TỔNG CUNG CỦA NỀN KINH TẾ

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 88 - 92)

VÀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA

4.2. TỔNG CUNG CỦA NỀN KINH TẾ

Tổng cung (AS) là tổng khối lƣợng sản phẩm quốc dân mà các doanh nghiệp sẵn sàng sản xuất và bán ra trong một thời kỳ tương ứng với giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất đã cho.

Vì giá cả linh hoạt trong dài hạn và cứng nhắc trong ngắn hạn nên mối quan hệ này phụ thuộc vào khoảng thời gian mà chúng ta xem xét. Chúng ta cần phải xem xét về hai đường tổng cung khác nhau: đường tổng cung dài hạn (ASLR) và đường tổng cung ngắn hạn (ASSR)

Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung.

- Các nguồn lực: Lao động; Tài nguyên thiên nhiên; tƣ bản (máy móc, thiết bị và các công trình kiến trúc phục vụ cho quá trình sản xuất); công nghệ. Các nhà kinh tế sử dụng khái niệm sản lƣợng tiềm năng để phản ánh mức sản lƣợng mà nền kinh tế tạo ra khi các nguồn lực đƣợc sử dụng một cách hiệu quả.

- Mức giá chung: mức giá trung bình của nhiều loại hàng hóa (CPI, PPI, D).

- Chi phí sản xuất: Phụ thuộc vào giá các yếu tố đầu vào như tiền lương, giá nguyên liệu nhập khẩu…

4.2.2. Đường tổng cung ngắn hạn và dài hạn

Đường tổng cung là đường biểu diễn mối quan hệ giữa tổng mức cung và mức giá của nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực và giá cả các yếu tố đầu vào cho trước.

Hàm của đường tổng cung biểu diễn mối quan hệ giữa mức giá chung (P) và đường tổng cung (AS).

AS = f(P) 4.2.2.1. Đường tổng cung ngắn hạn

Trong ngắn hạn, có thể giả định là các nhân tố sản xuất không thay đổi, đường tổng cung trong ngắn hạn liên kết mức giá với mức sản lƣợng của nền kinh tế.

Đường tổng cung ngắn hạn là đường có hướng dốc lên. Nghĩa là trong vòng một hay hai năm, sự gia tăng trong mức giá chung có xu hướng làm tăng lượng cung về hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế và sự giảm sút mức giá có xu hướng làm giảm lƣợng cung về hàng hoá.

Đường tổng cung ngắn hạn là một đường đi lên, song tương đối thoải ở mức sản lƣợng thấp và rất dốc khi sản lƣợng vƣợt quá mức tiềm năng. Điều này đã đƣa đến câu hỏi tại sao đường tổng cung ngắn hạn dốc lên?

Khi mức giá vƣợt quá mức dự kiến, sản lƣợng sẽ vƣợt quá mức tự nhiên và khi mức giá thấp hơn mức dự kiến, sản lượng giảm xuống dưới mức tự nhiên của nó. Trong ngắn hạn một sự giảm giá từ P1 xuống P2 làm tổng cung giảm từ Y1 xuống Y2. Mối quan hệ này có thể do nhận thức sai lầm, tiền lương cứng nhắc, hay giá cả cứng nhắc. Theo thời gian, nhận thức, tiền lương và giá cả điều chỉnh, do đó mối quan hệ thuận này chỉ có tính tạm thời.

Lý thuyết nhận thức sai lầm: theo lý thuyết này, sự thay đổi trong mức giá chung có thể tạm thời làm cho các nhà cung cấp nhận thức sai lầm về tình hình diễn ra các thị trường cá biệt mà họ bán sản phẩm của mình. Do nhận thức sai lầm của mình trong ngắn hạn, các nhà cung cấp phản ứng lại những thay đổi trong mức giá bằng cách cắt giảm sản lƣợng cung hàng hoá và dịch vụ khi thấy giá giảm hay họ sẽ tăng cung hàng hoá và dịch vụ khi thấy giá tăng, phản ứng này dẫn đến đường tổng cung dốc lên trong ngắn hạn.

Lý thuyết tiền lương cứng nhắc: cách lý giải thứ hai cho đường tổng cung ngắn hạn dốc lên là lý thuyết tiền lương cứng nhắc. Lý thuyết này cho rằng đường tổng cung ngắn hạn dốc lên vì tiền lương danh nghĩa điều chỉnh chậm chạp hay “cứng nhắc” trong ngắn hạn. Sự điều chỉnh chậm chạp của tiền lương là do sự ràng buộc bởi các hợp đồng lao động giữa người lao động và doanh nghiệp, do các quy phạm xã

ASSR

P

Y

ASLR

Hình 4.6: Đường tổng cung ngắn hạn Y*

P1

P2

Y2 Y1

hội hay do cảm nhận về sự công bằng. Tất cả những nguyên nhân này ảnh hưởng đến quy định tiền lương và chỉ thay đổi chậm chạp theo thời gian.

Do tiền lương không thay đổi ngay theo sự thay đổi của giá, nên mức giá thấp hơn làm cho việc làm và sản xuất đem lại ít lợi nhuận hơn và điều này làm cho các doanh nghiệp giảm lƣợng cung về hàng hoá và dịch vụ. Trái lại, sự gia tăng mức giá làm giảm tiền lương thực tế, làm cho chi phí thuê lao động trở nên rẻ hơn. Tiền lương thực tế thấp hơn làm cho các doanh nghiệp thuê thêm lao động, lao động thuê thêm tạo ra nhiều sản lƣợng hơn.

Lý thuyết giá cả cứng nhắc: Lý thuyết này nhấn mạnh rằng giá cả hàng hoá và dịch vụ cũng chậm điều chỉnh đáp lại các điều kiện kinh tế thay đổi. Sự thay đổi chậm chạp trong giá cả một phần là do chi phí để điều chỉnh giá cả, gọi là chi phí thực đơn (những chi phí này bao gồm chi phí in và phân phối các catalô và thời gian để thay đổi các nhãn giá…) Vì lý do này giá cả và tiền lương có thể cứng nhắc trong ngắn hạn.

Do không phải tất cả các loại giá cả đều điều chỉnh ngay lập tức khi điều kiện kinh tế thay đổi, nên sự giảm sút bất ngờ trong mức giá có thể làm cho một số doanh nghiệp có giá bán cao hơn mức mong muốn và điều này làm giảm số lƣợng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất.

Mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa mức giá và sản lượng hàm ý đường tổng cung dốc lên trong khi tiền lương danh nghĩa chưa điều chỉnh.

4.2.2.2. Đường tổng cung dài hạn

Trong dài hạn, giá cả là linh hoạt, tổng cung không phụ thuộc vào mức giá chung mà bị quy định bởi khối lƣợng vốn, lao động và trình độ công nghệ hiện có.

Đường tổng cung dài hạn là một đường thẳng đứng, mức sản lượng dài hạn này đƣợc gọi là sản lƣợng tự nhiên hay sản lƣợng tiềm năng, là mức sản lƣợng đƣợc tạo ra khi các nguồn lực của nền kinh tế đƣợc sử dụng hết.

Theo các nhà kinh tế cổ điển, giá cả các yếu tố sản xuất là linh hoạt cho nên thị trường sẽ tự điều chỉnh để sử dụng hết các yếu tố sản xuất. Do đó, sản lượng không phụ thuộc vào tổng cầu mà chỉ phụ thuộc vào khối lƣợng tƣ bản, lao động và công nghệ hiện có (tổng cung). Nền kinh tế luôn cân bằng tại mức sản lƣợng toàn dụng các nguồn lực. Tổng cầu thay đổi chỉ làm thay đổi giá cả chứ không ảnh hưởng tới sản lƣợng quốc gia.

Đường tổng cung của phái cổ điển là một đường thẳng đứng ứng với một mức sản lƣợng toàn dụng các nguồn lực gọi là sản lƣợng tiềm năng (Yp: Potential output).

Sản lƣợng tiềm năng là mức sản lƣợng mà quốc gia đạt đƣợc trong tình trạng nền kinh tế toàn dụng các nguồn lực (tồn tại một mức thất nghiệp gọi là thất nghiệp

tự nhiên). Đường tổng cung thẳng đứng cho thấy sản lượng không phụ thuộc vào mức giá.

4.2.3. Sự di chuyển dọc đường tổng cung và dịch chuyển đường tổng cung 4.2.3.1. Sự di chuyển dọc theo đường tổng cung

Sự di chuyển dọc theo đường tổng cung phản ánh sự thay đổi của lượng tổng cung do sự thay đổi của mức giá trong khi các biến số khác ảnh hưởng đến tổng cung đƣợc coi là không đổi.

4.2.3.2. Sự dịch chuyển đường tổng cung

Sự dịch chuyển của đường tổng cung xảy ra khi có sự thay đổi của các biến số khác ngoài giá.

a. Đối với đường tổng cung ngắn hạn

- Sự dịch chuyển phát sinh từ lao động: Sự gia tăng của lƣợng lao động hiện có (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên giảm) làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải. Sự giảm sút lượng lao động hiện có (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng ) làm dịch chuyển đường tổng cung sang trái.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ tư bản: sự tăng khối lƣợng lao động hiện có hoặc vốn nhân lực làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải. Sự giảm sút khối lượng tư bản hiện vật hoặc vốn nhân lực làm dịch chuyển đường tổng cung sang trái.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ tài nguyên thiên nhiên: sự gia tăng tài nguyên thiên nhiên có làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải. Sự suy giảm của tài nguyên thiên nhiên hiện có làm dịch chuyển đường tổng cung sang trái.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ công nghệ: tiến bộ trong tri thức công nghệ làm cho đường tổng cung dịch chuyển sang phải. Sự giảm sút của công nghệ (do quy định của Chính phủ) làm cho đường tổng cung dịch chuyển sang trái.

P

Y

LAS

Hình 4.7: Đường tổng cung dài hạn Y*

- Sự dịch chuyển phát sinh từ mức giá dự kiến: sự giảm sút của mức giá dự kiến làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang phải. Sự gia tăng của mức giá dự kiến làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang trái.

b. Đối với đường tổng cung dài hạn:

Bất kỳ yếu tố nào trong nền kinh tế làm thay đổi mức sản lƣợng tự nhiên cũng làm dịch chuyển đường tổng cung dài hạn.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ lao động: Một nền kinh tế có sự gia tăng làn sóng nhập cư từ nước ngoài, do đó có nhiều lao động hơn, lượng cung về hàng hoá và dịch vụ tăng lên. Kết quả là đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải. Ngược lại, nếu nhiều công nhân rời bỏ nền kinh tế để ra nước ngoài, đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang trái. Ngoài ra, thất nghiệp tự nhiên cũng ảnh hưởng đến tổng cung dài hạn. Nếu tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên tăng và sản lƣợng giảm làm cho tổng cung dài hạn dịch chuyển sang trái và ngƣợc lại.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ tư bản (thiết bị, máy móc): sự gia tăng khối lƣợng tƣ bản làm tăng năng suất, do đó làm tăng sản lƣợng cung về hàng hóa dịch vụ. Tổng cung dài hạn dịch chuyển sang phải. Ngƣợc lại, sự suy giảm trong khối lƣợng tƣ bản làm giảm năng suất, giảm lượng cung về hàng hoá và dịch vụ, làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang trái.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ tài nguyên thiên nhiên: Nền sản xuất của một quốc gia phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của nó nhƣ đất đai, khoáng sản, thời tiết…việc khám phá ra một mỏ khoáng sản có thể làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải. Sự thay đổi thời tiết có thể làm cho hoạt động canh tác khó khăn hơn và đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang trái.

- Sự dịch chuyển phát sinh từ tri thức công nghệ: Có lẽ lý do quan trọng nhất để hiện nay chúng ta sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn thế hệ trước là sự tiến bộ trong tri thức công nghệ. Việc phát minh ra máy tính đã giúp chúng ta sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ với lƣợng lao động, tƣ bản và tài nguyên thiên nhiên nhƣ cũ kết quả là điều này làm dịch chuyển đường tổng cung sang phải.

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Kinh tế học vĩ mô (Trang 88 - 92)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(211 trang)