Quản trị khe hở kì hạn

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 94 - 97)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

2.2. QUẢN TRỊ KHE HỞ NHẠY CẢM LÃI SUẤT VÀ KHE HỞ KÌ HẠN

2.2.3. Quản trị khe hở kì hạn

2.2.3.1. Khe h k hn (Duration gap - D)

Khe hở kì hạn là chênh lệch giữa kì hạn hoàn vốn trung bình của tài sản và kì hạn hoàn trả trung bình của nợ.

Khe hở kỳ hạn (D) =

Kỳ hạn hoàn vốn trung bình

của tài sản

- Kỳ hạn hoàn trả trung bình của nợ

Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã bỏ ra để cho vay và đầu tư, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính sẽ nhận được (đi vào ngân hàng) trong tương lai.

Kỳ hạn hoàn trả trung bình của nợ là thời gian trung bình cần thiết để hoàn trả khoản vốn đã huy động, là thời gian trung bình của dòng tiền dự tính ra khỏi ngân hàng.

Công thức chung để tính kì hạn hoàn vốn và kì hạn hoàn trả như sau:

∑[(Khoản tiền dự tính thanh toán tại thời điểm t * t)/(1+YTM)t] DA/L =

∑[Khoản tiền dự tính thanh toán tại thời điểm t /(1+YTM) t] Hay:

∑ (Ct*t)/(1+YTM)t DA/L =

∑ Ct/(1+YTM)t Trong đó:

DA/L là kì hoàn vốn của tài sản/ nợ

t là khoảng thời gian khoản tiền được thanh toán Ct là giá trị khoản tiền dự tính thanh toán ở cuối kì t YTM là lãi suất đáo hạn/ lãi suất chiết khấu của dòng tiền Ví dụ: Một ngân hàng cho vay 1000 USD kì hạn 5 năm, với mức lãi suất 10%/ năm, trả lãi theo định kì vào cuối mỗi năm, trả gốc 1 lần khi đáo hạn.

Như vậy, dòng tiền ngân hàng dự tính sẽ thu được vào cuối mỗi năm từ năm thứ nhất đến năm thứ 5 chính là lãi vay, riêng năm thứ 5 còn thêm khoản nợ gốc là 1000 USD.

Với ví dụ trên, ta tính được lãi suất đáo hạn của khoản cho vay là 10%.

( )

( ) ( )

( )

( ) ( )

5

5 1

5

5 1

10% 1000 1000 5

1 10% 1 10%

10% 1000 1000

1 10% 1 10%

t t

t t

t

=

=

∗ ∗ + ∗

+ +

∗ +

+ +

t = 1 - 5 => DA = 4,17 (năm)

Theo công thức, nếu kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản không tương đương với kỳ hạn hoàn trả trung bình của nợ thì ngân hàng sẽ phải chịu rủi ro lãi suất. Điều này cũng có nghĩa là, khe hở kì hạn càng lớn thì tài sản ròng của ngân hàng (tổng tài sản - tổng vốn huy động) càng nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất, cụ thể:

- Khi khe hở kỳ hạn dương (D>0):

+ Nếu lãi suất thị trường bên nguồn và bên tài sản cùng tăng như nhau sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng, bởi vì giá trị tài sản giảm nhiều hơn nợ.

Ví dụ: nếu kì hạn hoàn vốn trung bình là 1,2 năm; kì hạn hoàn trả trung bình là 1 năm. Khi lãi suất huy động và cho vay trên thị trường cùng tăng 0,5% làm rủi ro đối với các khoản cho vay lớn hơn (do thời gian thu lãi theo lãi suất cũ lâu hơn - 1,2 năm) so với lợi ích đạt được từ huy động vốn (chi phí trả lãi theo lãi suất cũ tiếp tục tính trong thời gian ngắn hơn - 1 năm).

+ Nếu lãi suất thị trường bên nguồn và bên tài sản cùng giảm như nhau sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng.

- Khi khe hở kỳ hạn âm (D<0):

+ Nếu lãi suất thị trường bên nguồn và bên tài sản cùng tăng như nhau sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng.

+ Nếu lãi suất thị trường bên nguồn và bên tài sản cùng giảm như nhau sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng.

2.2.3.2. Qun tr khe h kì hn

Việc quản lí khe hở kì hạn được sử dụng để khắc phục nhược điểm của việc dựa vào khe hở nhạy cảm lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là chỉ chú trọng vào số liệu trên sổ sách kế toán của vốn mà không nghiên cứu đầy đủ tác động của rủi ro lãi suất đến giá trị thị trường của vốn. Hơn nữa, quản lí khe hở nhạy cảm lãi suất không đưa ra một con số cụ thể về mức độ rủi ro lãi suất tổng thể của ngân hàng.

Sử dụng kì hạn hoàn vốn và kì hạn hoàn trả để hạn chế rủi ro lãi suất Để phòng chống rủi ro lãi suất, các ngân hàng thường cố gắng duy trì cân đối giữa tài sản và nguồn vốn vay sao cho khe hở kỳ hạn tiến gần tới 0, lúc đó kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản sẽ gần bằng kỳ hạn

hoàn trả trung bình của nguồn vốn. Điều đó có nghĩa là, khi một ngân hàng thực sự quan tâm đến việc phòng chống rủi ro lãi suất thường lựa chọn những tài sản và nguồn vốn vay sao cho:

Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản (theo giá trị danh mục tài sản)

=

Kỳ hạn hoàn trả trung bình của nguồn vốn (theo giá trị của danh mục nợ)

Để đảm bảo khả năng thanh khoản, trong một ngân hàng, giá trị tài sản luôn luôn phải lớn hơn nợ, nên nếu ngân hàng muốn có khe hở kỳ hạn bằng 0 cần phải đảm bảo:

Tổng giá trị danh mục nợ Kỳ hạn hoàn vốn

trung bình theo giá trị tài sản =

Kỳ hạn hoàn trả trung bình theo giá trị

của danh mục nợ *

Tổng giá trị danh mục TS

Như vậy, để có thể loại bỏ rủi ro lãi suất, giá trị vốn vay phải thay đổi nhiều hơn giá trị tài sản.

● Những hạn chế trong quản trị khe hở kì hạn

Hạn chế trong việc quản lý khe hở kỳ hạn được thể hiện qua những điểm sau:

Thứ nhất, tìm kiếm các tài sản, nguồn vốn có kỳ hạn hoàn vốn và hoàn trả phù hợp với yêu cầu của ngân hàng là một vấn đề khó khăn.

Thứ hai, đối với một số loại tài khoản như tài khoản tiền gửi thanh toán, tài khoản tiền gửi tiết kiệm (đặc biệt là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn), ngân hàng không thể xác định được chính xác luồng tiền vào, ra khiến cho việc tính toán kỳ hạn hoàn trả trở nên rất khó khăn.

Mặc dù còn một số khó khăn trong quản lí khe hở kì hạn, tuy nhiên, nó vẫn được sử dụng để giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro lãi suất.

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 94 - 97)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)