Các phương thức cho vay trung và dài hạn

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 175 - 178)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

4.2. CÁC PHƯƠNG THỨC CHO VAY CỦA NHTM

4.2.2. Các phương thức cho vay trung và dài hạn

Khách hàng đi vay trung và dài hạn với mục đích chủ yếu là để tài trợ cho các dự án đầu tư có thời gian thu hồi vốn trên một năm hoặc là phục vụ cho việc mua sắm các máy móc thiết bị dùng cho hoạt động sản

xuất kinh doanh. Cho vay trung và dài hạn bao gồm các phương thức cơ bản sau:

4.2.2.1. Cho vay theo d án đầu tư

Xét về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống về tính khả thi của một chương trình hành động và các chi phí tương ứng để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Thực tế cho thấy, các dự án đầu tư thường tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đầu tư phục vụ đời sống.

Căn cứ vào hồ sơ xin vay vốn, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định dự án vay vốn, nếu chấp nhận, ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thỏa thuận mức vốn đầu tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ. Nguồn vốn cho vay được giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án.

Dựa vào hợp đồng tín dụng đã kí kết, ngân hàng sẽ phát tiền vay cho khách hàng dựa trên:

+ Hợp đồng và chứng từ cung ứng vật tư, thiết bị, công nghệ, dịch vụ,…

+ Biên bản xác nhận giá trị khối lượng công trình hoàn thành (đã được nghiệm thu theo từng hạng mục hoặc toàn bộ công trình) hoặc các văn bản xác nhận tiến độ thực hiện dự án.

Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng phải kí giấy nhận nợ.

Trong trường hợp thời gian chưa vay được vốn ngân hàng, khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để chi phí theo dự án được duyệt thì ngân hàng có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó trên cơ sở phải có chứng từ pháp lý chứng minh rõ nguồn vốn đã sử dụng trước. Trường hợp hết thời gian giải ngân theo lịch đã thỏa thuận ban đầu mà khách hàng chưa sử dụng hết mức vốn vay ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng đề nghị, ngân hàng xem xét có thể thỏa thuận và ký kết bổ sung hợp đồng tín dụng tiếp tục phát tiền vay phù hợp với tiến độ thực hiện dự án cụ thể.

Việc thu nợ gốc và lãi được thực hiện theo kì hạn đã được xác định trong hợp đồng tín dụng hoặc kế ước nhận nợ. Khách hàng có thể trả nợ

trước hạn. Đến kì hạn trả nợ, khách hàng chủ động nộp tiền vào ngân hàng để trả nợ. Nếu khách hàng không chủ động trả, ngân hàng có quyền tự động trích tiền từ tài khoản tiền gửi để thu hồi nợ, hoặc gửi giấy báo nhờ thu để thu nợ. Nếu quá thời hạn trả nợ, khách hàng không trả nợ đúng hạn ngân hàng sẽ chuyển số nợ chưa trả được sang nợ quá hạn và xử lý theo chế tài tín dụng hiện hành.

4.2.2.2. Cho vay tr góp

Đây là phương thức cho vay nhằm giúp người vay có điều kiện để mua sắm máy móc thiết bị. Theo phương thức này ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận số tiền lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

Số tiền trả nợ trong mỗi kỳ hạn có thể xác định theo công thức sau:

n 1 A = V (1+ r) i i=1

Trong đó: A là số nợ gốc và lãi phải trả trong mỗi kỳ hạn V là tổng số tiền vay

r là lãi suất tính cho một kỳ hạn trả nợ i là thứ tự các kỳ hạn trả nợ

n là số kỳ hạn trả nợ

Phương thức cho vay này thường được áp dụng đối với người vay có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn, ổn định.

4.2.2.3. Cho vay hp vn

Cho vay hợp vốn là phương thức cho vay trong đó một nhóm ngân hàng cùng cho vay đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng.

Trong cho vay hợp vốn, một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các ngân hàng khác. Việc cho vay được thực hiện theo chế độ đồng tài trợ và quy chế tín dụng của các tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 175 - 178)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)