Khái niệm văn hóa dân gian

Một phần của tài liệu Văn hóa dân gian với du lịch văn hóa tỉnh phú yên (Trang 21 - 28)

1.1. Lý luận về văn hóa dân gian

1.1.1. Khái niệm văn hóa dân gian

Việc nghiên cứu văn hóa dân gian được coi như là một bộ môn khoa học mới chỉ thực sự bắt đầu từ thế kỉ XIX. Các nhà khoa học thường gắn sự ra đời của bộ môn này với việc nhà nhân loại người Anh William J. Thomas (bút danh là Ambrose Merton) viết một bức thư đăng lên tờ “The Atheneum” (số ra ngày 22 tháng 8 ngăm 1846) trong đó ông đề nghị dùng thuật ngữ folklore để chỉ “những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn… của các thời trước”. Vì vậy sau đó, các nhà khoa học nhiều nước đã sử dụng thuật ngữ folklore để chỉ bộ môn khoa học này.

Thuật ngữ folklore (sự hiểu biết, trí tuệ của nhân dân) được W.J.

Thomas dùng bao hàm nội dung khá rộng, nó chỉ những giá trị của nền văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là những giá trị của nền văn hóa tinh thần của nhân dân, như “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”.

Trước đó, trong các bộ môn khoa học nhân văn ở châu Âu, người ta thường gặp các khái niệm, như “thơ ca dân gian”, “văn học dân gian” hay

“ngôn từ dân gian”… nhưng rõ ràng là các khái niệm trên không bao hàm chứa được tất cả các lĩnh vực khác nhau của truyền thống văn hóa dân tộc. Ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha, người ta sử dụng khái niệm “truyền thống dân gian”

(traditions populaires), ở Đức khái niệm “volkskunde”“volkrekunde”

cũng được sử dụng rộng rãi, trong đó khái niệm sau gần tương đương với ethnologie (dân tộc học), còn khái niệm trước gần tương đương với folklore,

bao gồm “dân ca, các trò chơi, lễ hội, truyện cổ, ngôn ngữ và phong tục học”.

Sau J. Thomas, vào những thập kỷ 50, 60, trong một số công trình của học giả Anh, như T. Sternberg, J. Harland, T.T. Wilkinson người ta đã sử dụng thuật ngữ folklore. Đặc biệt từ năm 1879, khi “Hội folklore” thành lập ở Luân Đôn thì việc xác định nội dung của khái niệm được đặt ra một cách cụ thể hơn. Người ta quy về hai phạm vi rộng và hẹp khác nhau của khái niệm này, trong đó theo nghĩa rộng nó bao gồm “toàn bộ lịch sử văn hóa không thành văn của dân tộc ở thời nguyên thủy”, còn theo nghĩa hẹp, thì nó bao gồm “phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng thời cổ sơ mà còn bảo lưu trong những bộ phận đông đảo cư dân thời kỳ đầu văn minh”.

Các từ điển bách khoa của Anh những thập kỷ gần đây xác định rõ nội dung của folklore như sau: “Folklore biểu thị những dạng nghệ thuật và các nghề thủ công dân gian, kể cả văn hóa vật chất và tinh thần” (Encyclopedia Britanica, V.9, 1957, P.446) hay “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lý, nghi lễ, mê tín của dân gian. Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến” (Encyclopedia Britanica, V.9, 1964, P.518)…

Trong cuốn từ điển hai tập “Funk and Wagnall’s Standard Dictionary of Folklore, Mythology and Legend” (1949-1950), người ta đưa ra 20 định nghĩa của 20 nhà nghiên cứu folklore phương Tây, trong đó phần lớn là những định nghĩa của các nhà folklore Mỹ. Họ đều khẳng định folklore là

“khoa học nghiên cứu về truyền thống” của những dân tộc lạc hậu hay của những nhóm cư dân ở trình độ phát triển thấp của các dân tộc văn minh.

Những nghi thức của họ gắn với tính cộng đồng, phương thức lưu truyền thông qua truyền miệng và trí nhớ. Folklore là một bộ phận của văn hóa dân tộc, mà trọng tâm là những tín ngưỡng, mê tín, lễ nghi, phong tục, thần thoại,

truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, âm nhạc, sân khấu, các hình thức nghệ thuật tạo hình và ứng dụng trong đời sống hằng ngày… Những yếu tố đó gắn bó với nhau, không thể chia tách và thường đó là những yếu tố của văn hóa tinh thần, mặc dù không thể cắt rời với các dạng tồn tại vật chất.

Các nhà folklore học các nước Mỹ la tinh chịu ảnh hưởng của trường phái nhân chủng học trong folklore học của Anh và Mỹ. Ở các nước Mỹ la tinh người ta đã xây dựng những “Từ điển bách khoa folklore” từ những năm 40, đã tổ chức những hội nghị quốc tế về lĩnh vực khoa học này. Hội nghị quốc tế folklore học tổ chức năm 1954 ở Sao-Paulo coi “folklore là sản phẩm của truyền thống, được phát triển bằng truyền miệng. Những nhân tố giữa quá khứ và hiện tại, cá nhân trong tập thể cộng đồng, sự sàng lọc trong dân gian trải qua các thế hệ…”. Tinh thần tuyên bố của hội nghị quốc tế này được thể hiện trong công trình của các nhà folklore Bradin nổi tiếng là Renato Almeila và Edison Carneiro vào năm 1960. Theo họ thì folklore bao gồm những sáng tác ngôn từ, âm nhạc, đồng ca, sân khấu dân gian, kỹ thuật dân gian, y học dân gian, trang phục…

Trong các công trình xuất bản năm 1924 và 1943 một đại biểu lớn của folklore học Pháp – A. V. Gennep cho rằng folklore là một “khoa học tổng hợp”, nó nghiên cứu cuộc sống của con người trong xã hội, mà con người ở đây không phải là chung chung mà gắn với các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội khác nhau. Tác giả cho rằng folklore thuộc về “khoa sinh học” tiếp cận trên nguyên tắc xã hội học.

Để xác định khái niệm folklore, P. Saintyves phân chia các nền văn hóa thành hai loại. Đó là văn hóa của các dân tộc nguyên thủy và văn hóa nhân dân các dân tộc văn minh. Từ cách phân chia như vậy, ông cho rằng, đối tượng của dân tộc học là nghiên cứu văn hóa của các dân tộc nguyên thủy, còn của folklore học là “văn hóa của quần chúng các nước văn minh”.

Folklore là “văn hóa số đông” trong sự đối lập với văn hóa “thượng lưu” hay

của “thiểu số”. Văn hóa số đông này lưu hành thông qua truyền khẩu, và bao gồm ba bộ phần hợp thành:

Đời sống vật chất (ăn, ở, quần áo, đi lại, sản xuất, công cụ…)

Đời sống trí tuệ, tinh thần (ngôn ngữ, tri thức, hiểu biết, triết học, nghệ thuật, văn học, tín ngưỡng, tôn giáo)

Đời sống xã hội (gia đình, liên minh, các tổ chức xã hội khác…)

Thuật ngữ folklore cũng được đưa vào các từ điển, từ điển bách khoa, từ điển giải thích chuyên ngành ở Pháp, Ý. Thuật ngữ folklore được giải thích ở nhiều từ điển khác nhau, nhưng các cách giải thích ấy khó thống nhất với nhau về nội dung cơ bản. Folklore là “toàn bộ những nghệ thuật, phong tục và truyền thống dân gian” hay là “toàn bộ hệ thống, truyền thuyết và phong tục dân gian của một nước” hay “là toàn bộ truyền thống, phong tục, bài ca, truyền thuyết của một dân tộc, của một vùng, và các thành tố đó liên kết chặt chẽ với nhau”. Còn khi xác định bộ môn folklore học thì từ điển Hachette cho rằng đó là “khoa học nghiên cứu nghệ thuật dân gian, phong tục và truyền thuyết dân gian”.

“Từ điển bách khoa toàn thư Ý” 1956 định nghĩa ngắn gọn “folklore là ngành khoa học nghiên cứu những truyền thống dân tộc”, còn “Từ điển tổng hợp văn hóa Ý” thì xác định “folklore là sự nghiên cứu nghi lễ và tập tục dân gian, dân ca, huyền thoại, truyền thống và thiên kiến”.

Các nhà khoa học Nga trong những năm 80 – 90 thế kỷ XIX và thập kỷ đầu thế kỷ XX cũng sử dụng thuật ngữ folklore trong các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt là trong các công trình của V. I. Limanxki, E.

Anhicop… Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga thời đó, thì nội dung thuật ngữ folklore tương đương với những khái niệm mà họ vẫn đang quen dùng, như “cái cổ xưa hiện tồn”, “sáng tác dân gian”.

Folklore học ở Nga hình thành hai xu hướng. Một xu hướng xác định khái niệm folklore với nội dung rộng như ở nhiều nước phương Tây và như

vậy giữa dân tộc học và folklore học trên thực tế là không có ranh giới rõ ràng. Thuộc về xu hướng này có V. M. Girmunxki, O. M. Phraydenbec, M.

Vinher. Tuy V. M. Girmunxki xếp folklore và dân tộc học vào cùng loại nghiên cứu truyền thống và những hiện tượng cổ xưa của dân tộc, nhưng theo ông cũng có những ranh giới nhất định phân biệt folklore học với dân tộc học.

Xu hướng thứ hai thống trị trong folklore Xô Viết những năm 30 – 60, với những đại diện như Iu. Xokolop, N. P. Andreep, M. K. Azadopxki…

Theo họ, về cơ bản folklore là “nghệ thuật ngôn từ”, là sáng tác thơ ca truyền miệng của đông đảo quần chúng. Theo họ, không có sự phân biệt về bản chất giữa văn học và folklore về sự phân biệt sáng tạo thơ ca truyền miệng và sáng tạo văn học, có chăng chỉ là phương thức “trao truyền”. Theo họ có thể đồng nhất folklore với văn học, nghiên cứu folklore theo những nguyên tắc nghiên cứu văn học.

Khác với những năm 30 – 40, những thập kỷ gần đây càng ngày càng có nhiều người vượt được ra ngoài quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngôn từ, họ thấy rằng folklore bao gồm những yếu tố ngôn từ, diễn xướng, tạo hình, tín ngưỡng, phong tục… và các yếu tố ấy gắn bó với nhau trong một chỉnh thể nguyên hợp. Đại diện cho khuynh hướng này là V. E.

Guxep, N. I. Krapcop, K. V. Trixtop, K. C. Dapletop… Đặc biệt “Bách khoa toàn thư Xô Viết” xuất bản năm 1974 đã quan niệm rằng “folklore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của nhân dân lao động. Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sống trong nhân dân”.

Như vậy, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái folklore Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái folklore Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp - Italy) và trường phái folklore Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học.

Ở nước ta, các nhà văn hóa dân tộc đã từng chú ý sưu tầm, hệ thống và lý giải những vấn đề liên quan tới văn hóa dân gian. Trong thời kỳ cận đại, các học giả Pháp và phương Tây có nhiều công trình sưu tầm và nghiên cứu các hiện tượng folklore nước ta. Tuy nhiên việc nghiên cứu folklore còn bị phân tán ở nhiều cơ sở nghiên cứu và trường đại học, các thành tố nghệ thuật ngôn từ, biểu diễn, tạo hình, tín ngưỡng, phong tục… được nghiên cứu tương đối biệt lập. Trong số các thành tố ấy, ngữ văn dân gian được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn và hơi thiên về phương pháp ngữ văn.

Thuật ngữ folklore được dùng ở Việt Nam tương đối muộn và thường với những nội dung rộng hẹp khác nhau. Thời kỳ đầu, tuy nhận biết được những cách hiểu rộng hẹp của khái niệm này trên thế giới, nhưng một số nhà nghiên cứu nước ta đồng nhất folklore với văn học dân gian (gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, dân ca, ca dao, ngụ ngôn, truyện cười…). Tuy phần lớn còn sự bó hẹp trong sưu tầm và khảo chứng các văn bản theo những nguyên tắc văn học, nhưng cũng có những nhà nghiên cứu có ý thức đặt các hiện tượng ngữ văn trong tổng thể văn học và ít nhiều thoát khỏi những nguyên tắc ngữ văn thuần túy.

Trong khoảng các thập kỷ 60 và 70, người ta có xu hướng mở rộng hơn khái niệm folklore, và cho rằng nó bao gồm văn học và nghệ thuật dân gian, gọi chung là văn nghệ dân gian. Quan trọng hơn, người ta đã ít nhiều nhận thức được tính không thể chia cắt các thành tố của văn nghệ dân gian. Từ thuở sơ sinh, nhạc, thơ, múa, kịch thường hòa chung với nhau. Đến khi trưởng thành lên thì các loại hình tách bạch ra nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau mà phần nào thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp, nếu bỏ nhạc thì múa khó thành. Một sự tích văn học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất giá trị. Tranh làng Hồ phải đi liền với hội Tết. Trên hình con gà, con lợn có cả dấu âm dương của tín ngưỡng dân gian, lại có cả lời ca

dao hay bài thơ vịnh. Một ngôi đình, ngôi chùa, một pho tượng, một hòn đá thiêng đều có truyền thuyết liên quan.

Các nhà nghiên cứu nói chung đều thống nhất về nội dung khái niệm folklore và chuyển sang tiếng Việt là “văn hóa dân gian”. Trong việc sử dụng thuật ngữ, bên cạnh một số người ưa dùng thuật ngữ folklore, còn phần lớn vẫn dùng thuật ngữ “văn hóa dân gian” với ý ngĩa tương đương. Cũng cần nói thêm rằng xu hướng dùng thuật ngữ quốc tế folklore ngày càng được nhiều người lựa chọn.

Trong quan niệm chung, người ta dễ nhất trí với nhau rằng, folklore học thuộc hệ thống các khoa học xã hội. Cùng với các bộ môn khoa học khác, nó góp phần nhận thức đặc điểm, bản sắc và quy luật của con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam. Đặc biệt ở nước ta, folklore rất phong phú. Đó là bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, tri thức và tình cảm con người Việt Nam, nếu như không hiểu văn hóa dân gian, cội nguồn của văn hóa dân tộc.

Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với các sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động. Vì vậy, nhận thức, lý giải các hiện tượng folklore phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.

Do những đặc trưng trên của đối tượng nghiên cứu, cho nên folklore học tồn tại bên cạnh các bộ môn khoa học khác trong mối quan hệ thân thiết với nhau (như với văn học, dân tộc học, nghệ thuật học…). Trong nghiên cứu folklore cần tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của các bộ môn khoa học khác.

Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:

Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ... Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian.

Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian...); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn...)

Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu...); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng);

tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất).

Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân. Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp.

Một phần của tài liệu Văn hóa dân gian với du lịch văn hóa tỉnh phú yên (Trang 21 - 28)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(217 trang)