II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
2.1. CHIẾN LƯỢC QUẢN TRỊ TÀI SẢN, NỢ
2.1.4. Chiến lược quản trị kết hợp tài sản và nợ
Cùng với sự phát triển của các chiến lược quản trị, nguy cơ rủi ro ngày càng cao trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đã tạo nên một phương pháp quản lý hoạt động ngân hàng mới, chiến lược quản trị kết hợp (quản trị tài sản - nợ). Đây là chiến lược dung hoà giữa quản trị tài sản (asset management) và quản trị nợ (liabilities management).
Để đạt được những mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài, hoạt động quản trị ngân hàng cần chú trọng kiểm soát quy mô, cấu trúc, thu nhập và chi phí của cả hai bên tài sản và nợ.
Ngân hàng là một tổ chức rất phức tạp, một ngân hàng được quản lí tốt, mọi quyết định cần được phối hợp với nhau để đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong hoạt động. Trong đó, các danh mục tài sản và nợ phải được nhìn nhận như một thể thống nhất trong quá trình đánh giá ảnh hưởng của chúng tới mục tiêu được đề ra, để đảm bảo khả năng sinh lời với mức độ rủi ro có thể chấp nhận.
Mục đích của quản trị tài sản - nợ là tạo lập và thực hiện các chiến lược củng cố Bảng cân đối kế toán, nhằm đảm bảo cho ngân hàng: có thể tối đa hóa hoặc ít nhất là ổn định mức thu nhập từ lãi (chênh lệch giữa thu từ lãi và chi từ lãi); tối đa hóa hoặc ít nhất là bảo vệ trị giá tài sản của ngân hàng (giá cổ phiếu) với mức rủi ro hợp lý.
Trước đây, không phải ngân hàng nào cũng có thể đánh giá toàn diện về danh mục tài sản - nợ của mình. Bởi vậy, trong một thời gian dài, với quan điểm Quản trị tài sản, khách hàng của ngân hàng là yếu tố chính quyết định quy mô và loại hình của các nguồn vốn mà ngân hàng có thể huy động. Ngân hàng chỉ quản lí quá trình phân bổ các nguồn vốn huy động thông qua việc quyết định xem khách hàng nào sẽ được vay vốn và hợp đồng vay vốn sẽ gồm những điều khoản nào. Đến thập kỷ 60 và 70, để đối phó với xu hướng gia tăng lãi suất và cạnh tranh gay gắt về nguồn
vốn, các ngân hàng bắt đầu quan tâm tới việc khơi mở những nguồn vốn mới, quản lí cấu trúc và chi phí của tiền gửi cũng như của các nguồn vốn phi tiền gửi. Đây được gọi là lý thuyết quản trị tài sản - nợ. Theo đó, ngân hàng tăng cường hoạt động quản lí nguồn vốn: quản lí chặt chẽ giá cả của nguồn vốn hay lãi suất mà ngân hàng phải thanh toán đối với các khoản tiền gửi và các khoản vốn vay nhằm đạt được mục tiêu về chi phí, quy mô và cấu trúc của nguồn vốn. Nếu nhu cầu vay vốn vượt quá lượng vốn khả dụng, ngân hàng có thể tăng lãi suất huy động để hút vốn. Và ngược lại, nếu nhu cầu vay vốn thấp hơn lượng vốn khả dụng, ngân hàng có thể hạ thấp lãi suất huy động.
Cho đến khi thị trường xuất hiện sự bất ổn định trong lãi suất ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, việc dung hòa giữa quản trị tài sản và nợ mới được sử dụng. Đây được gọi là chiến lược quản trị kết hợp. Những điểm chính cần lưu ý trong chiến lược quản trị kết hợp là:
(1) Để đạt được mục tiêu kế hoạch đã đề ra, nhà quản trị phải chú trọng kiểm soát quy mô, cấu trúc, chi phí và thu nhập của cả hai bên Tài sản và Nợ.
(2) Quản trị Tài sản - Nợ phải là một quá trình thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau để tối đa hóa thu nhập của ngân hàng đồng thời giúp kiểm soát chặt chẽ các rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt.
(3) Thu nhập và chi phí phát sinh từ cả Tài sản và Nợ. Do đó, chính sách của ngân hàng cần được điều chỉnh phù hợp nhằm tối đa hóa thu nhập, tối thiểu hóa chi phí trong mọi hoạt động của ngân hàng, dù hoạt động đó xuất phát từ phía Tài sản hay Nợ.
Thực tế cho thấy, ngân hàng khó có thể tự xác định mức lãi suất mà chỉ có thể dự đoán và điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt được mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất. Vì vậy, việc quản lí Chênh lệch lãi suất và Chênh lệch lãi suất cơ bản (còn gọi là Lãi suất cơ bản ròng/
Hệ số chênh lệch lãi thuần/ Hệ số thu nhập lãi ròng cận biên/ NIM - Net Interer Margin) có vai trò quan trọng trong quản lí kết hợp Tài sản và Nợ của ngân hàng.
Chênh lệch lãi suất là tỉ lệ giữa hiệu số của mức lãi thu được và số lãi phải trả với tổng giá trị tài sản của ngân hàng.
Thu từ lãi - Chi trả lãi Chênh lệch
lãi suất =
Tổng tài sản
Lãi suất cơ bản ròng là tỉ lệ giữa hiệu số của mức lãi thu được và số lãi phải trả với tổng giá trị tài sản sinh lãi.
Thu từ lãi - Chi trả lãi Lãi suất
cơ bản ròng =
Tổng tài sản sinh lãi
Trong lãi suất cơ bản ròng chưa bao gồm các thu nhập và chi phí ngoài lãi suất, chẳng hạn như thu phí dịch vụ ngân hàng, chi phí trả lương nhân viên, tiền thuê trụ sở, văn phòng, chi phí quản lý ngân hàng.
Tuy nhiên, lãi suất cơ bản ròng là một chỉ số quan trọng phản ánh ảnh hưởng của thay đổi lãi suất tới hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đối với những ngân hàng có các nguồn vốn như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có lãi suất cố định thì lãi suất cơ bản ròng thay đổi phụ thuộc vào biến động lãi suất trên thị trường cho vay và chứng khoán. Trong thời gian gần đây, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn có lãi suất thay đổi trở thành nguồn vốn quan trọng của ngân hàng thì việc quản lý lãi suất cơ bản ròng ngày càng trở lên phức tạp.
Bảng 2.1: Kết cấu tài sản, nguồn vốn của ngân hàng ABC ĐVT: triệu USD Tài sản Giá trị Lãi suất
(%)
Nguồn vốn Giá trị Lãi suất (%) 1. Ngân quỹ
2. Đầu tư CK các loại 3. Cho vay
4. Tài sản khác
1.400 1.750 5.250 350
0 9 13,5
6
1. Tiền gửi tiết kiệm 2. Tiền vay
3. Vốn ngân hàng
4.375 3.850 525
8,5 5,8
Tổng 8.750 8.750
Thu lãi từ các tài sản sinh lãi:
1.400 x 0% +1.750 x 9% + 5250 x 13,5% + 350 x 6% = 887,25
Chi lãi cho các nguồn vốn huy động:
4.375 x 8,5% + 3.850 x 5,8% = 595,175
Chênh lệch thu chi lãi suất : 887,25 - 595,175 = 292,075 Tài sản sinh lãi: 8.750 - 1.400 = 7.350
Lãi suất cơ bản ròng: 292,075/7.350 x 100% = 3,97 %