1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Có hai quan điểm khác nhau về dịch vụ ngân hàng:
- Theo nghĩa rộng, dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của ngân hàng. Quan điểm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như cách phân loại của nhiều nước phát triển trên thế giới.
- Theo nghĩa hẹp, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các nghiệp vụ ngân hàng theo chức năng của một trung gian tài chính (huy động tiền gửi, cho vay).
Như vậy, dịch vụ ngân hàng chỉ bao gồm những hoạt động ngoại bảng, dịch vụ thu phí như chuyển tiền, bảo lãnh, thanh toán quốc tế...
Trong phạm vi giáo trình này, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, phù hợp với quan niệm phổ biến trên thế giới hiện nay.
Hình 1.3: Những dịch vụ cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay Trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng luôn cố gắng hoàn thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm mang đến nhiều tiện ích cho khách hàng. Khi chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao thì việc khách hàng tìm đến ngân hàng không chỉ đơn thuần sử dụng các dịch vụ truyền thống như vay tiền hay gửi tiền mà còn yêu cầu được phục vụ một cách toàn diện nhất.
1.2.2. Phân loại dịch vụ ngân hàng
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các NHTM ngày càng thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và các dịch vụ tài chính khác.
● Dựa vào bảng cân đối kế toán
Dựa vào bảng cân đối kế toán, người ta chia hoạt động ngân hàng thành hoạt động nội bảng và hoạt động ngoại bảng.
NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI
Dịch vụ
tín dụng Dịch vụ
đầu tư
Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ quản trị tiền mặt
Dịch vụ môi giới
Dịch vụ ngân hàng đầu tư/
bảo lãnh chứng khoán Dịch vụ
khác
Dịch vụ tài trợ thương mại
Dịch vụ quỹ đầu tư
Dịch vụ bảo hiểm
- Hoạt động nội bảng bao gồm tất cả các dịch vụ ngân hàng được phản ánh trên bảng cân đối kế toán. Các dịch vụ nội bảng có thể chia thành dịch vụ Nợ và Vốn chủ sở hữu (hay nghiệp vụ nguồn vốn) và dịch vụ Tài sản Có (hay nghiệp vụ sử dụng vốn).
+ Các dịch vụ Nợ và Vốn chủ sở hữu (nghiệp vụ nguồn vốn) bao gồm: nghiệp vụ tạo vốn chủ sở hữu, huy động tiền gửi khách hàng, nghiệp vụ tiền gửi và tiền vay các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi và vay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Kho bạc Nhà nước, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng… Ngoài ra, một số ngân hàng có thể nhận được các nguồn vốn khác như nguồn vốn ủy thác cho vay, ủy thác đầu tư, thu hộ, nguồn vốn trong thanh toán, vay từ ngân hàng mẹ...
+ Các dịch vụ Tài sản Có (sử dụng vốn) bao gồm: nghiệp vụ ngân quỹ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi của ngân hàng tại NHNN và các tổ chức tín dụng khác), cho vay đối với khách hàng, đầu tư chứng khoán, cho vay các tổ chức tín dụng (TCTD) khác…
- Hoạt động ngoại bảng bao gồm các dịch vụ không được phản ánh trên bảng cân đối kế toán của NHTM như dịch vụ thanh toán, bảo lãnh, ủy thác, đại lí, tư vấn và cung cấp thông tin...
Cách phân loại dịch vụ ngân hàng dựa vào bảng cân đối kế toán là kiểu phân loại truyền thống, phù hợp với mô hình ngân hàng cổ điển. Đối với một ngân hàng hiện đại, các dịch vụ ngân hàng ngoại bảng thường chiếm tỷ trọng lớn nhưng lại không được phản ánh trên bảng cân đối kế toán.
● Dựa vào đối tượng khách hàng
Dựa vào đối tượng khách hàng có thể chia hoạt động ngân hàng thành các dịch vụ đối với khách hàng là doanh nghiệp và dịch vụ đối với khách hàng là cá nhân.
- Các dịch vụ đối với khách hàng doanh nghiệp
Khách hàng doanh nghiệp là những khách hàng có tư cách pháp nhân như: DNNN, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. So với khách hàng cá nhân, số lượng khách hàng doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng doanh số giao dịch thường lớn hơn. Khi cung cấp
dịch vụ cho khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng có thể tiết kiệm được chi phí giao dịch do lợi thế về quy mô giao dịch. Tùy theo chiến lược phát triển của mỗi ngân hàng mà trong bộ máy kinh doanh của ngân hàng có thể tổ chức theo các nghiệp vụ kinh doanh, hoặc phân theo nhóm khách hàng doanh nghiệp: bộ phận dịch vụ khách hàng doanh nghiệp lớn, bộ phận dịch vụ khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng thương mại có thể thực hiện các nghiệp vụ sau: mở tài khoản tiền gửi thanh toán, dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giữa các doanh nghiệp, thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ, cho vay, bảo lãnh, môi giới chứng khoán, tư vấn tài chính...
Phân loại hoạt động kinh doanh theo đối tượng khách hàng giúp ngân hàng có cơ sở xây dựng chiến lược, tiếp cận và phục vụ khách hàng tốt hơn do dịch vụ cung cấp phù hợp với đặc điểm riêng của từng nhóm đối tượng khách hàng.
Bảng 1.3: Hệ thống dịch vụ ngân hàng