Cung và cầu thanh khoản của ngân hàng

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 97 - 101)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

2.3. QUẢN TRỊ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ DỰ TRỮ

2.3.1. Cung và cầu thanh khoản của ngân hàng

2.3.1.1. Tm quan trng ca vic đảm bo kh năng thanh khon ca ngân hàng

Thanh khoản là một vấn đề mang tính sống còn đối với một ngân hàng. Barings là ngân hàng đầu tư lâu đời nhất, danh tiếng và rất có uy

tín tại Anh, được thành lập năm 1762. Barings có uy tín tới nỗi Nữ hoàng Anh Elizabeth cũng là một trong những khách hàng truyền thống của ngân hàng này.

Tuy nhiên, một biến cố lớn đã xảy ra với Barings, ngân hàng này phải tuyên bố phá sản vào ngày 26/2/1995 do mất khả năng thanh khoản.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng mà các nhà quản lý thực hiện là đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý cho ngân hàng. Một ngân hàng được xem là có khả năng thanh khoản tốt nếu như nó có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp tại đúng thời điểm ngân hàng có nhu cầu. Khả năng thanh khoản không hợp lý là dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang có vấn đề về tài chính.

Để đảm bảo khả năng tồn tại, đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu thanh khoản. Yêu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét trong mô hình cung cầu thanh khoản.

2.3.1.2. Cung - cu thanh khon ca ngân hàng

Mô hình cung cầu thanh khoản cho biết những yếu tố ảnh hưởng làm tăng cầu về thanh khoản, đồng thời cũng chỉ ra những nguồn nào ngân hàng có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi cần vốn khả dụng.

Sau đây là các nguồn cung và cầu thanh khoản của ngân hàng:

● Cầu thanh khoản (LD - Liquidity Demand)

Cầu thanh khoản phản ánh nhu cầu chi trả tại một thời điểm của NHTM, bao gồm cầu rút tiền của khách hàng gửi tiền, các khoản thanh toán đối với kỳ phiếu và trái phiếu, cầu về vốn tài trợ cho khoản tín dụng chất lượng tốt, nghĩa vụ hoàn trả nợ vay đáo hạn của NHTM, chi phí phải trả, nghĩa vụ thanh toán với NSNN và các khoản thanh toán cổ tức.

- Khách hàng rút tiền gửi: đây là nhu cầu thanh khoản cơ bản, thường xuyên tức thời và vô điều kiện. Khoản tiền gửi khách hàng rút bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn; các khoản tiền gửi đáo hạn hoặc chưa đáo hạn…

- Các khoản thanh toán kỳ phiếu, trái phiếu: bao gồm nghĩa vụ thanh toán lãi và gốc trái phiếu và kỳ phiếu khi đến hạn.

- Cầu vốn tài trợ cho khoản tín dụng có chất lượng tốt: đối tượng vay vốn của quan hệ tín dụng này là nhóm khách hàng có quan hệ tín dụng lâu năm, chất lượng tín dụng tốt và NHTM muốn duy trì và phát triển quan hệ tín dụng với tập khách hàng này. Cầu về vốn tài trợ cho nhóm tín dụng có chất lượng tốt bao gồm nhu cầu vay mới, tăng trưởng hạn mức tín dụng và các khoản tín dụng ngân hàng đã cam kết thực hiện.

- Nghĩa vụ hoàn trả nợ vay đáo hạn của NHTM: bao gồm các khoản vay của ngân hàng trên thị trường tiền tệ, gồm các khoản vay đáo hạn trên thị trường liên ngân hàng, vay NHTW và các thỏa thuận mua lại.

- Các chi phí phải trả: bao gồm chi phí tiền lương, thưởng, bảo hiểm xã hội, chi mua sắm tài sản, chi khoản dịch vụ mua ngoài. Đây là các khoản chi phí hoạt động của NHTM có tính chất thường xuyên có tính định kỳ.

- Nghĩa vụ thanh toán với NSNN: bao gồm nghĩa vụ chi trả các khoản thuế.

- Thanh toán cổ tức cho cổ đông: bao gồm khoản tạm chi trả cổ tức và trả cổ tức theo quyết định của hội đồng quản trị. Các khoản chi trả cổ tức không có tính thường nhật mà phát sinh định kỳ theo quý hoặc theo năm.

● Cung thanh khoản (LS - Liquidity Supply)

Cung thanh khoản phản ánh dòng tiền NHTM thu được tại một thời điểm, bao gồm nguồn huy động mới từ tiền gửi và công cụ nợ, các khoản tín dụng được khách hàng hoàn trả, các khoản thu nhập, dòng tiền thu được từ chuyển hóa tài sản và vay trên thị trường tiền tệ.

- Nguồn huy động mới từ tiền gửi và công cụ nợ: bao gồm các khoản huy động tiền gửi mới của khách hàng và vốn huy động từ hoạt động phát hành trái phiếu, kỳ phiếu… Hoạt động huy động tiền gửi của NHTM tiến hành thường xuyên, thường nhật do đó nguồn tiền gửi là nguồn cơ bản bổ sung thiếu hụt thanh khoản. Nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu, kỳ phiếu không có tính thường nhật nhưng mức độ ổn định của nguồn cao hơn nguồn tiền gửi.

- Các khoản tín dụng được khách hàng hoàn trả: đây là nguồn cung thanh khoản có ý nghĩa rất quan trọng. Hoạt động thu hồi vốn tài trợ cho

hoạt động tín dụng được khách hàng thực hiện theo cam kết tín dụng.

Việc khách hàng có thực hiện đầy đủ và nghiêm túc cam kết tín dụng hay không quyết định đến khả năng mất vốn, do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập và quy mô cung thanh khoản.

- Các khoản thu nhập của NHTM: bao gồm các khoản thu nhập từ hoạt động nội bảng và thu nhập hoạt động ngoại bảng. Thu nhập từ hoạt động ngoại bảng như thu phí cung cấp dịch vụ thanh toán, dịch vụ ủy thác, bảo lãnh… là những khoản thu có tính thường xuyên thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ thu phí, do đó khi NHTM triển khai mở rộng cung ứng dịch vụ thì khoản thu nhập này sẽ là nguồn thu ổn định và có tính lâu dài.

- Dòng tiền thu được từ chuyển hóa tài sản: bao gồm các khoản thu được từ việc bán một bộ phận tài sản như trái phiếu kho bạc, tín phiếu kho bạc, cổ phiếu lấy tiền ngay nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản.

- Đi vay trên thị trường tiền tệ: để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời như khách hàng đột ngột rút tiền với quy mô lớn mà chưa có nguồn bù đắp, bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ… NHTM buộc phải vay trên thị trường tiền tệ. Sự mất cân đối thanh khoản và hoạt động vay trên thị trường tiền tệ có tính tạm thời, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động của NHTM.

● Quan hệ cung - cầu thanh khoản

Những nguồn cung và cầu thanh khoản là yếu tố quan trọng quyết định trạng thái thanh khoản ròng của ngân hàng tại bất cứ thời điểm nào.

Khi cầu về thanh khoản của ngân hàng vượt quá cung thanh khoản nhà quản lý phải đối phó với tình trạng thâm hụt thanh khoản, phải quyết định ngay nguồn vốn cần thiết để đáp ứng: huy động từ nguồn nào, ở đâu và vào lúc nào.

Ngược lại, nếu như tại một thời điểm nào đó, tổng cung vượt quá cầu thanh khoản - tình trạng dư thanh khoản xuất hiện, nhà quản lý phải xem xét cần đầu tư vào đâu, bao nhiêu và đến khi nào?

Thanh khoản mang ý nghĩa thời điểm rất lớn, hầu như mang tính tức thì, đòi hỏi người quản lý phải lập kế hoạch cẩn thận cho vấn đề ở đâu, khi nào và bao nhiêu cho nhu cầu thanh khoản.

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 97 - 101)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)