II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp
3.2. QUẢN TRỊ NGUỒN VỐN CỦA NHTM
3.2.4. Quản trị vốn phi tiền gửi
3.2.4.1. Tầm quan trọng của quản trị vốn phi tiền gửi
Vốn phi tiền gửi chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn nhưng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM vì nó giúp ngân hàng có được nguồn vốn đúng thời điểm để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Ngoài ra, nguồn vốn này giúp ngân hàng bổ sung nguồn vốn kinh doanh với chi phí hợp lý vào những thời điểm ngân hàng cần vốn để bù đắp thiếu hụt vốn kinh doanh chưa khai thác được ở các nguồn khác. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà quản trị cần tạo lập và sử dụng nguồn vốn này đúng mục đích.
Quản trị vốn phi tiền gửi là công tác xác định quy mô và kết cấu vốn phi tiền gửi, chi phí vốn phi tiền gửi, quản trị lãi suất cũng như kỳ hạn, các phương pháp định giá phù hợp với yêu cầu kinh doanh và tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, từ đó tìm giải pháp gia tăng vốn phi tiền gửi của ngân hàng.
Công tác quản trị vốn phi tiền gửi giúp ngân hàng tìm kiếm được nguồn vốn đáp ứng được các yêu cầu đặt ra trong việc phát triển hoạt động thanh toán và các dịch vụ khác.
3.2.4.2. Nội dung quản trị vốn phi tiền gửi
Với đặc thù kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ của mình, các NHTM luôn tính toán tìm mọi cách để đảm bảo cân bằng cung cầu về nguồn tiền, luôn đảm bảo nguyên tắc đủ và có dự trữ vốn cho hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng. Vì thế, nhà quản trị nguồn vốn luôn phải sát sao với việc xác định mức độ chênh lệch giữa nhu cầu cho vay và lượng tiền gửi hiện tại và dự tính với dòng tiền gửi. Mức chênh lệch này gọi là khe hở vốn. Trước khi ngân hàng quyết định đi vay
(tạo lập nguồn vốn phi tiền gửi) ngân hàng phải xác định xem có thiếu hụt vốn hay không thông qua việc xác định khe hở vốn (FG)
Khe hở
vốn (FG) = Cho vay, đầu tư trong hiện tại và dự tính
+
Rút tiền trong hiện
tại và dự tính
- Quy mô tiền gửi trong hiện
tại và dự tính
(18)
Tổng giá trị cho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tại và dự tính là cầu thanh khoản. Quy mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính là cung thanh khoản. Công việc đặt ra đối với nhà quản trị là cần phải cân đối nguồn cung và cầu này.
Trong trường hợp giá trị cho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tại và dự tính lớn hơn quy mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính, tức FG > 0 thì ngân hàng phải đi vay. Ngược lại, giá trị cho vay đầu tư trong hiện tại và dự tính cộng với rút tiền trong hiện tại và dự tính nhỏ hơn hoặc thậm chí bằng với quy mô tiền gửi trong hiện tại và dự tính, tức FG ≤ 0 thì ngân hàng không phải đi vay. Thông thường, để đảm bảo khả năng thanh khoản ở mức cao và an toàn trong hoạt động, các ngân hàng thường cộng thêm một lượng nhỏ vào kết quả khe hở vốn để đề phòng trường hợp có những nhu cầu tín dụng bất thường hoặc có sự suy giảm dòng tiền gửi đột ngột. Đặc biệt, các nhà quản trị cần phải lập kế hoạch sử dụng nguồn phi tiền gửi để bù đắp khe hở vốn trên cơ sở xem xét tới các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn vốn phi tiền gửi (chủ yếu là vốn tiền vay).
Một là, quy mô của ngân hàng: Ngân hàng đi vay phải đảm bảo những điều kiện cần thiết về mặt tài chính, cơ sở vật chất, nhân sự. Vì vậy, các đơn vị cho vay sắp xếp các đối tượng đi vay theo một thứ tự ưu tiên nhất định. Nếu điều kiện đáp ứng ở mức cao ngân hàng đó sẽ có hạn mức tín dụng cao và ngược lại ngân hàng đi vay đáp ứng ở mức độ thấp sẽ được cấp mức tín dụng thấp hơn.
Hai là, chi phí tương đối: Nhà quản trị nguồn vốn của ngân hàng cần cập nhật sự thay đổi của lãi suất thị trường áp dụng cho các nguồn vay để có những ứng phó cần thiết, từ đó quản lý được chi phí tiền vay.
Chi phí cho
số tiền vay = Lãi suất hiện hành trên
thị trường tiền tệ x Lượng
vốn vay (19)
Ngoài ra, các nhà quản trị cũng nên quan tâm tới những chi phí ngoài lãi.
Chi phí ngoài lãi cho vốn vay =
Tỷ lệ chi phí dự tính cho nhân viên, cơ sở vật chất
và giao dịch
x Lượng
vốn vay (20)
Ba là, kỳ hạn cần thiết của nguồn vốn. Kỳ hạn vay đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu vay và lãi vay phải trả. Vì vậy, xác định đúng kỳ hạn để giải quyết nhu cầu về vốn là công việc quan trọng của mỗi nhà quản trị.
Bốn là, nhà quản trị ngân hàng phải tìm hiểu những quy định trong cho vay như: thời hạn, quy mô, mục đích sử dụng… được đưa ra từ luật định và đơn vị cho vay để có những chuẩn bị cần thiết.
Năm là, yếu tố rủi ro. Nhà quản trị cần phải ước tính rủi ro gặp phải khi đi vay, đó là rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng. Đây là hai loại rủi ro ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn vốn đi vay.
Các nguồn tiền vay mà các NHTM có thể tìm tới gồm:
(i) Từ Ngân hàng Nhà nước
- Thực hiện chiết khấu chứng từ có giá;
- Xin tái cấp vốn;
- Cửa sổ chứng khoán: là cứu cánh cuối cùng của NHNN đối với NHTM khi ngân hàng thương mại không còn nguồn để vay.
(ii) Từ tổ chức tín dụng
- Từ dự trữ thặng dư của các NHTM tại NHNN;
- Trên thị trường liên ngân hàng;
- Thực hiện các cam kết mua lại;
(iii) Trên thị trường tiền tệ: phát hành các giấy tờ có giá ngắn hạn.
Các hình thức này đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố: thời hạn, lãi suất, rủi ro và quy định của Chính phủ. Do đó, các nhà quản trị nguồn
vốn phải xem xét, tính toán các yếu tố trong ngân hàng mình để lựa chọn cách thức tạo lập nguồn vốn vay cho phù hợp.
● Quản trị vốn phi tiền gửi khác
Đối với các nguồn vốn phi tiền gửi khác như tiền trong thanh toán, tiền treo chờ xử lý, tiền ủy thác…cũng cần được nhà quản trị ngân hàng quản lý và theo dõi sát sao, vì ở góc độ tận thu, đây là nguồn vốn làm gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Ngoài ra, việc quản trị nguồn tiền này đúng mục đích và hiệu quả còn đem lại hiệu quả mới, đó là uy tín trong việc giải quyết tốt với các khách hàng.
Ch−ơng 4
QUảN TRị HOạT ĐộNG CHO VAY CủA NGÂN HμNG THƯƠNG MạI
Cho vay là hoạt động thuộc về bản chất của quan hệ tín dụng, được đánh giá là nghiệp vụ quan trọng nhất của các NHTM. Đây là hoạt động đem lại nguồn thu nhập chính cho các ngân hàng, nhưng đồng thời nó cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro rất cao. Bởi vậy, khi cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc, điều kiện, phương pháp nhất định nhằm:
- Buộc người vay phải có trách nhiệm cao trong việc sử dụng vốn đi vay;
- Đảm bảo an toàn và tăng khả năng sinh lời cho đồng vốn vay;
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia.
Mục đích của chương 4 tập trung nghiên cứu những tác nghiệp cơ bản dựa trên các nguyên tắc cho vay, phương thức cho vay, quy trình và kiểm soát cho vay nhằm giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị hoạt động cho vay.