ép lên hệ thống giáo dục. Do đó, các nước có dân số tăng nhanh thường ít có những thành tựu cao về giáo dục.
Cắt giảm tốc độ tăng dân số thường được coi là một phương thức tăng mức sống ở các nước kém phát triển. Tại một số nước, mục tiêu kiểm soát tăng trưởng dân số thường được thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc làm tăng hiểu biết của mọi người về kỹ thuật sinh đẻ có kế hoạch.
Phương pháp khác mà một nước có thể áp dụng để tác động đến mức tăng dân số là chính sách thúc đẩy sự đối xử công bằng đối với phụ nữ. Những phụ nữ có cơ hội hấp thu nền giáo dục tốt và nghề nghiệp hấp dẫn thường muốn có ít con hơn những phụ nữ không có đƣợc co hội nhƣ thế. Do đó, chính sách thúc đẩy sự đối xử công bằng với phụ nữ là một phương pháp để kiềm chế tốc độ gia tăng dân số ở các nước kém phát triển.
3.3.7. Chính sách thúc đẩy nghiên cứu và triển khai công nghệ mới
Lý do cơ bản để mức sống ngày hôm nay cao hơn 100 năm trước là những tiến bộ của tri thức công nghệ. Điện thoại, thiết bị bán dẫn, máy tính điện tử và động cơ đốt trong là những sáng chế trong hàng triệu sáng chế đã nâng cao năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ của chúng ta.
Mặc dù phần lớn tiến bộ về công nghệ bắt nguồn từ các doanh nghiệp và nhà sáng chế độc lập, nhưng nhà nước cũng rất quan tâm đến việc thúc đẩy những nỗ lực này. Nói rộng ra, tri thức là một hàng hóa công cộng: khi một người phát kiến ra ý tưởng, nó thuộc về kho tàng tri thức của xã hội và mọi người có thể tự do sử dụng nó.
Vì Chính phủ có vai trò trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng nhƣ quốc phòng nên nó cũng có vai trò thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ mới.
Còn một cách khác để Chính phủ khuyến khích hoạt động nghiên cứu là thông qua hệ thông bản quyền. Khi một cá nhân hay doanh nghiệp sáng chế ra sản phẩm mới, một loại thuốc mới chẳng hạn, thì nhà sáng chế có thể xin cấp bằng sáng chế.
Nếu sản phẩm đó đúng là sáng chế thực sự, Chính phủ sẽ cấp bằng sáng chế và nhà sáng chế có đặc quyền chế tạo sản phẩm ấy trong một số năm nhất định. Về bản chất, bằng sáng chế chứng nhận quyền sở hữu của người sáng chế đối với sản phẩm của họ, biến ý tưởng của họ từ một hàng hóa công cộng trở thành hàng hóa tư nhân. Bằng cách cho phép nhà sáng chế thu đƣợc lợi nhuận từ sáng chế của mình – dù chỉ là tạm thời – hệ thống bằng sáng chế thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu.