II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
4.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
4.1.4. Phương pháp xác định lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay hay giá cả của việc sử dụng vốn vay là công cụ tạo ra nguồn thu nhập cho ngân hàng, giúp ngân hàng nâng cao khả năng cạnh tranh.
Việc xác định lãi suất cho vay được dựa trên các thông số về mức sinh lời kỳ vọng của ngân hàng, rủi ro tín dụng của khoản vay và tỷ lệ an toàn vốn vay. Ngoài ra, lãi suất cho vay còn bị tác động bởi lãi suất tái
chiết khấu do Ngân hàng Nhà nước quy định hoặc lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
Để xác định lãi suất cho vay hợp lý đòi hỏi các ngân hàng phải xác định đầy đủ khoản mục chi phí phải chi ra. Các yếu tố cấu thành lãi suất cho vay bao gồm chi phí cơ hội của vốn chủ sở hữu, chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động của ngân hàng và chi phí rủi ro tín dụng.
Căn cứ vào các yếu tố trên, ngân hàng có thể xác định lãi suất cho vay theo một trong hai phương pháp sau đây:
● Phương pháp cạnh tranh theo lãi suất thị trường
Theo phương pháp này, ngân hàng sẽ dựa vào lãi suất cho vay của các nhóm tổ chức tín dụng trên thị trường để tính lãi suất cho vay trung bình của thị trường cho từng kỳ hạn, trên cơ sở đó quyết định mức lãi suất sàn làm cơ sở xác định lãi suất cho vay.
● Phương pháp điều chỉnh rủi ro trên giá vốn - mô hình RAROC (Risk Adjusted Return on Capital)
Phương pháp RAROC ra đời vào cuối thập niên 70, do một nhóm nghiên cứu tại Banker’s Trust. Ý tưởng ban đầu của nhóm này là sử dụng mô hình có điều chỉnh rủi ro trên giá vốn để đo lường rủi ro của danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng, cũng như rủi ro lãi suất khi huy động vốn. Kể từ đó, một số ngân hàng lớn khác đã phát triển phương pháp RAROC ứng dụng trong tất cả các hoạt động của mình với mục đích là định lượng số lượng vốn cần thiết để hỗ trợ tất cả các hoạt động kinh doanh - dựa trên chi phí các hoạt động kinh doanh, cũng như chi phí khi huy động vốn.
Dựa theo phương pháp này, các ngân hàng sẽ tùy theo mức độ rủi ro của từng khoản tín dụng để điều chỉnh lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay được tính toán theo công thức sau:
Lãi suất cho vay = Tỉ lệ chi phí vốn cho vay + Tỉ suất lợi nhuận kỳ vọng Cấu thành trong chi phí vốn cho vay bao gồm:
1. Chi phí vốn chủ sở hữu (%), được xác định bằng tích số giữa vốn chủ sở hữu phân bổ cho khoản vay và chi phí cơ hội trước thuế của vốn chủ sở hữu.
2. Chi phí huy động vốn (%)
3. Chi phí hoạt động của ngân hàng (%) 4. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng (%) 5. Chi phí thanh khoản (%)
Ví dụ: Giả sử có thông tin về chi phí của một khoản cho vay như sau:
- Chi phí huy động vốn: 5%
- Dự phòng rủi ro tín dụng: 1%
- Chi phí trực tiếp: 0,5%
- Chi phí gián tiếp: 0,25%
- Chi phí chung: 0,25%
Tổng chi phí chưa kể chi phí vốn: 7%
Chi phí vốn chủ sở hữu: 2,13%
Lãi suất cho vay: 9,13%
Trong đó, chi phí vốn chủ sở hữu được xác định bằng tích số giữa vốn chủ sở hữu phân bổ cho khoản vay là chi phí cơ hội trước thuế của vốn chủ sở hữu. Trong ví dụ này, giả sử vốn chủ sở hữu phân bổ cho khoản vay là 10% và chi phí cơ hội của vốn chủ sở hữu là 16%. Như vậy, chi phí vốn sau thuế là 10% x 16% = 1,6%. Nếu thuế suất thuế thu nhập ngân hàng là 25% thì chi phí vốn chủ sở hữu trước thuế là 1,6/(1-0,25) = 2,13%.
Sau khi tính toán được mức lãi suất cho vay, tùy theo mức độ rủi ro của khoản vay, quan hệ khách hàng và sự cạnh tranh trên thị trường, ngân hàng sẽ tự quyết định mức lãi suất cho vay đối với khách hàng nhưng không được thấp hơn mức lãi suất sàn đã quy định. Ngân hàng có các mức lãi suất cho vay khác nhau tùy theo thời hạn cho vay, tùy theo loại tiền và có thể là cả khách hàng vay vốn…
Lãi suất cho vay do Ban giám đốc ngân hàng thông qua và được phổ biến đến mọi cán bộ tín dụng. Tùy tình hình thực tế nếu khách hàng có yêu cầu, mức lãi suất có thể được thương lượng và điều chỉnh trong một giới hạn cho phép. Ngân hàng có thể áp dụng lãi suất thả nổi hoặc lãi
suất cố định cho những khách hàng có yêu cầu. Trong một số trường hợp, ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng vay vốn áp dụng cả hai loại lãi suất trên một khoản vay (lãi suất hỗn hợp).