Các loại nguồn vốn của NHTM

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 116 - 128)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

3.1.2. Các loại nguồn vốn của NHTM

Bảng 3.1: Nguồn vốn của NHTM

STT Khoản mục Số dư 1 Tiền gửi của doanh nghiệp và cá nhân

1.1 Tiền gửi của doanh nghiệp 1.2 Tiền gửi tiết kiệm của cá nhân

2 Tiền gửi của tổ chức tài chính

3 Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu

4 Vay Ngân hàng Nhà nước và tổ chức tín dụng khác 5 Các khoản phải trả khác

6 Nguồn khác

7 Vốn chủ sở hữu 7.1 Vốn điều lệ

7.2 Các quỹ và lãi chưa phân phối

Tổng nguồn vốn

3.1.2.1. Vn ch s hu

Trong các loại vốn của NHTM, vốn chủ sở hữu mang tính ổn định và có tính chất bắt buộc. Ngân hàng sử dụng nguồn vốn này để trang bị cơ sở vật chất, các điều kiện hình thành khi thành lập mới. Với chức năng bảo vệ, vốn chủ sở hữu được coi như là tài sản đảm bảo để tạo lòng tin đối với khách hàng, duy trì khả năng thanh khoản trong trường hợp ngân hàng gặp thua lỗ. Vốn chủ sở hữu cũng là căn cứ để tính toán các tỷ

lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Vậy “Vốn chủ sở hữu là vốn riêng của một NHTM, bao gồm số vốn ban đầu và số vốn gia tăng không ngừng cùng với sự phát triển của NHTM”.

Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là:

- Tỷ trọng lượng vốn này trong tổng nguồn vốn thường là rất nhỏ (thông thường từ 5-10%).

- Có tính ổn định cao và luôn được bổ sung trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM.

- Quyết định quy mô hoạt động NHTM và là nhân tố xác định tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Thành phần vốn chủ sở hữu của ngân hàng gồm:

- Vốn điều lệ

Là nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ ngân hàng. Vốn điều lệ được ghi trong bản điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật và được gọi là vốn pháp định.

Tùy vào từng loại hình ngân hàng mà Chính phủ quy định mức vốn pháp định khác nhau.

- Vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên những điều kiện pháp lý về vốn phải tuân thủ nghiêm ngặt. Ngoài ra, việc bổ sung vốn trong quá trình hoạt động luôn là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi ngân hàng, góp phần nâng cao vị thế của NHTM trên thương trường. Tùy vào điều kiện cụ thể mà ngân hàng có thể gia tăng vốn theo phương thức khác nhau và tuân thủ các quy định của pháp luật:

Một là, bổ sung vốn từ nguồn lợi nhuận

Việc bổ sung vốn từ nguồn thu nhập luôn là mong muốn của hầu hết các ngân hàng vì khi thu nhập ròng lớn ngân hàng có thể thực hiện việc gia tăng vốn bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành vốn đầu tư.

Luật pháp cho phép các ngân hàng giữ lại một phần lợi nhuận để mở rộng hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư. Việc trích từ nguồn lợi nhuận bao nhiêu tùy thuộc vào quyết định của ban lãnh đạo ngân hàng. Thông

thường những ngân hàng có thời gian hoạt động dài và làm ăn hiệu quả thì nguồn tích lũy từ lợi nhuận sẽ cao và ngược lại, những ngân hàng mới thành lập, kinh doanh kém hiệu quả thì nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận sẽ thấp.

Hai là, bổ sung vốn từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm Đối với các ngân hàng thương mại cổ phần việc phát hành thêm cổ phiếu là phương thức hiệu quả để tăng vốn chủ sở hữu. Công việc này được thực hiện bằng cách ngân hàng phát hành quyền mua cổ phần cho các cổ đông hiện hữu, mỗi cổ đông nắm giữ cổ phần của ngân hàng sẽ được mua một tỷ lệ cổ phần theo tỷ lệ cổ phần mình đang nắm giữ. Ngân hàng sử dụng vốn tăng thêm để mở rộng quy mô hoạt động, đổi mới trang thiết bị, hoặc trong một số trường hợp là để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn của chủ sở hữu do Ngân hàng Nhà nước quy định.

Đối với các ngân hàng liên doanh việc tăng vốn là do các bên góp vốn thực hiện. Lượng vốn này phục vụ cho việc mở rộng hoạt động, nâng cao năng lực hoạt động của ngân hàng. Việc tăng vốn thường được thực hiện theo lộ trình và kế hoạch của ngân hàng. Lộ trình tăng vốn phải tuân thủ quy định của pháp luật.

Đối với ngân hàng tư nhân, chủ ngân hàng có thể tăng vốn bằng cách rót thêm vốn vào hoạt động của ngân hàng và cũng cần phải thực hiện theo luật định.

Đối với các ngân hàng thương mại nhà nước, việc bổ sung vốn là do ngân sách nhà nước cấp theo tỷ lệ Nhà nước nắm giữ. Một phần vốn được bổ sung từ các cổ đông ngoài Nhà nước.

Tính chất của việc bổ sung vốn từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm này là không liên tục nhưng nguồn vốn bổ sung có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, thể hiện uy tín và vị thế, tính cạnh tranh của một ngân hàng.

- Các quỹ

Hoạt động của ngân hàng không thể thiếu các quỹ như quỹ thặng dư cổ phần, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo tồn vốn,... Mỗi quỹ có mục đích riêng và việc trích lập phải đảm bảo nguyên tắc và quy định trong hạch toán kế toán.

+ Quỹ thặng dư vốn cổ phần

Đây là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênh lệch giữa thị giá với mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới, và nguồn thặng dư này sẽ được chuyển đổi thành cổ phần trong tương lai.

+ Quỹ dự phòng tổn thất

Quỹ này được trích lập hàng năm và được tích lũy lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động của ngân hàng, chủ yếu ở hoạt động tín dụng. Một nhà quản trị ngân hàng thông minh sẽ biết dự phòng cho tổn thất tín dụng bao nhiêu là hợp lý và phù hợp với chế độ quản lí hiện hành.

+ Quỹ bảo toàn vốn

Nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát, ngân hàng cần trích lập quỹ bảo toàn vốn. Khi lạm phát xảy ra, ngân hàng là tổ chức chịu sự tác động nhiều nhất bởi tính chất kinh doanh của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ. Trong trường hợp ngân hàng chưa có hoặc chưa kịp có những ứng phó trong hoạt động kinh doanh thì nguồn quỹ này sẽ được sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động của ngân hàng trong thời kỳ lạm phát.

+ Các quỹ khác

Tùy theo quy định của mỗi nước, các ngân hàng thực hiện việc trích lập các quỹ như: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc,… Các quỹ này được sử dụng vào các mục đích làm tăng giá trị của ngân hàng, tạo gắn kết giữa ngân hàng và người lao động thông qua thực hiện chế độ đối với người làm trong ngân hàng.

3.1.2.2. Vn tin gi

● Khái niệm

Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, với chức năng huy động vốn và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay và đầu tư. Ngân hàng huy động vốn từ dân chúng, trả lãi cho các khoản tiền gửi đó, sử dụng vốn đó vào mục đích kinh doanh của mình là cho vay và đầu tư với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Vì thế, vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của một NHTM. Ngân hàng thực hiện việc mở các

tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của doanh nghiệp, tổ chức và dân cư.

Vậy: “Tiền gửi là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân hàng đang tạm thời quản lý sử dụng với trách nhiệm hoàn trả”.

● Đặc điểm của vốn tiền gửi

+ Tiền gửi trong NHTM chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM.

+ Các NHTM hoạt động được chủ yếu nhờ vào nguồn vốn tiền gửi.

Do nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn nên hầu hết các hoạt động chính của ngân hàng đều phải dựa vào nguồn vốn này.

+ Tiền gửi là nguồn vốn không ổn định, khách hàng có thể rút tiền của họ mà không bị ràng buộc, nếu có ngân hàng chỉ phạt bằng việc trả lãi thấp hơn lãi đã cam kết với khách hàng. Chính vì vậy, NHTM cần phải duy trì một lượng tiền dự trữ đảm bảo khả năng thanh khoản, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Điều này được thể hiện ở việc các NHTM thực hiện yêu cầu của NHNN trong việc duy trì số dư tối thiểu tiền mặt tại quỹ, số dư tối thiểu tại NHNN. Ngoài ra, để đảm bảo tốt hơn khả năng thanh toán, NHTM còn gửi tiền ở các tổ chức tín dụng.

Với vai trò quan trọng của tiền gửi và đồng thời cũng là yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng, ngân hàng cần có chiến lược tạo lập và sử dụng đúng đắn và hiệu quả vốn tiền gửi. Một trong những chiến lược của các NHTM là đưa ra những biện pháp nhằm tăng tiền gửi và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã áp dụng nhiều hình thức huy động khác nhau như: tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn), tiền gửi có kỳ hạn của tổ chức và cá nhân, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, huy động vốn thông qua việc phát hành kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi,…

● Các loại tiền gửi

* Tiền gửi thanh toán

Việc mở tài khoản và cung cấp dịch vụ thanh toán là một trong những dịch vụ đầu tiên của một NHTM. Khách hàng nộp tiền vào ngân hàng và khoản tiền này sẽ được hạch toán vào tài khoản thanh toán. Thực

chất đây là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng, nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ.

Đối với dịch vụ giữ hộ: Tiền của khách hàng sẽ được đảm bảo an toàn và khách hàng nhận lãi và hưởng những dịch vụ đi kèm với tài khoản thanh toán. Về phía ngân hàng được sử dụng lượng tiền trong tài khoản thanh toán để cho vay, đầu tư và thực hiện các hoạt động khác của ngân hàng.

Đối với dịch vụ thanh toán: Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu chi trả, thanh toán, chuyển tiền, rút tiền mặt của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện và ngược lại khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân chuyển đến ngân hàng được ngân hàng hạch toán vào tài khoản tiền gửi thanh toán theo nội dung yêu cầu của lệnh chuyển tiền đến. Về phía ngân hàng, ngân hàng được phép thu phí dịch vụ thanh toán chuyển tiền đi, chuyển tiền đến theo đúng biểu phí của ngân hàng.

- Đặc điểm:

+ Lãi suất của khoản tiền trong tài khoản thanh toán tại ngân hàng thường rất thấp (hoặc bằng không) tuy nhiên khách hàng có thể sử dụng một số dịch vụ kèm thêm với tài khoản thanh toán như: thanh toán séc tiền mặt, séc bảo chi, cho vay thấu chi với mức phí thấp và những giá trị gia tăng như: tặng quà, dịch vụ...

+ Số dư không ổn định: Thực chất tiền gửi thanh toán là tiền gửi không kỳ hạn vì thế khách hàng có thể sử dụng (khách hàng có thể rút tiền mặt bằng séc tiền mặt hoặc giấy rút tiền, chuyển khoản bằng ủy nhiệm chi) bất kể lúc nào. Chính vì vậy ngân hàng cần có nguồn tiền dự trữ để đảm bảo việc chi trả cho khách hàng.

- Ý nghĩa

Tiền gửi thanh toán của khách hàng cung cấp lượng vốn lớn cho ngân hàng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ này của ngân hàng sẽ tiết kiệm được chi phí lưu thông thông qua việc thanh toán không dùng tiền mặt,

sử dụng dịch vụ hiện đại của ngân hàng đặc biệt là giảm được rủi ro mất mát khi khách hàng tự quản lý tiền của mình.

* Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi đồng thời tính toán nhu cầu vốn ở một thời điểm nhất định để lựa chọn kỳ hạn gửi tiền. Khi lựa chọn hình thức gửi tiền này khách hàng sẽ phải đến các trụ sở của ngân hàng để rút tiền, không sử dụng tiện ích thanh toán qua thẻ, tuy nhiên khách hàng sẽ được hưởng lãi suất tiền gửi cao hơn. Mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn phụ thuộc vào thời hạn ghi trên hợp đồng và thông thường thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao và ngược lại.

* Tiền gửi tiết kiệm

Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng. Khi đó họ có thể tới ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muốn ngân hàng sẽ trả một khoản lãi. Đó là hành vi gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Để có thể sử dụng tiền gửi, ngân hàng phải cam kết trả cho người gửi tiền một khoản lãi. Phần lãi này sẽ được tính toán dựa trên số tiền gửi và kỳ hạn.

Các ngân hàng sử dụng nhiều chiến lược để tăng lượng vốn tiền gửi tiết kiệm như việc mở rộng mạng lưới chi nhánh hoặc đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng và quà tặng có giá trị. Ngoài ra, ngân hàng còn cho phép khách hàng thế chấp sổ tiết kiệm để vay vốn nếu khách hàng đáp ứng đầy đủ điều kiện về vốn vay.

Tiền gửi tiết kiệm thuộc nhóm tài khoản phi giao dịch, có định hướng hưởng lãi và là nguồn vốn có tính ổn định cao tại ngân hàng. Đây là một trong những nguồn tiền quan trọng bậc nhất của ngân hàng hiện đại.

* Tiền gửi của các ngân hàng khác

Để đảm bảo khả năng thanh khoản hoặc nhờ thanh toán hộ hoặc nằm trong chiến lược sử dụng vốn của mình, các ngân hàng thường có những giao dịch nhận gửi tiền qua nhau. Ngân hàng gửi tiền tại một ngân hàng khác được coi là một khách hàng và được hưởng những quyền lợi như một khách hàng gửi tiền thông thường.

3.1.2.3. Các ngun vn phi tin gi

* Tiền vay

Sự phát triển của ngân hàng, đặc biệt là sự lớn mạnh của hoạt động tín dụng đòi hỏi các ngân hàng cần bổ sung những nguồn vốn mới dồi dào hơn so với nguồn vốn truyền thống và ngân hàng đã tìm tới thị trường tiền tệ.

Thông thường Ngân hàng Trung ương quy định tỷ lệ giữa nguồn vốn huy động và vốn của chủ sở hữu. Vì thế vào những giai đoạn cụ thể, các ngân hàng phải vay mượn thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế và chưa có được số lượng vốn chủ sở hữu như mong đợi. Hiện nay, các ngân hàng có thể sử dụng một số kênh sau:

Thứ nhất, vay Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước (Ngân hàng Trung ương) đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Khi rơi vào tình trạng thiếu vốn hoặc cần giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả, các NHTM có thể vay tiền tại NHNN. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn. NHTM được phép cung cấp dịch vụ chiết khấu giấy tờ có giá. Sau khi chiết khấu, giấy tờ có giá trở thành tài sản của NHTM và khi thiếu vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh, NHTM có thể sử dụng giấy tờ có giá này tái chiết khấu tại NHNN. Để làm được điều này các NHTM phải đáp ứng những điều kiện NHNN đưa ra. Về phía NHNN, ngân hàng vừa thực hiện vai trò là người cho vay cuối cùng vừa đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn cấp cho các NHTM. Vì thế, NHNN thường ưu tiên tái chiết khấu cho những giấy tờ có giá có thời gian đáo hạn ngắn, khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cao, đặc biệt là đáp ứng được mục tiêu đã đặt ra của Chính phủ trong từng thời kỳ.

Tương tự đối với nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá tại NHNN, các NHTM có thể cầm cố hoặc tái cầm cố các thương phiếu tại NHNN.

Trong trường hợp NHTM thiếu vốn mà không có nguồn giấy tờ có giá có sẵn để tái chiết khấu, NHTM tìm tới biện pháp cuối cùng xin tái cấp vốn từ NHNN trong hạn mức tín dụng. Tuy nhiên, để có thể được tái

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 116 - 128)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)