2.1. Từ tài nguyên văn hóa dân gian đến sản phẩm du lịch văn hóa
2.1.1.1. Lễ hội vùng núi
Người Chăm H’roi ở Phú Yên còn gọi lễ hội đâm trâu là “xoây cột con trâu” - một trong những lễ hội lớn nhất, tưng bừng nhất của đồng bào, thường được tổ chức vào ngày có trăng của tháng giêng, thái hai hoặc tháng ba âm lịch. Đây cũng là tháng ngày vụ mùa kết thúc, nhà nhà lúa đầy kho, ché đầy rượu, động vật và thực vật tràn đầy sức sống, thường tổ chức theo hai hình thức: cộng đồng và gia đình.
Đối với buôn làng, người Chăm tổ chức “lễ xoây cột con trâu” nhằm cầu mưa, cầu mùa, hoặc do dịch bệnh làm chết nhiều người trong thôn, do cháy buôn, làm ăn mất mùa, mừng thắng trận… Chủ làng thay mặt dân làng khấn xin Yàng trời, Yàng đất trợ giúp con người vượt qua hoạn nạn, khó khăn đến ngày hẹn buôn làng tổ chức đâm trâu trả nợ Yàng.
Đối với gia đình, lễ xoây cột con trâu được tổ chức nhằm tạ ơn trời đất đem lại cho họ điều tốt, việc lành. Hoặc khi người trong gia đình thường bị
ốm đau, bệnh tật, gia chủ khấn Yàng phù trợ cho họ tai qua nạn khỏi, nay đến ngày hiến sinh cúng trả nợ Yàng. Ngoài ra “lễ xoây cột con trâu” cũng thường thấy trong lễ bỏ mả - một lễ hội quan trọng nhất trong vòng đời của cộng đồng Chăm H’roi.
Theo quan niệm của người Chăm, nợ Yàng là nợ lớn nhất, lâu dài nhất của con người. Nếu đã khấn Yàng mà đời cha không trả được thì đến đời con, đời cháu phải thực hiện nghĩa vụ đó.
Lễ hội thường tổ chức ở bãi đất trống trong làng. Ngày đầu tiên, tiếng cồng chiêng nổi lên để mời gọi và đón tiếp thần linh cũng như những người tham dự và hoàn thành các bước chuẩn bị cho lễ hội. Trong suốt thời gian này, cồng chiêng liên tục nổi lên để khuấy động không khí.
Linh vật không thể thiếu trong lễ đâm trâu là cây nêu. Cây nêu được xem là linh hồn của buổi lễ, nơi các vị thần bay về ngự chứng giám lòng thành của con dân. Cây nêu phải là thân cây muỗng cao, thẳng, trên đầu được chẻ thành nhiều ngọn xòe ra như bông lúa. Xung quanh trang trí các vòng tròn, những thẻ gỗ mỏng dài, những hình vuông tròn... Ba cây nêu được chôn giữa bãi đất trống, xung quanh đắp thành một bờ đất cao hình tròn làm nền để già làng thực hiện hoạt động đâm tế các con vật hiến sinh. Đoàn người đánh chiêng vừa gõ vừa kêu lên vài tiếng để đánh động thần linh chứng giám cho lòng thành của họ. Già làng đến gần rung nhẹ cây nêu với ý nghĩa mừng thần linh, báo hiệu để thần linh về dự lễ. Lúc này, mọi người tụ tập ở nhà sàn uống rượu cần và đánh cồng chiêng rộn rã.
Lễ hội đâm trâu là sự tổng hợp của nhiều yếu tố, gắn liền với những hoạt động văn hóa truyền thống, mang ý nghĩa tâm linh và nhân sinh sâu sắc.
Nếu đỉnh cao của lễ hội là lúc mũi lao cắm vào tim con trâu thì những âm thanh, những điệu múa, lời ca, sự hiện diện cao vút lên không trung của cột đâm trâu chính là linh hồn của lễ hội. Ý nghĩa của lễ hội đâm trâu còn được phản ánh qua không khí linh thiêng, đậm chất núi rừng linh ứng, khi vị chủ lễ
thông báo tình hình buôn làng trong năm, cầu mong sự phù hộ của các vị thần linh, ma quỷ về dự lễ, chứng giám cho tấm lòng của dân làng.
Không khí buổi lễ không hề lắng xuống sau lễ đâm trâu. Lúc này cả làng quây quần bên ghè rượu cần, bên những mâm thịt, cùng nhau nhảy múa, ăn uống quanh đống lửa tận hưởng những thành quả của ngày lễ, sự ban thưởng của thần linh. Lễ hội toát lên một cách đầy đủ nhất những sắc thái đặc trưng văn hóa tộc người, thể hiện tính cộng đồng trong sự cộng hưởng: cầu mùa, cầu an, cầu phúc...
Ngày nay, do nhiều nguyên nhân mà nhiều lễ hội của cộng đồng các dân tộc miền núi Phú Yên bị biến tướng và mai một. Song, lễ hội đâm trâu thì hầu hết các dân tộc vẫn còn duy trì trong dịp mừng năm mới. Đó là một nét văn hóa tổng hòa giữa con người và thiên nhiên, mang ý nghĩa tâm linh và nhân sinh sâu sắc. Trong lễ đâm trâu, đồng bào có dịp bày tỏ tình cảm với nhau bằng lời ca tiếng hát, bằng tiếng cồng chiêng. Và điều quan trọng hơn, con người có sự gắn kết cộng đồng, cùng nhau hy vọng, ước mong cho cuộc sống an lạc, no ấm.
Lễ bỏ mả
Các tộc người Ba Na, Ê đê, Chăm ở Phú Yên đều có chung quan niệm là con người có hai phần: xác và hồn. Phần xác là hình hài, con người có thể nhìn thấy được khi còn sống. Phần hồn, không nhìn thấy, bất tử. Khi con người chết, phần xác thối rữa mất đi, nhưng hồn vẫn tồn tại, gọi là “ma”. Và trong khoảng thời gian người vừa chết đến khi làm lễ bỏ mả, hồn người chết vẫn chưa vẫn chưa rời khỏi buôn làng để đi về thế giới của “ma”; hồn vẫn quanh quẩn ở nghĩa địa và gia đình, có mọi nhu cầu như người sống, nghĩa là phải ăn uống, giao cảm với người thân.
Từ quan niệm trên, nên khi người thân qua đời và đã chôn cất, hằng ngày, người thân của người quá cố đem cơm, nước, rượu và vật dụng đến
nhà nhà mồ, cúng mời người chết ăn uống và giao cảm. Họ cho rằng, chỉ làm lễ bỏ mả, hồn người chết mới vĩnh viễn rời khỏi gia đình và buôn làng trở về với thế giới tổ tiên và không quấy rầy, không đòi hỏi những người đang sống phải phục dịch nữa.
Cả người Ba Na, Ê đê, Chăm ở Phú Yên đều dùng chung từ pơthi âtâu để chỉ lễ bỏ mả. Lễ hội bỏ mả là lễ hội tuy do từng gia đình tổ chức, nhưng do có sự tham gia của mỗi thành viên trong cộng động buôn làng, nên trở thành lễ hội của cả buôn, cả vùng. Tại lễ hội này, nghệ thuật ăn uống, nghệ thuật biểu diễn cồng chiêng, nghệ thuật múa, nghệ thuật điêu khắc và tạo hình dân gian được thể hiện tập trung nhất. Đây là một trong những lễ hội đông đảo, tưng bừng nhất của các tộc người. Nó là một sinh hoạt dân gian, là bức tranh văn hóa đa màu sắc của các dân tộc bản địa ở vùng núi Phú Yên.
Lễ bỏ mả là một lễ hội gắn với việc tang nhưng lại vui vẻ, hào sảng như một ngày hội. Bởi, theo quan niệm của đồng bào, càng sớm làm lễ bỏ mả thì linh hồn người chết càng sớm được nhập vào trẻ sơ sinh mà quy về dương thế, sống với đồng tộc. Hơn nữa, đây là dịp thể hiện trách nhiệm cộng đồng, gia đình, người thân với người đã khuất. Và, một lý do nữa, chỉ sau khi đã làm lễ bỏ mả, thì vợ hoặc chồng của người chết mới được tái giá. Rõ ràng, việc làm lễ ở đây không chỉ vì người chết, mà còn vì người sống. Đó là chưa kể những nhà mồ với tượng, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, trang trí… là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo và quý giá, đang ngày càng được chú ý giữ gìn và bảo vệ. Trên đỉnh nhà mồ thường được trang trí bằng những hình tượng như đàn chim, gia súc và hình người. Các pho tượng này mặc dầu còn thô nhám, nhưng rất có hồn, kiểu dáng, đường nét rất sinh động như các tượng khỉ, trâu, công… Có tượng người ngồi co ro, gương mặt buồn rười rượi. Với quan niệm rằng linh hồn người chết sẽ nhập vào các pho tượng, các pho tượng này sẽ trở thành nô lệ cho linh hồn người quá cố ở thế giới bên
kia. Vui buồn, đau khổ, cam chịu, nhẫn nhục đều thể hiện lên gương mặt từng nhà mồ. Các nghệ nhân tạc tượng cũng chỉ là những người dân bình thường, nhưng bằng những công cụ đơn giản họ đã thổi hồn vào gỗ, làm hồn in trên từng gương mặt, vóc dáng rất sinh động.
Trong những lễ hội: bỏ mả, đâm trâu xoây cột … đàn ông, đàn bà quây quần quanh dãy ché, uống rượu. Đối với đồng bào nơi đây, rượu cần là sự biểu hiện, cầu nối tình cảm giữa chủ và khách. Nên khi khách đến nhà, nếu trong nhà thiếu rượu, họ cũng cố gắng tìm mượn bà con trong buôn mang về đãi khách. Ngồi trên nhà sàn, uống rượu cần, ăn thịt nướng… lắng nghe tiếng cồng chiêng âm vang, giữa buôn làng, trên núi cao hoặc trong rừng thẳm là một nhu cầu, một thú vui tao nhã hấp dẫn không chỉ riêng cư dân bản địa mà còn thu hút nhiều du khách gần xa.
Ngoài những lễ hội kể trên, các đồng bào dân tộc thiểu số ở Phú Yên còn có các lễ hội như: lễ mừng nhà mới, lễ cầu mùa, lễ cúng đầu phục, cúng sân, lễ mừng lúa mới… kéo dài trong nhiều ngày với các loại hình sinh hoạt văn hóa rất phong phú, sinh động, đồng thời có sự kết hợp giữa nghi thức tâm linh và các sinh hoạt văn hóa đa dạng, tạo nên bản sắc của đồng bào dân tộc phía Đông Trường Sơn, mà sự giao thoa, hỗn dung lẫn ảnh hưởng văn hóa được chú ý trong mối quan hệ cộng cư, xen cư của các tộc người sinh sống trên vùng đất này.