VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
CHƯƠNG 5: TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
5.2. THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
5.2.1.1.Lý thuyết về số lượng tiền tệ a. Giao dịch và phương trình số lượng
Cầu về tiền là lƣợng tiền mà các tác nhân trong nền kinh tế muốn nắm giữ. Khi số lƣợng giao dịch tăng, cầu về tiền để trao đổi tăng. Do đó, cầu về tiền tệ trong nền kinh tế có quan hệ mật thiết với số lƣợng tiền trao đổi trong giao dịch.
Cung tiền là lƣợng tiền đƣợc sử dụng cho giao dịch trong một thời kỳ nhất định (phụ thuộc vào khối lƣợng tiền và vòng quay của tiền).
Mối liên hệ giữa giao dịch và tiền tệ có thể biểu thị bằng một phương trình gọi là phương trình số lượng như sau:
Khối lượng tiền tệ x Tốc độ lưu thông = Giá cả x Số lượng giao dịch M x V = P x T
Vế phải của phương trình số lượng cho ta biết rằng số lượng giao dịch T biểu thị tổng số giao dịch trong một thời kỳ nhất định, chẳng hạn 1 năm. Nói cách khác, T là số lƣợng hàng hóa, dịch vụ đƣợc đổi lấy tiền trong năm. P là giá cả của một lần giao dịch, tức số tiền đƣợc trao đổi. Tích của giá một lần giao dịch và số lƣợng giao dịch PT bằng số tiền đƣợc trao đổi trong năm.
Vế trái của phương trình cho ta biết khối lượng tiền được dùng để tiến hành các giao dịch. M là khối lượng tiền tệ và V là tốc độ giao dịch (hay lưu thông) của tiền và được tính bằng số vòng quay của tiền trong nền kinh tế. Nói cách khác, tốc độ lưu thông cho ta biết số lần một đồng đƣợc trao tay trong một thời kỳ nhất định.
Ví dụ: giả sử có 60 chiếc bánh mỳ đƣợc bán ra trong 1 năm với giá 1000đ/chiếc. Khi đó T = 60 chiếc/năm và P = 1000đ/chiếc. Tổng số tiền đƣợc trao đổi trong năm là:
PT = 60*1000 = 60.000đ/năm.
Vế phải của phương trình bằng 60.000đ/năm, đó chính là giá trị của tất cả các giao dịch tính bằng đồng.
Tiếp theo, giả sử khối lƣợng tiền trong nền kinh tế hiện có là 10.000đ. Khi đó, tính được tốc độ lưu thông là:
V = PT/M = 60.000/10.000 = 6 lần/năm.
Điều đó có nghĩa là, để thực hiện giá trị giao dịch là 60.000đ/năm với số tiền bằng 10.000đ, mỗi đồng phải đƣợc trao tay 6 lần/năm.
Phương trình số lượng là một đồng nhất thức, những định nghĩa về 4 biến số làm cho phương trình đó đúng. Phương trình này hữu ích vì nó cho thấy nếu một trong các biến số thay đổi thì một hay nhiều biến số khác cũng phải thay đổi theo để duy trì sự bằng nhau. Ví dụ nếu khối lượng tiền tệ tăng và tốc độ lưu thông của tiền không thay đổi thì giá cả hoặc số lƣợng giao dịch phải tăng.
b. Từ giao dịch đến thu nhập
Khó khăn gắn với phương trình trên là khó tính toán số lượng giao dịch. Để giải quyết vấn đề này, số lƣợng giao dịch T đƣợc thay thế bằng tổng sản lƣợng của nền kinh tế Y.
Số lƣợng giao dịch và sản lƣợng liên quan chặt chẽ với nhau bởi vì nền kinh tế sản xuất càng nhiều, thì càng có nhiều hàng hóa đƣợc mua và bán. Tuy nhiên, chúng không hoàn toàn như nhau. Chẳng hạn, khi một người bán chiếc ôtô đã sử dụng chi người khác, họ dùng tiền để giao dịch, mặc dù chiếc xe đã sử dụng không phải là bộ phận của sản lƣợng hiện tại. Song giá trị bằng tiền của các giao dịch gần nhƣ tỷ lệ thuận với sản lƣợng tính bằng tiền.
Nếu Y biểu thị tổng sản lƣợng và P biểu thị giá cả của một đơn vị sản lƣợng, thì giá trị sản lƣợng tính bằng tiền là PY. Chúng ta đã gặp chỉ tiêu phản ánh những biến số này khi xem xét phần thu nhập quốc dân. Y chính là GDP.
Khối lượng tiền tệ x Tốc độ lưu thông = Giá cả x Sản lượng M x V = P x Y
Vì Y cũng là tổng thu nhập nên V trong trường hợp này được gọi là tốc độ lưu thông thu nhập của tiền tệ. Tốc độ lưu thông thu nhập của tiền tệ cho ta biết số lần một đồng được chuyển thành thu nhập của một người nào đó trong một thời kỳ nhất định. Dạng này của phương trình số lượng là dạng phổ biến nhất và thường hay được sử dụng.
c. Hàm cầu về tiền tệ (MD)
Có lẽ mong muốn có nhiều tiền lương hơn, có nhiều tiền gửi tiết kiệm hơn là không giới hạn, nhưng mong muốn giữ tiền là có giới hạn. Tại sao người ta giữ tiền?
Có ba động cơ cho việc giữ tiền:
- Động cơ giao dịch: mọi người giữ tiền để thực hiện các khoản thanh toán thường xuyên. Động cơ này bắt nguồn từ chức năng tiền là phương tiện trao đổi.
MD = f(Y)
- Động cơ dự phòng: mọi người quyết định giữ tiền để đáp ứng cho những giao dịch không dự đoán trước được. Động cơ này cũng bắt nguồn từ chức năng tiền là phương tiện trao đổi.
MD = f(Y)
- Động cơ đầu cơ: mọi người giữ tiền với tư cách là một bộ phận trong danh mục đầu tƣ tối ƣu của họ bởi vì ngoài các tài sản khác, tiền tạo ra một kết hợp khác giữa rủi ro và lợi tức. Cụ thể, tiền tạo ra lợi tức danh nghĩa an toàn, trong khi giá cổ phiếu, trái phiếu có thể tăng hoặc giảm. Động cơ này bắt nguồn từ chức năng của tiền là phương tiện cất giữ giá trị. Chi phí cơ hội của việc giữ tiền chính là lãi suất, nghĩa là khi nắm giữ tiền thì họ đã mất phần lãi mà lẽ ra họ có thể kiếm đƣợc khi giữ tài sản dưới dạng các tài sản tài chính sinh lãi. Khi lãi suất tăng, chi phí của việc giữ tiền tăng.
MD = f(i)
Mặc dù chúng ta nghiên cứu cầu về tiền dựa trên cơ sở các động cơ giữ tiền nhƣng thực ra chúng ta không thể phân chia số tiền mà mỗi cá nhân nắm giữ, ví dụ 600 nghìn đồng thành 3 loại nhƣ 300 nghìn đồng, 200 nghìn đồng, 100 nghìn đồng cho các động cơ khác nhau. Tiền nắm giữ để thỏa mãn động cơ này cũng có thể đáp ứng cho các động cơ khác.
Vì tiền là một loại tài sản không sinh lãi, mọi người không có động cơ nắm giữ nó quá lâu. Các cá nhân hành động hợp lý luôn có động cơ đổi tiền lấy hàng hóa hoặc tài sản sinh lãi nhƣ tiền gửi ngân hàng có thời hạn, trái phiếu, cổ phiếu. Lý do quan trọng nhất của việc giữ tiền là sự tiện lợi của nó. Bạn có thể mua thực phẩm bằng tiền chứ không phải bằng sổ tiết kiệm, trái phiếu hay cổ phiếu trừ khi bạn phải chuyển chúng thành tiền và điều này lại phát sinh chi phí.
Nhƣ vậy, cầu về tiền phụ thuộc vào thu nhập và lãi suất.
Dưới dạng tuyến tính, cầu về tiền thường được viết như sau:
MD/P = + kY – hi (5.1)
MD/P: mức cầu thực tế về tiền
: cầu tự định về tiền (cầu tiền độc lập với thu nhập và lãi suất)
k, h: hệ số phản ánh độ nhạy cảm của mức cầu tiền đối với thu nhập và lãi suất Y: thu nhập
i: lãi suất
Trên đồ thị, đường cầu về tiền thường được vẽ ứng với một mức thu nhập cho trước. Khi đó cầu về tiền chỉ còn phụ thuộc tỷ lệ nghịch với lãi suất. Do vậy, đường cầu về tiền là đường dốc xuống về phía phải.
5.2.2. Cung tiền (MS)
5.2.2.1. Xác định mức cung tiền
Nếu bỏ quả sự khác biệt giữa các loại tiền gửi và coi chỉ có một loại tiền gửi thống nhất đƣợc ký hiệu là D thì lƣợng tiền cung ứng hay viết gọn là cung tiền (MS) bao gồm tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng (U) cộng với tiền gửi (D).
MS = U + D (5.2)
MS: mức cung tiền D: tiền gửi
Bây giờ chúng ta xem xét mối quan hệ giữa cung tiền và tiền cơ sở (H). Ta có:
i1
i
M MD1
MD2
Y tăng
Hình 5.1: Đường cầu về tiền khi thu nhập tăng lên
MS = U + D
= U/D + D/D
H U + R U/D + R/D
Nếu ký hiệu s = U/D: tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng so với tiền gửi hay viết gọn là tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi. Và r = R/D: tỷ lệ dự trữ thực tế của các ngân hàng thương mại (NHTM).
MS = s + 1
H s + r
Biểu thức trên chính là số nhân tiền tệ mà chúng ta sẽ ký hiệu là mM bởi vì nó biểu thị mức độ mà mỗi đồng tiền cơ sở để tạo thành cung tiền lớn hơn. Mỗi khi Ngân hàng trung ƣơng (NHTW) bổ sung thêm 1 đồng tiền cơ sở, thì cung tiền trong nền kinh tế sẽ tăng thêm mM đồng.
mM = MS
= s + 1
(5.3)
H s + r
Biểu thức trên cho thấy, số nhân tiền tệ phụ thuộc vào tỷ lệ tiền mặt lưu thông ngoài ngân hàng so với tiền gửi (s) và tỷ lệ dự trữ thực tế của các NHTM (r). Cả s và r đều có tác động ngƣợc chiều đến số nhân tiền: số nhân tiền tăng khi s và r giảm; ngƣợc lại, số nhân tiền giảm khi s và r tăng. Lưu ý rằng nếu s = 0 nghĩa là tỷ lệ tiền mặt so với tiền gửi bằng 0, đồng nghĩa với mọi giao dịch đều đƣợc thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản qua hệ thống ngân hàng, thì số nhân tiền có giá trị là 1/r, đúng nhƣ kết quả nhận đƣợc trong ví dụ trên.
Từ phân tích trên, chúng ta rút ra mô hình về cung tiền nhƣ sau:
MS = mM x H (5.4)
Nhƣ vậy, cung tiền phụ thuộc vào tiền cơ sở và số nhân tiền. Cung tiền tăng khi tiền cơ sở và/hoặc số nhân tiền tăng; và ngƣợc lại. Mối quan hệ giữa cung tiền và tiền cơ sở đƣợc biểu diễn nhƣ sau:
Mức cung tiền (MS) Tiền cơ sở (H)
Tiền mặt (U)
Dự trữ (R)
Tiền gửi (D)
Hình 5.2: Mối quan hệ giữa cung tiền và tiền cơ sở
5.2.3. Cân bằng thị trường tiền tệ
Hình 5.3 biểu diễn cả hai đường: cung tiền và cầu tiền trên hệ trục tọa độ trong đó lãi suất đƣợc biểu diễn trên trục tung và lƣợng tiền đƣợc biểu diễn trên trục hoành.
Cung tiền đƣợc kiểm soát bởi ngân hàng trung ƣơng và đƣợc giả thiết là không phụ thuộc vào lãi suất, do vậy, nó được biểu diễn là đường thẳng đứng. Hay MS/P = Const (số cố định).
Lãi suất sẽ đƣợc điều chỉnh để cân bằng lƣợng cầu tiền và lƣợng tiền cung ứng.
Có một mức lãi suất đƣợc gọi là lãi suất cân bằng, tại đó lƣợng cầu tiền bằng đúng lƣợng tiền cung ứng.
Điều kiện cân bằng của thị trường tiền tệ: MS/P = MD/P
Khi sản lượng của nền kinh tế tăng, cầu về tiền tăng và đường MD dịch chuyển sang phải, lãi suất cân bằng tăng.