II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
4.2. CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY CỦA NHTM
4.2.1. Các phương thức cho vay ngắn hạn
Trong cho vay ngắn hạn có nhiều phương thức cho vay như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, bao thanh toán, cho vay qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng...
Tuy nhiên, sau đây chỉ đề cập đến một số phương thức cho vay phổ biến, thông dụng: cho vay từng lần (còn gọi là cho vay theo món), cho vay theo hạn mức tín dụng, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay thấu chi và bao thanh toán.
4.2.1.1. Cho vay từng lần
Phương thức cho vay từng lần là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, người vay và tổ chức tín dụng đều làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Từng khoản vay là một hợp đồng tín dụng và gắn với một phương án sử dụng vốn cụ thể.
Căn cứ vào hồ sơ xin vay, ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu bảo đảm tiền vay.
Ngân hàng sẽ phát tiền vay cho người vay dựa vào hợp đồng tín dụng. Việc phát tiền vay có thể được thực hiện một hoặc nhiều lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của người vay. Tiền vay có thể chuyển thẳng cho người thụ hưởng (căn cứ vào chứng từ thanh toán)
hoặc chuyển về tài khoản tiền gửi của người vay hoặc cho người vay nhận tiền mặt trực tiếp v.v… Mỗi lần nhận tiền vay người vay phải lập
“Giấy nhận nợ”. Trên giấy nhận nợ phải ghi thời hạn cho vay cụ thể, đảm bảo không vượt so với thời hạn cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng. Tổng số tiền cho vay trên các giấy nhận nợ không được vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng.
Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Người vay phải chủ động trả tiền cho ngân hàng. Nếu người vay không chủ động trả, hoặc không đủ số tiền quy định cho một kỳ hạn trả nợ, và người vay không được ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ, ngân hàng được quyền chuyển số tiền nợ phải trả nhưng chưa trả được sang nợ quá hạn. Người vay phải trả lãi cho số nợ quá hạn này với lãi suất cao hơn.
Nếu quá thời gian cho phép mà người vay vẫn không có khả năng thanh toán thực sự thì ngân hàng được quyền phát mại tài sản thế chấp của người vay để thu nợ, hoặc phong toả tài sản người vay, hoặc có thể khởi kiện trước pháp luật.
Nghiệp vụ cho vay từng lần là tương đối đơn giản, do vậy ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt.
4.2.1.2. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Đây là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định, thông thường không quá 12 tháng.
Khác với phương thức cho vay từng lần, trong phương thức này ngân hàng sẽ không xác định kỳ hạn nợ cho từng món tiền vay mà chỉ khống chế theo hạn mức tín dụng có nghĩa là vào một thời điểm nào đó nếu dư nợ vay của khách hàng lên tới mức tối đa cho phép thì khi đó ngân hàng sẽ không phát tiền vay cho khách hàng.
Mục đích đi vay theo phương thức này là để bổ sung nguồn vốn đầu tư vào tài sản ngắn hạn, bởi vậy để xác định chính xác nhu cầu vốn vay, người vay phải dựa vào nhu cầu vốn ngắn hạn của mình trong kỳ kế hoạch.
Với phương thức này, khi có nhu cầu vay vốn, tổ chức tín dụng sẽ đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cần thiết. Đồng thời khi có doanh thu,
người vay phải nộp toàn bộ vào ngân hàng để trả nợ đảm bảo mức dư nợ và doanh số trả nợ đã cam kết.
Về thủ tục vay vốn, trước kì kế hoạch người vay phải gửi tới ngân hàng hồ sơ vay vốn. Căn cứ vào hồ sơ xin vay, sau khi thẩm định, nếu chấp nhận cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng sẽ ký hợp đồng tín dụng theo kì kế hoạch với 3 nội dung cơ bản: mức dư nợ tối đa, vòng quay vốn tín dụng và phương pháp trả nợ.
Trong kì kế hoạch, khi có nhu cầu sử dụng vốn vay, người vay chỉ cần lập bảng kê chứng từ xin vay nộp cho ngân hàng. Sau khi kiểm tra, nếu phù hợp với hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ phát tiền vay cho đơn vị vay vốn. Hợp đồng tín dụng này sẽ được duy trì cho cả kì, đến cuối kì kế hoạch hợp đồng sẽ được thanh lý và sang kì kế hoạch sau khách hàng muốn vay phải nộp bộ hồ sơ vay mới.
Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, khách hàng có nhu cầu điều chỉnh tăng hạn mức tín dụng để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh dịch vụ, phải có văn bản đề nghị và ngân hàng sẽ xem xét, nếu thấy hợp lý thì chấp thuận điều chỉnh hạn mức tín dụng và cùng khách hàng ký phụ lục bổ sung hợp đồng tín dụng.
Ưu điểm cơ bản của phương thức cho vay này là thủ tục cho vay đơn giản, khách hàng chủ động được nguồn vốn vay. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ phát hiện vấn đề khi thấy dư nợ lâu không giảm sút hoặc khách hàng chậm nộp các báo cáo tài chính.
4.2.1.3. Chiết khấu giấy tờ có giá
Chiết khấu giấy tờ có giá là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu các giấy tờ có giá chưa đến hạn cho ngân hàng để nhận một khoản tiền bằng mức chiết khấu của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu.
Các giấy tờ có giá có thể được chấp nhận chiết khấu bao gồm:
+ Các loại tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do Kho bạc Nhà nước phát hành.
+ Các loại kỳ phiếu, trái phiếu do Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng phát hành.
+ Các loại sổ tiết kiệm có kỳ hạn, các chứng chỉ tiền gửi.
+ Bộ chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
+ Thương phiếu,…
Các giấy tờ, chứng từ có giá trên sẽ được chấp nhận chiết khấu nếu thoả mãn các điều kiện:
+ Được phát hành hợp pháp có xác nhận của người có thẩm quyền của đơn vị phát hành.
+ Phải được bảo toàn mệnh giá và có khả năng chuyển nhượng (riêng các giấy tờ có giá nếu được chiết khấu tại chính tổ chức phát hành thì không cần điều kiện chuyển nhượng).
+ Không bị tẩy xoá.
+ Chứng từ còn trong hạn thanh toán (chưa đáo hạn).
Khi có nhu cầu chiết khấu các giấy tờ có giá, người sở hữu các giấy tờ phải lập bảng kê các giấy tờ xin chiết khấu và làm đơn gửi tới ngân hàng xin chiết khấu. Nếu chấp nhận, ngân hàng và người vay sẽ đi tới thỏa thuận, lựa chọn một trong hai phương thức chiết khấu sau:
(1) Chiết khấu toàn bộ thời hạn còn lại của giấy tờ có giá. Đây là phương thức mua hẳn giấy tờ có giá theo giá chiết khấu và khách hàng chuyển giao ngay quyền sở hữu giấy tờ có giá đó cho ngân hàng. Khi giấy tờ có giá đến hạn thanh toán, ngân hàng xuất trình giấy tờ có giá đó để thanh toán với người phát hành.
(2) Chiết khấu có thời hạn, bao gồm 2 trường hợp:
+ Các ngân hàng mua giấy tờ có giá theo thời hạn và giá chiết khấu, đồng thời kèm theo cam kết của khách hàng về việc mua lại giấy tờ có giá đó vào ngày đến hạn chiết khấu, tái chiết khấu.
+ Trường hợp hết thời hạn chiết khấu mà khách hàng không thực hiện cam kết mua lại giấy tờ có giá, thì ngân hàng sẽ là chủ sở hữu hợp pháp và được hưởng toàn bộ quyền lợi phát sinh từ giấy tờ có giá đó.
Thời hạn chiết khấu chứng từ do sự thoả thuận giữa người sở hữu giấy tờ và ngân hàng nhưng thời hạn chiết khấu tối đa không vượt quá thời hạn thanh toán còn lại của chứng từ.
Ví dụ: Ngày 01/3/N một doanh nghiệp mang một số trái phiếu kho bạc đến xin chiết khấu tại một ngân hàng với tổng mệnh giá 100.000.000 đồng, lãi suất 12% /năm, thời hạn thanh toán là ngày 01/10/N. Với số trái phiếu này, thời hạn chiết khấu tối đa sẽ là 7 tháng.
Giá chiết khấu do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận được xác định căn cứ vào: (i) giá trị giấy tờ có giá khi đến hạn thanh toán;
(ii) lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu; (iii) thời hạn còn lại của giấy tờ.
Số tiền ngân hàng phát ra cho khách hàng được xác định như sau:
Số tiền chuyển cho người xin chiết khấu
= Trị giá
chiết khấu - Lãi
chiết khấu - Hoa hồng phí Hoa hồng phí = Giá trị chứng từ chiết khấu x Tỷ lệ hoa hồng (%) Lãi suất chiết khấu do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận đảm bảo nguyên tắc phải lớn hơn lãi suất huy động của ngân hàng chiết khấu.
Cách thức thu lãi được thực hiện ngay khi chiết khấu bằng cách khấu trừ tiền lãi vào trị giá chiết khấu. Đến ngày hết hạn chiết khấu, khách hành phải chủ động mang tiền đến ngân hàng thanh toán và nhận lại các chứng từ chiết khấu. Nếu khách hàng không chủ động trả hoặc không có khả năng thanh toán, ngân hàng có quyền sở hữu các chứng từ có giá và đến đòi tiền ở tổ chức phát hành.
Như vậy, trong nghiệp vụ chiết khấu giấy tờ có giá, các giấy tờ này tồn tại như những tài sản thế chấp trong quan hệ tín dụng. Điểm khác biệt căn bản giữa phương thức cho vay chiết khấu với các phương thức cho vay ngắn hạn khác là toàn bộ lãi tiền vay được thanh toán ngay tại thời điểm tổ chức tín dụng cấp vốn cho khách hàng.
4.2.1.4. Cho vay theo hạn mức thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay trong đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số tiền có trên số dư tài khoản thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này gọi là hạn mức thấu chi.
Cho vay theo hạn mức thấu chi là một hình thức cho vay ứng trước đặc biệt, nó khác với hình thức cho vay theo hạn mức tín dụng, vì các khoản tiền khách hàng rút trên tài khoản cũng có tính chất như các khoản
chi tiêu của khách hàng, chỉ khi nào trên tài khoản khách hàng xuất hiện dư nợ, khoản tiền đó mới được gọi là khoản vay.
Để được thấu chi khách hàng phải làm đơn xin hạn mức thấu chi và thời hạn thấu chi. Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi... vượt quá số dư tài khoản của mình, song phải nằm trong hạn mức thấu chi.
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản của mình, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Tiền lãi
phải trả = Số tiền
thấu chi x Thời gian
thấu chi x Lãi suất thấu chi
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, có thể cấp cho khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân, thủ tục đơn giản. Tuy vậy, cho vay thấu chi có nhiều điểm khác so với các phương thức cho vay ngắn hạn khác, đó là phương thức này được thực hiện dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy mô, việc cấp tín dụng phần lớn đều là không có đảm bảo, vừa phục vụ cho sản xuất hoặc tiêu dùng cá nhân. Bởi vậy, phương thức cho vay này giúp khách hàng chủ động trong quan hệ thanh toán.
4.2.1.5. Bao thanh toán
Có nhiều quan niệm về bao thanh toán.
Theo công ước về Bao thanh toán của UNIDROIT 1998 “Bao thanh toán là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: tài trợ bên cung ứng gồm cho vay/ứng trước tiền hàng, quản lí sổ sách liên quan đến khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, đảm bảo rủi ro không thanh toán của bên mua hàng”.
Theo Hiệp hội Bao thanh toán thế giới (FCI) “Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói, bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ”.
Ở Việt Nam, theo Quyết định 1096/2004/QĐ-NHNN, “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của TCTD cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Như vậy, dù hiểu bao thanh toán theo khái niệm nào thì bao thanh toán là một hình thức tài trợ dành cho người bán hàng. Đó là hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng trên cơ sở những khoản thanh toán chưa tới hạn và thường là ngắn hạn từ hoạt động bán hàng, hoặc cung ứng dịch vụ. Các tổ chức bao thanh toán sẽ ứng trước tiền cho người bán hàng với một tỷ lệ nhất định theo doanh thu và đảm nhận việc đòi nợ.
Có nhiều hình thức bao thanh toán tùy theo tiêu thức phân loại. Căn cứ vào khả năng truy đòi, có hai hình thức bao thanh toán: bao thanh toán miễn truy đòi và bao thanh toán được phép truy đòi. Căn cứ vào phương thức bao thanh toán, có hai hình thức bao thanh toán: bao thanh toán từng lần và bao thanh toán theo hạn mức.
Bao thanh toán từng lần: là phương thức áp dụng đối với người bán hàng có nhu cầu bao thanh toán từng lần. Mỗi lần bao thanh toán, ngân hàng/tổ chức bao thanh toán và bên bán hàng phải thực hiện các thủ tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng.
Bao thanh toán theo hạn mức: là phương thức áp dụng đối với người bán hàng có nhu cầu bao thanh toán thường xuyên, kinh doanh ổn định.
Ngân hàng/tổ chức bao thanh toán và bên bán hàng thoả thuận và xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng hạn mức bao thanh toán, người bán hàng có thể vừa được ứng trước, vừa thanh toán khoản ứng trước và đảm bảo số dư ứng trước bao thanh toán không vượt quá hạn mức ứng trước đã kí kết.