Nội dung quản trị tác nghiệp NHTM

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 53 - 72)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

1.3. QUẢN TRỊ TÁC NGHIỆP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.3.2. Nội dung quản trị tác nghiệp NHTM

Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại bao gồm nhiều nội dung, nhưng có thể phân thành 5 nhóm vấn đề chính sau đây:

- Quản trị vốn chủ sở hữu.

- Quản trị nợ.

- Quản trị tài sản.

- Quản trị các hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán.

- Quản trị khả năng thanh khoản.

1.3.2.1. Qun tr vn ch s hu

Khái nim vn ch s hu

Vốn chủ sở hữu (còn gọi là vốn tự có) là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng là bộ phận nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của những người chủ ngân hàng, bao gồm trị giá thực có của vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ dự trữ.

Theo quá trình hình thành, vốn tự có bao gồm vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh.

* Vốn đầu tư ban đầu: Loại vốn này do các chủ sở hữu ngân hàng đóng góp khi thành lập. Tuỳ theo hình thức pháp lý của ngân hàng mà chủ đầu tư góp vốn ban đầu có khác nhau, ví dụ: vốn tự có ban đầu của các ngân hàng thương mại nhà nước do ngân sách nhà nước cấp, các ngân hàng thương mại cổ phần do các cổ đông góp vốn điều lệ… Mức vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phụ thuộc vào mức vốn góp của các chủ sở hữu ngân hàng nhưng không được thấp hơn mức vốn pháp định mà Chính phủ đã quy định.

Mặc dù vốn điều lệ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng nhưng nó có ý nghĩa rất lớn: là căn cứ pháp lý để thành lập ngân hàng, là một tiêu chí đánh giá quy mô cũng như năng lực hoạt động của ngân hàng thương mại.

* Vốn bổ sung thêm trong quá trình kinh doanh: Trong quá trình hoạt động, vốn tự có của ngân hàng có thể được tăng thêm từ các nguồn sau:

+ Thứ nhất, lợi nhuận chưa phân phối. Khi ngân hàng kinh doanh có lợi nhuận và chưa phân phối, sử dụng chúng theo những mục đích nhất định nào đó, ngân hàng có thể sử dụng số lợi nhuận này bổ sung vốn kinh doanh.

+ Thứ hai, các quỹ của ngân hàng. Trong quá trình kinh doanh, các ngân hàng thương mại phải, hoặc có thể trích lập một số quỹ từ lợi nhuận nhằm sử dụng cho những mục đích nhất định. Tuy vậy, khi số tiền của quỹ chưa sử dụng đến theo đúng mục đích lập quỹ, ngân hàng có thể tạm thời huy động làm nguồn vốn kinh doanh. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Các Tổ chức tín dụng, hàng năm ngân hàng phải trích từ lợi nhuận sau thuế để lập và duy trì các quỹ: quỹ dự trữ, quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng…

+ Thứ ba, vốn ngân sách cấp bổ sung. Đối với các NHTM nhà nước, trong quá trình kinh doanh có thể được ngân sách cấp phát thêm vốn.

Mức cấp phát thêm tuỳ thuộc vào nhu cầu tăng trưởng vốn, khả năng nguồn vốn ngân sách và chính sách của Chính phủ.

+ Thứ tư, phát hành thêm cổ phiếu mới. Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần trong quá trình kinh doanh, nếu muốn tăng thêm vốn tự có có thể thực hiện bằng cách phát hành cổ phiếu.

Ngoài ra, trong quản lí nhà nước đối với hoạt động ngân hàng, khi tính vốn chủ sở hữu làm cơ sở cho việc xác định hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio - CAR) của các NHTM, vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu cơ bản và vốn chủ sở hữu bổ sung. Vốn chủ sở hữu cơ bản (còn gọi là vốn cấp 1) gồm vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp, vốn đã góp), quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng (dự phòng tài chính, dự phòng rủi ro), quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ và lợi nhuận không chia.

Vốn chủ sở hữu bổ sung (còn gọi là vốn cấp 2) là nguồn vốn chủ sở hữu nhưng có tính ổn định thấp và phụ thuộc vào quy mô nguồn vốn cơ bản, bao gồm phần giá trị tăng thêm của tài sản cố định (TSCĐ) và các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại, trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do ngân hàng phát hành có thời hạn dài. Đây là bộ phận Nợ nhưng có tính chất ổn định, do đó khi tính hệ số an toàn vốn, Ngân hàng Thanh toán quốc

tế và Ngân hàng Trung ương của các quốc gia có thể cho phép tính thêm loại vốn này coi như vốn chủ sở hữu.

Ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN, vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm:

Vn cp 1:

- Vốn điều lệ thực có (vốn đã được cấp, vốn đã góp).

- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ.

- Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ (trích 50% lãi ròng hàng năm).

- Lợi nhuận không chia (hay lợi nhuận giữ lại).

Vn cp 2:

- 50% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản cố định theo quy định của pháp luật.

- 40% số dư có tài khoản đánh giá lại tài sản tài chính theo quy định của pháp luật.

- Quỹ dự phòng tài chính.

- Trái phiếu chuyển đổi do ngân hàng phát hành thỏa mãn những điều kiện quy định.

- Các công cụ nợ khác thỏa mãn những điều kiện quy định.

Khi tính vốn cấp 1 và cấp 2 còn quy định các giới hạn và các khoản giảm trừ.

Cần lưu ý rằng, cách tính vốn chủ sở hữu theo quy định của NHNN chỉ được sử dụng trong hoạt động quản lí để xác định hệ số an toàn vốn (CAR) của mỗi ngân hàng. Về mặt pháp lí, vốn chủ sở hữu chỉ bao gồm các khoản vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng.

Ở các nước phát triển, vốn chủ sở hữu bổ sung của ngân hàng còn bao gồm: thặng dư vốn, thu nhập từ các công ty thành viên...

Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại đóng một vai trò hết sức quan trọng, tạo nên những nguồn lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng,

giúp ngân hàng duy trì các hoạt động thường nhật, đảm bảo khả năng phát triển lâu dài và bền vững, giúp ngân hàng chống lại rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và của các cổ đông vào khả năng quản lý và phát triển của ngân hàng. Thông thường, vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng nhưng lại giữ vai trò quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành các nguồn vốn khác, quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng; là căn cứ để xác định giới hạn an toàn trong kinh doanh, giới hạn huy động vốn, cho vay và đầu tư vào tài sản cố định (TSCĐ)...

Ni dung qun tr vn ch s hu

Nội dung quan trọng trong quản trị vốn chủ sở hữu là: (1) Đánh giá thực trạng vốn chủ sở hữu; (2) Lựa chọn phương pháp tạo nguồn để phát triển vốn chủ sở hữu thích hợp với nhu cầu hoạt động và yêu cầu quản lí;

(3) Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tạo nguồn.

- Đánh giá thc trng vn ch s hu

Các hệ số thường được sử dụng để đánh giá an toàn trong hoạt động ngân hàng gồm:

+ Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tiền gửi

Nhiều quan điểm cho rằng, tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tiền gửi càng cao thì ngân hàng càng an toàn, do quy mô tiền gửi phản ánh trách nhiệm chi trả. Các cơ quan quản lí ngân hàng ở nhiều nước đã quy định tỉ lệ tối đa vốn chủ sở hữu trên tiền gửi và coi đó như một tiêu thức xác định an toàn trong thanh toán. Hệ số này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và nhiều nước khác trước những năm 50. Ví dụ, ở Mỹ quy định tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tiền gửi tối thiểu là 1/10; ở Việt Nam, NHNN quy định tỉ lệ này là 1/20. Tuy nhiên, nếu tỉ lệ này quy định quá thấp sẽ ràng buộc khả năng mở rộng tiền gửi để đáp ứng nhu cầu cho vay của ngân hàng.

Mặc dù là một chỉ tiêu tài chính quan trọng, nhưng nó không phải là yếu tố duy nhất tác động đến rủi ro. Rủi ro ngân hàng còn chịu tác động của một mảng hoạt động rất quan trọng, hoạt động sử dụng vốn - tài sản của ngân hàng.

+ Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản

Hệ số này được nhiều nước sử dụng từ đầu những năm 50 đến nay.

Ví dụ, ở Mỹ quy định tỉ lệ vốn chủ sở hữu cơ bản trên tổng tài sản có tối thiểu là 5,5%.

+ Hệ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro

Hệ số này ra đời và được sử dụng với mục đích tiêu chuẩn hóa những đòi hỏi về vốn ngân hàng trên phạm vi quốc tế. Nó được ghi nhận trong Hiệp ước Basel, được kí kết vào năm 1988 giữa các nước công nghiệp lớn, có hiệu lực từ 1/1/1989. Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện quy định này từ 1/1/1993.

Vốn chủ sở hữu Tỉ lệ an toàn vốn =

Tài sản Có điều chỉnh trên cơ sở rủi ro ≥ 8%

Trong vốn chủ sở hữu, vốn cấp 1 phải duy trì tối thiểu 4% tổng tài sản có rủi ro.

Ở Việt Nam, theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 của NHNN tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (riêng lẻ và hợp nhất) phải duy trì ở mức tối thiểu là 9%. Tổng tài sản “Có” rủi ro là tổng tài sản “Có” nội bảng và tài sản “Có” ngoại bảng được điều chỉnh theo hệ số rủi ro. Dựa trên mức độ rủi ro, các hệ số rủi ro cho tài sản “Có” nội bảng gồm 6 nhóm là 0%, 20%, 50%, 100%, 150% và 250%. Đối với tài sản “Có”

ngoại bảng giá trị của tài sản này trước tiên phải được chuyển đổi từ giá trị ngoại bảng sang nội bảng theo các hệ số chuyển đổi 100%, 50%, 20%, 0%, 0,5%, 1%, 2%, 5% trước khi nhân với các hệ số rủi ro.

Ví dụ: một khoản bảo lãnh dự thầu có giá trị 1.000.000 đồng có hệ số chuyển đổi là 50% và hệ số rủi ro là 100% thì giá trị tài sản “Có” rủi ro tương ứng sẽ là (1.000.000 đồng x 50% x 100% = 500.000 đồng).

- La chn phương pháp to ngun để phát trin vn ch s hu thích hp vi nhu cu hot động

Có hai hướng cơ bản để gia tăng vốn chủ sở hữu ngân hàng là:

+ Tăng vốn từ bên ngoài, có nghĩa là ngân hàng thu hút thêm vốn đầu tư mới bằng cách phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu...

+ Tăng vốn từ bên trong, có nghĩa là ngân hàng tăng vốn đầu tư mà không làm tăng thêm chủ sở hữu bằng cách gia tăng tỉ lệ lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn hay các quỹ của ngân hàng.

- Xây dng và t chc thc hin kế hoch to ngun: thực chất là áp dụng các biện pháp để đảm bảo quy mô và cấu trúc vốn chủ sở hữu sao cho phù hợp với kế hoạch đã hoạch định, phù hợp với yêu cầu kinh doanh, quy định của pháp luật, đồng thời tìm kiếm các biện pháp tăng vốn chủ sở hữu một cách có hiệu quả trên quan điểm lợi ích của chủ sở hữu.

Trong các nội dung quản lí nêu trên, xác định tỉ lệ vốn chủ sở hữu trong mối quan hệ với tiền gửi, với tổng tài sản và tổng tài sản có rủi ro là một nội dung quan trọng, vừa để đảm bảo an toàn, vừa là để tuân thủ các quy định pháp luật trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

1.3.2.2. Qun tr N

Khái nim N

Nợ (còn gọi là tài sản Nợ) của ngân hàng là nghĩa vụ tiền tệ của ngân hàng đối với người gửi tiền và các chủ nợ của ngân hàng tính đến một thời điểm nhất định. Nợ của ngân hàng được hình thành từ việc huy động tiền gửi và đi vay của các tổ chức và cá nhân trên thị trường tài chính. Ngân hàng không có quyền sở hữu, định đoạt mà chỉ có quyền sử dụng các tài sản này trong những khoảng thời gian nhất định. Thông thường, đây là tài sản bằng tiền của các tổ chức, cá nhân mà ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có trách nhiệm hoàn trả. Nợ là nguồn vốn lớn và chủ yếu của bất kì NHTM nào. Nó bao gồm nhiều loại khác nhau như: vốn huy động (tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng từ có giá), vốn vay của các TCTD và NHTW, các nguồn vốn khác (vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ cho các chương trình dự án...

Mc đích ca qun tr N

Việc quản trị Nợ của NHTM nhằm mục đích:

- Tìm kiếm, khai thác các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu về quy mô cho vay và đầu tư.

- Đa dạng hóa các nguồn nhằm tìm kiếm cơ cấu nguồn có chi phí thấp nhất, giảm thiểu rủi ro và phù hợp với nhu cầu sử dụng.

- Duy trì tính ổn định của nguồn vốn, kết hợp với việc tìm kiếm các công cụ nợ mới nhằm phát triển thị trường nợ của ngân hàng.

- Đảm bảo nguồn vốn của ngân hàng tăng trưởng ổn định, bền vững, nâng cao thị phần, thỏa mãn cao nhất các dịch vụ ngân hàng; đảm bảo khả năng thanh toán và hiệu quả kinh doanh ngân hàng.

Khó có thể khẳng định mục tiêu nào là quan trọng hơn trong các mục tiêu nêu trên, vì mỗi yêu cầu đều có những tác động riêng và có quan hệ tương tác lẫn nhau. Chính vì thế, việc chú trọng ưu tiên đến một mục tiêu nào tùy thuộc vào các điều kiện, môi trường hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng trong từng thời kì.

Ni dung qun tr N ca NHTM

- Xây dựng kế hoạch nguồn vốn của ngân hàng (bao gồm kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết theo từng loại sản phẩm, theo thị trường, theo kì hạn...).

- Tổ chức huy động và điều hành vốn trong toàn hệ thống, phân định quyền hạn trách nhiệm của Hội sở và từng chi nhánh.

- Quản lí quy mô và cơ cấu nguồn vốn, quản lí kì hạn nợ và khả năng thanh toán nợ.

- Định giá các khoản nợ (xác định lãi suất huy động và lãi suất đi vay theo từng sản phẩm tiền gửi, tiền vay... phù hợp với chính sách lãi suất và quan hệ cung cầu vốn trên thị trường).

- Theo dõi, kiểm soát chi phí và rủi ro trong huy động vốn, đảm bảo quan hệ hợp lí giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Thành phần cơ bản của chi phí huy động vốn của các ngân hàng là các khoản chi trả tiền lãi cho số tiền gửi và tiền vay đã thực hiện, cùng với các khoản chi phí không dưới dạng lãi (chi phí tiền lương cho cán bộ,

nhân viên; chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí quảng cáo...) mà ngân hàng phải bỏ ra để huy động vốn.

Công tác quản trị Nợ của ngân hàng được đánh giá có chất lượng và hiệu quả cao về phương diện chi phí khi nó đạt được các lợi ích sau:

+ Tìm kiếm được nguồn vốn có chi phí thấp để đáp ứng nhu cầu cho vay và đầu tư trong khi vẫn thỏa mãn các yêu cầu tương xứng giữa huy động và sử dụng về các phương diện quy mô, thời gian, tính ổn định.

+ Tăng được lợi nhuận cho ngân hàng mà không nhất thiết phải chấp nhận những rủi ro cao do sức ép tăng chi phí vốn.

Trên thực tế, rủi ro đối với nợ thường thấp hơn rủi ro đối với tài sản.

Tuy nhiên, rủi ro đối với nợ là yếu tố quan trọng cấu thành tổng rủi ro của ngân hàng. Mỗi loại tiền gửi và tiền vay có đặc điểm rủi ro khác nhau và thay đổi theo các điều kiện của môi trường kinh doanh. Rủi ro đối với Nợ thường bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái...

Trong điều kiện lãi suất đầu vào và đầu ra của các ngân hàng do thị trường quyết định, rủi ro lãi suất có xảy ra hay không lệ thuộc vào tương quan giữa độ nhạy cảm lãi suất của các tài sản và nợ, hay lãi suất cho vay và lãi suất huy động, lãi suất đi vay, phụ thuộc vào kì hạn huy động và cho vay, vào loại lãi suất huy động mà ngân hàng lựa chọn trong từng thời kì (lãi suất cố định hay thả nổi)...

Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng thiếu hoặc mất khả năng thanh toán các khoản tiền gửi, hoặc tiền vay. Điều này do nhiều nguyên nhân như ngân hàng sử dụng quá mức tỉ lệ tiền gửi để cho vay, cho vay trung và dài hạn bằng nguồn ngắn hạn với tỉ lệ quá cao, khách hàng mất niềm tin từ ngân hàng dẫn đến việc rút tiền ồ ạt...

- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch nguồn vốn làm cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng kế hoạch nguồn vốn trong các thời kì tiếp theo.

Các bin pháp nâng cao kh năng huy động vn, gim thiu chi phí và ri ro

Để nâng cao khả năng huy động vốn, giảm thiểu những chi phí và rủi ro cho ngân hàng trong khâu quản trị Nợ, các NHTM cần quan tâm giải quyết thỏa đáng các vấn đề sau:

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 53 - 72)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)