Ước tính nhu cầu thanh khoản của ngân hàng

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 103 - 107)

II. Hệ thống dịch vụ khách hàng doanh nghiệp

2.3. QUẢN TRỊ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN VÀ DỰ TRỮ

2.3.3. Ước tính nhu cầu thanh khoản của ngân hàng

Trong thực tế, hầu hết các ngân hàng phải đảm bảo khả năng thanh khoản của họ buộc họ phải dùng nhiều phương pháp khác nhau để ước lượng gần đúng mức cầu thanh khoản thực tế tại một thời điểm nhất định dựa trên một số giả định. Điều đó đảm bảo cho các nhà quản lý luôn sẵn sàng để điều chỉnh mức dự tính về cầu thanh khoản khi họ nhận được thông tin mới.

Nhu cầu thanh khoản được đảm bảo bởi dự trữ thanh khoản, bao gồm cả phần dự trữ kế hoạch (dự trữ để đáp ứng các dự báo mới nhất về thanh khoản) và phần dự trữ bảo vệ (phần dự trữ bổ sung phụ thêm vào

phần dự trữ kế hoạch - phần này lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào quan điểm của người quản lý đối với rủi ro).

Trong những năm gần đây một số phương pháp đo lường cầu thanh khoản đã được áp dụng và phát triển, đó là: phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn, phương pháp tiếp cận cấu trúc vốn, phương pháp tiếp cận chỉ số thanh khoản và phương pháp tiếp cận các chỉ số tài chính.

2.3.3.1. Phương pháp tiếp cn ngun vn và s dng vn

Phương pháp này bắt đầu từ thực tế phát sinh trong quá trình quản trị ngân hàng thương mại, khi mà:

- Tiền gửi tăng và cho vay giảm (khả năng thanh khoản tăng).

- Tiền gửi giảm và cho vay tăng (khả năng thanh khoản giảm).

Điều đó có nghĩa là ngân hàng phải đối mặt với khe hở thanh khoản, khi nguồn thanh khoản và sử dụng thanh khoản không bằng nhau, khi có biến động về nguồn vốn và sử dụng vốn. Khe hở thanh khoản (LG - liquidity gap) hay trạng thái thanh khoản ròng (NLP - net liquidity position) được đo bằng chênh lệch giữa tổng cung thanh khoản và tổng cầu thanh khoản.

LG = ΣCung thanh khoản - ΣCầu thanh khoản

Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn sử dụng nhiều kỹ thuật thống kê kinh tế khác nhau để đánh giá phân tích khe hở thanh khoản.

Với phương pháp tiếp cận này ngân hàng phải ước tính lượng tiền gửi và cho vay trong tương lai. Đồng thời thông qua đó dự báo thâm hụt, thặng dư trong tương lai, lập kế hoạch về nguồn thanh khoản sẽ được sử dụng.

2.3.3.2. Phương pháp tiếp cn cu trúc vn

Với phương pháp tiếp cận này, trước hết nhà quản lý phân tiền gửi và các nguồn vốn khác thành nhiều nhóm dựa trên khả năng vốn bị rút khỏi ngân hàng. Tiếp theo, nhà quản lý phải giành riêng một phần vốn thanh khoản phù hợp với mỗi nhóm đã được phân tách. Cụ thể là:

● Đối với nguồn tiền gửi

Chia tiền gửi và các nguồn vốn khác dựa trên khả năng vốn bị rút khỏi ngân hàng:

- Vốn “nóng”: vốn vay và tiền gửi nhạy cảm với lãi suất hoặc dự tính sẽ bị rút khỏi ngân hàng trong thời kì dự tính.

- Nguồn vốn kém ổn định: các khoản tiền gửi của khách hàng mà một phần đáng kể sẽ có thể bị rút khỏi ngân hàng trong thời kì dự tính.

- Vốn ổn định: khoản mục vốn mà nhà quản lý ngân hàng tin tưởng rằng ít có khả năng bị chuyển khỏi ngân hàng.

Nhà quản trị thanh khoản sẽ trích lại mỗi nhóm vốn trên một phần để dành cho vốn thanh khoản.

● Đối với nhu cầu vay vốn

Ngân hàng phải đảm bảo khả năng sẵn sàng đáp ứng các khoản cho vay chất lượng cao.

Tổng nhu cầu thanh khoản

= Nhu cầu thanh khoản đối với

vốn tiền gửi

+ Nhu cầu

thanh khoản đối với cho vay

Tổng nhu cầu thanh khoản =

Nhu cầu thanh khoản đối với tiền gửi

+

Quy mô cho vay tối đa tiềm năng

- Tổng dư nợ hiện tại

2.3.3.3. Phương pháp tiếp cn ch s thanh khon

Phương pháp chỉ số thanh khoản (liquidity index) được phát triển bởi Jim Pierce tại Fed. Chỉ số này đo lường khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng phải bán tháo các tài sản của mình để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với giá thấp hơn giá thị trường. Chênh lệch giữa giá bán tháo (Pi) và giá thị trường hợp lí (P*i) càng lớn thì danh mục tài sản của ngân hàng càng kém thanh khoản. Gọi I là chỉ số thanh khoản, wi là tỉ trọng mỗi loại tài sản trong tổng tài sản của ngân hàng, ta có:

i n i

1

i i

* P w P

I 

=

=

Chỉ số thanh khoản càng thấp thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh khoản càng cao.

Ngoài chỉ tiêu định lượng nêu trên, người ta còn xem xét khả năng thanh khoản của ngân hàng dựa vào các chỉ tiêu về định tính sau:

- Lòng tin của công chúng;

- Sự vận động trong giá cổ phiếu;

- Phần bù rủi ro trên thị trường chứng chỉ (CDs) và các khoản đi vay khác;

- Thua lỗ, tổn thất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng;

- Khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng;

- Vay vốn từ ngân hàng trung ương.

2.3.3.4. Phương pháp tiếp cn các ch s tài chính

Các chỉ số tài chính được sử dụng trong đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng gồm:

(1) Chỉ số trạng thái tiền mặt - cash position indicator Tiền mặt + Tiền gửi tại các TCTD khác Trạng thái

tiền mặt =

Tổng tài sản

Nếu chỉ số trạng thái tiền mặt cao, ngân hàng có khả năng đáp ứng được các nhu cầu tiền mặt tức thời.

(2) Chỉ số chứng khoán thanh khoản

Chứng khoán Chính phủ Chứng khoán

thanh khoản =

Tổng tài sản

Chứng khoán thanh khoản bao gồm các trái phiếu và tín phiếu kho bạc (gọi chung là chứng khoán chính phủ) là những chứng khoán có độ thanh khoản cao nhất. Nếu chỉ số này càng cao thì ngân hàng được xem có tính thanh khoản cao.

(3) Chỉ số năng lực cho vay - Capacity ratio

Dư nợ tín dụng + Dư nợ cho thuê tài chính Năng lực

cho vay =

Tổng tài sản

Vì tín dụng và cho thuê tài chính được xem là những tài sản ít thanh khoản nhất, do đó nếu chỉ tiêu năng lực cho vay càng lớn thì tính thanh khoản của ngân hàng càng thấp.

(4) Chỉ số tiền nóng - Hot money ratio

Tiền nóng bên tài sản Chỉ số

tiền nóng =

Tiền nóng bên nợ

Tiền nóng là các loại tài sản nhạy cảm với lãi suất, thường bao gồm tiền mặt, tiền gửi không kì hạn, chứng khoán chính phủ ngắn hạn và các tài sản khác có thể chuyển hóa thành tiền trong ngắn hạn. Nếu chỉ tiêu tiền nóng càng cao thì ngân hàng được xem có tính thanh khoản cao.

(5) Chỉ số tiền gửi thường xuyên - Core deposit ratio Tiền gửi thường xuyên Chỉ số tiền gửi

thường xuyên =

Tổng tài sản

Chỉ số tiền gửi thường xuyên càng lớn thì được xem là tính thanh khoản càng cao.

(6) Chỉ số cấu trúc tiền gửi – Deposit composition ratio Tiền gửi không kì hạn Chỉ số cấu trúc

tiền gửi =

Tiền gửi có kì hạn

Chỉ số cấu trúc tiền gửi đo lường tính ổn định của tiền gửi. Nếu chỉ số này càng thấp thì nhu cầu thanh khoản càng thấp.

(7) Chỉ số “tín dụng/ tiền gửi” và “tiền vay/ tổng tài sản”

Nếu ngân hàng có chỉ số “tín dụng/ tiền gửi” và “tiền vay/ tổng tài sản” cao, hàm ý ngân hàng đã dựa chủ yếu vào nguồn ngắn hạn hơn là nguồn vốn dài hạn để tài trợ tín dụng. Điều này có thể tiềm ẩn rủi ro cao trong tương lai đối với ngân hàng nếu hiện tại ngân hàng đã sử dụng tối đa khả năng huy động vốn của mình trên thị trường tiền tệ.

Một phần của tài liệu Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 1 (Trang 103 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(215 trang)