Lễ hội vùng đồng bằng và ven biển

Một phần của tài liệu Văn hóa dân gian với du lịch văn hóa tỉnh phú yên (Trang 63 - 69)

2.1. Từ tài nguyên văn hóa dân gian đến sản phẩm du lịch văn hóa

2.1.1.2. Lễ hội vùng đồng bằng và ven biển

Nằm trong tín ngưỡng của dân ta, nhất là dân chúng ven duyên hải có tục thờ cá voi, cá voi có một sự tích, sự tích thần bí cũng như các linh vật khác thường được người dân nhắc nhở tới.

“Tục truyền rằng cá voi là tiền thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

Đức Quan Thế Âm đã có lần hóa thân để cứu khổ chúng sinh. Ngài hóa thân thành Ông Nam Hải đi tuần du biển Nam Hải.

Một hôm trên tòa sen nhìn lướt qua sóng gió đại dương Nam Hải, ngài không khỏi đau lòng thấy muôn ngàn sinh linh gặp cơn phong ba bão táp phải bỏ mình vì sóng gió, mà những nạn nhân đáng thương này chỉ là những ngư dân hiền lành chất phác lấy nghề đánh cá nuôi thân.

Trước cảnh tượng đau lòng đó, Bồ Tát liền cởi chiếc pháp y xé tan thành từng mảnh vụn ném xuống mặt biển mênh mông. Mỗi mảnh vụn theo nguyện ý của Bồ Tát đã biến thành một cá voi với trách vụ cứu nguy đám ngư dân lâm nạn trước bão tố của Nam Hải Đại Dương. Kể từ đó, cá voi là ân ngư của đám thuyền chài sống về biển cả.

Tiếc thay! Hình vóc cá voi lúc đó tương đối nhỏ, không đủ sức chống trả với bao nhiêu sóng cả gió lớn bao phủ chiếc thuyền. Trước tình trạng ấy, Đức Quan Thế Âm liền cấp tốc mượn bộ xương của ông Tượng trên rừng cho đàn cá. Nhờ được xương to, đàn cá có vóc lớn đầy đủ sức mạnh chống lại sức mạnh của đại dương. Từ đó đàn cá mang tên cá voi vì mượn xương của voi và cũng vì to lớn như voi. Người ta còn bảo rằng hài cốt của voi và cá voi giống nhau như một.

Nhờ sức vóc to lớn, cá voi mặc sức vùng vẫy ngoài biển cả, và đã đương đầu chống lại sóng to bão lớn, kèm giữ cho thuyền ghe được thăng bằng, không bị tan vỡ giữa sức tung hất của sóng gió, lại dìu cho thuyền ghe này vào tận bờ biển. Tuy nhiên, to lớn thì chậm chạp, nên nhiều trường hợp biết có thuyền chài ngộ nạn, nhưng ở quá xa, dù cá voi cố sức bơi tới cũng không kịp cứu nạn nhân. Để giúp cho cá voi làm tròn nhiệm vụ cứu nạn của mình, Đức Bồ Tát đã ban cho cá voi phép thu đường, giúp cho cá voi ở bất cứ nơi nào cần đến nơi nào để cứu nạn đều có thể kịp thời. Nhờ có phép thu

đường, cá voi đã kịp cứu các ghe thuyền lâm nạn không kể ở hải điểm nào, xa gần bao nhiêu”.

Miền biển Phú Yên có tục thờ cúng Ông Nam Hải: cá voi. Họ gọi cá voi là Ông với lòng tôn kính, khác với người dân miền núi gọi cọp là ông chỉ vì sợ sệt. Họ tin rằng Ông là hiện thân của Thần Ân Nam Hải, kịp thời hiện ra để cứu giúp ngư dân khi đang gặp bão tố ngoài biển khơi.

Lễ hội được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng giêng hằng năm, gồm có hai phần: phần lễ và phần hội. Phần hội mới tổ chức vài thập niên gần đây ở thôn Phú Tân và Tân Long vì vùng này nước sâu có thể đua thuyền được.

Phần lễ gồm lễ nghinh thần và lễ rước thần. Lễ nghinh thần được tổ chức trước ngày cúng tế ba ngày. Một chiếc ghe lớn được trang trí lộng lẫy, cờ xí rực rỡ, kèn trống rộn ràng. Ban ngày ra ngoài biển nghinh Ông (rước mời Hà Bá Thủy Long và các vị thần ở sông, đầm, biển). Ban đêm thì ghe về đậu trước lăng Ông, nơi tổ chức lễ hội, để sáng hôm sau lại tiếp tục đi và cứ như vậy trong ba ngày rồi về lăng nhập cúng.

Cùng với lễ nghinh thần còn có lễ rước thần. Ghe thuyền cũng được trang trí như khi đi nghinh thần, đi đến các lăng Ông, lăng Bà chung quanh đầm để rước các thần về lăng cúng tế. Đặc biệt lễ rước thần được đông đảo ngư dân tham gia thành đám rước thần. Trên thuyền rước thần có chừng 15 người gồm ban cúng tế và ban nhạc.

Những ngày rước lễ, các vị bô lão lo việc cúng kính để cầu cho trời yên biển lặng, năm mới biển được mùa, tai qua nạn khỏi. Lễ cúng có đèn hương, hoa quả, heo, gà… Vị chánh tế được các vị cao tuổi chọn người có uy tín, đức độ vẹn toàn và mời thầy lễ lo việc cúng tế.

Ngày vào lễ, lễ vật cúng tế được chuẩn bị sạch sẽ. Vị chánh tế cho khởi chinh cổ và nghi thức cúng tế bắt đầu với bài văn tế và hành lễ. Lễ xong báo hiệu bằng hồi trống, chiêng kéo dài chấm dứt phần lễ. Tiếp theo tiếng trống

thúc ở ngoài đầm cũng được đánh liên hồi để bắt đầu việc đua lệ thần ở phía trước lăng Ông.

Đua lệ thần gồm 4 sõng với 8 dầm bơi, đoạn đường đua ba vòng sáu lượt. Vị chánh tế đánh ba hồi trống lại chín tiếng là xuất phát đua lệ thần.

Theo đó trống lệnh xuất phát là trống giục ba tiếng liên hồi với sự cổ vũ của đám đông tham dự lễ hội. Khi gần đến đích các tay đua đều nhảy xuống nước và nhận chìm sõng, đưa lên bờ đổ nước với mục đích xua đi những rủi ro, xui xẻo của năm cũ ra biển Đông và đón nhận những điều tốt đẹp cho năm mới.

Sau phần lễ những năm gần đây có phần hội. Các vị lão làng cùng bà con với cờ trống đi về hướng mặt đầm, nơi ấy đã chuẩn bị sẵn thuyền rồng và ghe đua hạ thủy bắt đầu phần vui chơi đua thuyền trên đầm Ô Loan.

Hội đua thuyền đầm Ô Loan gồm có đua thuyền rồng, thuyền chài, sõng lưới, lắc thúng chai, chống sõng, bơi lội… Đan xen giữa các tiết mục đua bơi là các hoạt động văn hóa dân gian đậm đà bản sắc dân tộc như múa siêu, múa rồng, múa lân, hò bá trạo…

Lễ hội đầm Ô Loan thể hiện tín ngưỡng dân gian qua các vị thần quanh vùng: thần biển, thần sông (hà bá) cùng hệ thống thủy thần, cầu cho trời yên biển lặng, cá tôm nhiều. Lễ hội được bổ sung nhiều hoạt động mới gắn liền với hoạt động lao động sản xuất, với tính dân tộc, tính truyền thống, song có thêm màu sắc hiện đại đáp ứng nhu cầu cuộc sống. Ngày nay, phần lễ, bài văn tế của thầy văn đã được thay bằng bài diễn văn của chính quyền do ban tổ chức đọc. Nội dung gắn liền với đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội. Phần hội bổ sung nhiều hoạt động ý nghĩa trở thành nét đẹp văn hóa đầm Ô Loan, Phú Yên.

Lễ hội đền thờ Lê Thành Phương

Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn Mỹ Phú, xã An Hiệp, huyện Tuy An), trong một gia đình có truyền thống nho học và giàu lòng yêu nước. Năm 1885, hưởng ứng chiếu

Cần Vương của vua Hàm Nghi, Lê Thành Phương cùng một số sĩ phu, văn thân yêu nước ở Phú Yên đứng lên tập hợp lực lượng nghĩa quân, dựng cờ khởi nghĩa chống thực dân Pháp xâm lược. Cuộc khởi nghĩa do Lê Thành Phương tổ chức, lãnh đạo là một bộ phận quan trọng của phong trào Cần Vương toàn quốc; có vị trí tiếp nối và châm ngòi cho phong trào Cần Vương ở các tỉnh phía nam kinh thành Huế. Cuộc khởi nghĩa thể hiện rõ ý thức độc lập tự chủ và bản lĩnh quật cường, anh dũng của nhân dân Phú Yên.

Khi bị sa vào tay giặc, Lê Thành Phương đã khẳng khái nói trước quân thù câu nói bất hủ: “Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục” (Thà chịu chết chứ không sống nhục). Ngày 20/2/1887 (tức 28 tháng Giêng năm Đinh Hợi), quân thù ra lệnh xử tử Lê Thành Phương cùng một số nghĩa quân tại bến đò Cây Dừa (thuộc xã An Dân, huyện Tuy An ngày nay). Ngày 27/9/1996, Bộ Văn hoá Thông tin quyết định công nhận di tích mộ và đền thờ Lê Thành Phương là di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Đến với lễ hội Lê Thành Phương, ngay từ tờ mờ sáng, hàng nghìn người dân náo nức đổ về khu vực sân trước đền thờ để được đắm mình trong không khí lễ hội, trong những trò chơi dân gian của cha ông ta từ ngày xưa.

Nhiều trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như hô bài chòi, cờ tướng, cờ người, đẩy gậy, nhảy dây, nhảy thụng, bịt mắt bắt dê, kéo co... thu hút đông đảo người dân tham gia.

Lễ hội Lê Thành Phương đã góp phần nâng cao nhận thức lịch sử, truyền thống của cán bộ, quần chúng nhân dân trong tỉnh, cũng như ý thức trách nhiệm của toàn dân trong việc phát huy giá trị di tích lịch sử này.

Lễ hội đua ngựa gò Thì Thùng

Được tổ chức vào ngày mùng 9 tháng Giêng âm lịch, tại gò Thì Thùng, xã An Xuân, huyện Tuy An. Nằm ở độ cao 440m so với mặt nước biển, gò Thì Thùng là vùng đồi rộng hàng trăm hecta, tương đối bằng phẳng, khí hậu

mát mẻ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là căn cứ cách mạng vững chắc của quân dân Phú Yên.

Trong những năm kháng chiến, vùng đất An Xuân trở thành căn cứ cách mạng nên hội đua ngựa không thể duy trì vì hầu hết ngựa của nhân dân đều tham gia tải gạo, muối lên vùng căn cứ nuôi bộ đội. Sau ngày giải phóng đất nước, ngựa lại tiếp tục gắn bó với người dân các xã miền núi thồ nông sản từ nương rẫy về nhà, đến chợ và ngày hội đua ngựa gò Thì Thùng lại được khôi phục từ đó.

Đây là lễ hội đua ngựa dân gian duy nhất ở Phú Yên vốn có từ hàng chục năm trước được người dân các huyện miền núi chung sức khôi phục, tổ chức trong những ngày đầu xuân. Nó còn là một trong hai lễ hội đua ngựa còn hiện diện tại Việt Nam, hội đua ngựa gò Thì Thùng đã trở thành hoạt động văn hóa, thể thao được yêu thích tại khu vực miền Trung Tây Nguyên.

Trường đua là một gò đất bằng phẳng rộng hơn 10 ha, tiếp giáp giữa hai huyện miền núi Sơn Hòa, Đồng Xuân và các xã vùng cao phía tây huyện Tuy An - nơi mà người dân dùng ngựa làm phương tiện vận chuyển thiết yếu hàng ngày. Theo quan niệm của người dân ở đây, người chiến thắng trong cuộc đua ngựa này, ngoài những phần thưởng còn được xem là người may mắn nhất trong năm.

Lễ hội đua ngựa gò Thì Thùng đã trở thành ngày hội mừng xuân lớn nhất của bà con các xã vùng cao. Điều đặc biệt hiếm nơi nào có được là tính trách nhiệm cộng đồng rất cao của bà con trong việc chung sức tổ chức ngày hội. Mọi người đều tự giác lo cho ngày hội được chu tất. Ban tổ chức và ban giám khảo đều những già làng, những người có uy tín trong buôn xóm nên ai cũng tuân thủ theo sự phân công của họ, công việc được xếp đặt, thực hiện rất trôi chảy. Do địa bàn rộng lớn, đường xá đi lại xa xôi và khó khăn nên người dân tự tổ chức nấu nướng ăn uống ngay tại trường đua. Khi đi dự hội mỗi người đều tự giác mang theo góp vài ký gạo, nếp, con gà, con vịt, bầu bí,

mắm muối tương cà... chung với nhau để nấu ăn phục vụ cho ngày hội cho cả cộng đồng. Sau khi tham gia các hoạt động lễ hội, đặc biệt là xem đua ngựa, đã thành thông lệ, đến bữa mọi người cứ tự nhiên vui vẻ ngồi vào mâm cỗ mà không phải tốn một chi phí nào. Và cứ thế, mọi người cùng chúc cho nhau một năm mới đầy ắp niềm vui và những điều tốt lành.

Một phần của tài liệu Văn hóa dân gian với du lịch văn hóa tỉnh phú yên (Trang 63 - 69)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(217 trang)