TIỀN VÀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA TIỀN

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 114 - 117)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

5.1. TIỀN VÀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA TIỀN

Ngay từ nhỏ, chúng ta đã biết sử dụng tiền để mua những đồ vật mà mình ƣa thích, còn các cửa hàng thì dùng tiền để niêm yết giá các mặt hàng họ bán. Ngoài ra, mọi người, ít nhiều, đều cất trữ tiền nhằm làm tăng của cải của mình. Mặc dù vậy, liệu đã khi nào chúng ta tự đặt cho mình câu hỏi vì sao chúng ta cầm trong tay những tờ giấy không có giá trị thực, nhƣng dễ dàng vào cửa hàng đổi chúng lấy hàng hóa có giá trị thực? Hơn nữa, trong nền kinh tế hiện đại, ngoài việc sử dụng tiền mặt, người ta còn sử dụng séc hay thẻ tín dụng trong thanh toán. Vậy séc hay thẻ tín dụng có phải là tiền hay không? Để có câu trả lời, chúng ta cần hiểu tiền là gì? Hiểu rõ khái niệm tiền là việc làm quan trọng để nắm bắt các nguyên lý kinh tế vĩ mô, nhƣng đó không phải là nhiệm vụ đơn giản.

Một cách chung nhất, tiền được định nghĩa là “bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để lấy hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ”

5.1.2. Các chức năng của tiền

Để đƣợc chấp nhận chung trong việc thanh toán, tiền phải có những chức năng đặc biệt của nó. Nhìn chung, các lý thuyết tiền tệ hiện đại đều nhấn mạnh ba chức năng căn bản của tiền: phương tiện trao đổi, đơn vị hạch toán, và cất trữ giá trị. Ba chức năng này làm cho tiền khác với các tài sản khác, nhƣ cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, tác phẩm nghệ thuật .... Sau đây chúng ta sẽ lần lƣợt xem xét từng chức năng của tiền:

Phương tiện trao đổi là một vật được mọi người chấp nhận để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ. Tiền là một phương tiện trao đổi. Khi bạn mua một hàng hóa bất kỳ, chẳng hạn áo sơ mi, chủ cửa hàng trao cho bạn áo sơ mi, còn bạn thì trao cho ông ta tiền.

Nhờ có việc chuyển tiền từ người mua cho người bán mà giao dịch được thực hiện.

Nếu không có tiền, việc trao đổi hàng hóa trở nên phức tạp và tốn kém hơn nhiều.

Chúng ta hãy tưởng tượng trong nền kinh tế không có tiền, một giáo sư kinh tế học muốn uống bia, nhƣng chỉ có thể đổi lấy bia bằng bài giảng của mình thì liệu giáo sƣ này có thỏa mãn đƣợc mong muốn đó hay không? Tuy nhiên, trong nền kinh tế tiền tệ ông giáo sƣ có thể yên tâm giảng dạy kinh tế học và muốn uống bia lúc nào cũng đƣợc, vì sẽ nhận đƣợc thù lao bằng tiền và có thể sử dụng tiền để mua đồ uống và các thứ khác mà giáo sư có nhu cầu. Quán bia sẽ chấp nhận những tờ giấy đươc quy định là tiền bởi vì họ tin vào những người khác cũng chấp nhận chúng. Như vậy tiền có giá trị bởi vì dân cƣ nghĩ rằng nó có giá trị.

Phương tiện cất trữ giá trị: việc tiền đóng vai trò là phương tiện trao đổi đi liền với tư cách là một phương tiện cất trữ giá trị. Dân chúng sẽ chỉ giữ tiền một khi họ tin rằng nó sẽ tiếp tục có giá trị trong tương lai, do vậy tiền có thể hoạt động với tư cách là phương tiện trao đổi chỉ khi nó cũng đóng vai trò là phương tiện bảo tồn và cất giữ giá trị. Nếu hôm nay bạn làm việc và thu đƣợc 1.000.000đ, bạn có thể giữ số tiền đó và chi tiêu vào ngày mai, tuần sau hay tháng sau. Dĩ nhiên, tiền không phải là phương tiện hoàn hảo để bảo tồn giá trị: khi giá cả tăng, giá trị thực tế của tiền giảm xuống. Với chức năng này dân chúng có thể lựa chọn giữ một số của cải trực tiếp bằng tiền. Tất nhiên, tiền không phải là phương tiện cất giữ giá trị duy nhất trong nền kinh tế, bởi vì một người có thể chuyển sức mua từ hiện tại đến tương lai bằng cách nắm giữ các tái sản khác. Thuật ngữ “ tài sản” được dùng để chỉ những phương tiện cất trữ giá trị, trong đó có tiền và các tài sản không phải tiền. Tuy nhiên, trong điều kiện có lạm phát, giá trị của tiền giảm theo thời gian. Điều này làm cho tiền trở thành một phương tiện cất trữ giá trị yếu thế hơn so với các tài sản khác.

Đơn vị hạch toán: ngoài hai chức năng trên, tiền trở thành một đơn vị hạch toán rất tiện lợi và hiệu quả vì nó được chấp nhận rộng rãi trong mọi giao dịch. Mọi người sử dụng một đơn vị tiền tệ chung nhƣ “đồng” của Việt Nam hay “USD” của Mỹ để niêm yết giá và ghi các khoản nợ. Khi đi mua hàng, bạn có thể nhìn thấy giá một chiếc sơ mi là 300.000 đồng và bát phở giá 20.000 đồng. Mặc dù có thể nói chính xác rằng giá của chiếc áo bằng 15 bát phở và giá của bát phở bằng 1/15 chiếc áo, nhƣng giá không bao giờ được ghi theo cách này. Tương tự, nến bạn vay tiền của ngân hàng, thì số tiền bạn phải hoàn trả trong tương lai sẽ được tính bằng đồng hay USD, chứ không phải bằng lƣợng hàng hóa và dịch vụ. Khi muốn tính toán và ghi chép giá trị kinh tế, chúng ta sử dụng tiền với tƣ cách là đơn vị hạch toán.

5.1.3. Các loại tiền

Trong lịch sử, nhiều thứ đã đóng vai trò của tiền, trong đó có vỏ sò, thuốc lá, các kim loại quý, cũng nhƣ tiền giấy và tiền chuyển khoản qua các ngân hàng.

Có thể chia lịch sử tiền tệ thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn đầu tiên, loài người sử dụng tiền cơ bản hay tiền nguyên thủy. Đó là:

muối, vỏ sò, kim loại quý hay các hàng hóa cơ bản khác. Khi tồn tại dưới hình thức một hàng hóa có giá trị cố hữu, tiền đƣợc gọi là tiền hàng hóa. Thuật ngữ giá trị cố hữu hàm ý rằng hàng hóa đó có giá trị ngay cả khi nó không đƣợc sử dụng làm tiền.

Một ví dụ về tiền hàng hóa là vàng. Vàng có giá trị cố hữu vì nó đƣợc sử dụng trong công nghiệp và chế tác đồ trang sức.

Ở giai đoạn thứ hai, các Chính phủ và ngân hàng trở thành những nhân tố chính trong việc cung ứng tiền tệ. Nhƣng ở giai đoạn này, một số hàng hóa cơ bản vẫn đƣợc

dùng để định lƣợng sự trao đổi lấy tiền. Do đó, đây là giai đoạn tiền bản vị mà chủ yếu là bản vị vàng hay bản vị bạc. Trong chế độ bản vị vàng, Chính phủ của mỗi nước cố định giá vàng tính bằng đồng tiền trong nước của họ. Chính phủ luôn sẵn sàng mua bán vàng đúng lƣợng mà dân cƣ muốn giao dịch tại mức giá cố định này. Khi đó, khả năng của Chính phủ trong việc cung ứng tiền bị hạn chế nghiêm ngặt bởi yêu cầu là Chính phủ phải nắm giữ một lượng vàng tương đương trong kho bạc.

Ở giai đoạn thứ ba và là giai đoạn cuối cùng, bản vị kim loại quý biến mất, tiền trở thành một sang tạo của các ngân hàng và Chính phủ. Tiền không có giá trị thực, nhƣ đồng Việt Nam, đƣợc gọi là tiền pháp định. Khái niệm pháp định đề cập đến quyết định mang tính pháp lý của Nhà nước và tiền pháp định là loại tiền được tạo ra nhờ một pháp lệnh của Chính phủ. Tại sao bạn có thể sử dụng những tờ giấy bạc do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam phát hành để thanh toán cho hóa đơn của bạn? Câu trả lời chính là Chính phủ Việt Nam đã quy định bằng một pháp lệnh rằng những tờ giấy bạc đó là tiền hợp lệ. Mặc dù Chính phủ là cơ quan đóng vai trò trung tâm trong việc thiết lập và điều hành hệ thống tiền pháp định, nhƣng để hệ thống tiền tệ hoạt động thành công, cũng cần có các nhân tố khác nữa. Nói rộng hơn, sự chấp nhận tiền pháp định phụ thuộc nhiều vào kỳ vọng và tập quán xã hội cũng nhƣ một pháp lệnh của Chính phủ.

* Đo lượng tiền cung ứng

Theo ba chức năng của tiền và cùng với sự phát triển của các tài sản tài chính, việc xác định loại tài sản nào là tiền ngày càng trở nên phức tap. Phải chăng tiền chỉ gồm tiền giấy, tiền xu hay còn gì nữa? Hiện nay, trong các sách giáo khoa và trong thực tiễn, có 3 cách đo lường khối lượng tiền tệ chủ yếu là tiền mặt (M0), tiền giao dịch (M1), và tiền rộng (M2). Mặc dù vậy, cơ cấu các thành phần tạo nên M1 hay M2 cũng không đồng nhất giữa các quốc gia. Có sự khác biệt này chủ yếu là do trình độ phát triển khác nhau của các hệ thống tài chính ở những nước này. Mặc dù có sự khác nhau nhƣ vậy, nhƣng các thành phần cấu thành M1 hay M2 phải đáp ứng đƣợc những chức năng của tiền nhƣ đã nêu. Trong phạm vi tập bài giảng này, chúng ta hiểu khái niệm tiền M0, M1, M2, M3, M4 nhƣ sau:

- M0 hay tiền mặt: Bao gồm tiền giấy và tiền xu đang lưu hành.

- M1: Bao gồm tiền mặt, các tài khoản tiền gửi có thể rút theo nhu cầu (tài khoản tiền gửi không kỳ hạn).

- M2: Bao gồm M1 và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn.

- M3 bao gồm M2 và các khoản tiền gửi có kỳ hạn dài.

- M4 bao gồm M3 và chứng khoán kho bạc ngắn hạn, thương phiếu được ngân hàng chấp nhận.

Người ta chia tiền thành M0, M1 và M2, M3, M4 dựa trên khả năng thanh khoản của các thành phần tạo nên chúng, mà độ thanh khoản của các tài sản tài chính phụ thuộc vào đặc điểm và mức độ phát triển của hệ thống tài chính. Khả năng thanh toán hay tính hoán đổi của một tài sản đề cập đến mức độ dễ dàng để chuyển tái sản đó thành phương tiện trao đổi của nền kinh tế.

Lần lượt xem xét tại sao M0, M1 và M2 được coi là thước đo chủ yếu của khối lƣợng tiền trong nền kinh tế. Nhìn chung, tiền mặt có thể đƣợc sử dụng trực tiếp, ngay lập tức và không hạn chế cho việc thanh toán. Do đó, tiền mặt đƣợc biết đến nhƣ là một loại tài sản có độ thanh khoản cao nhất. Các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cũng được coi là tiền. Tại sao? Trước tiên, làm quen với hai công cụ (tài sản) tài chính cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đo lường khối lượng tiền tệ: tài khoản tiền gửi không kỳ hạn (gọi tắt là tài khoản không kỳ hạn), tài khoản tiền gửi có kỳ hạn (gọi tắt là tài khoản có kỳ hạn). Với tài khoản không kỳ hạn có thể “rút tiền” bất kỳ lúc nào mà không phải chịu bất kỳ chi phí nào. Ngoài ra với tài khoản không kỳ hạn, có thể viết séc và sử dụng nó để thanh toán cho các khoản chi tiêu của mình. Đối với tài khoản có kỳ hạn, về nguyên tắc chỉ có thể rút tiền mặt khi đến kỳ hạn, hoặc phải thông báo trước và phải chịu phạt lãi suất. Trước đây, chỉ có tài khoản có kỳ hạn là được hưởng lãi suất. Tuy nhiên, hiện nay, các tài khoản không kỳ hạn cũng được hưởng lãi suất nhưng với mức thấp hơn so với tài khoản có kỳ hạn.

* Khả năng thanh khoản: mức độ dễ dàng chuyển tài sản đó thành phương tiện trao đổi của nền kinh tế.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 114 - 117)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)