Qua khảo sát thực tế, bước đầu chúng ta có thể nhận định rằng Phú Yên có một kho tàng văn hóa dân gian khá phong phú có thể phục vụ tốt cho du lịch, tạo sức hút mạnh mẽ cho du khách trong và ngoài nước đến tham quan và tìm hiểu, nhưng nguồn vốn quý giá này nhìn chung vẫn chưa được khai thác đầy đủ và bài bản.
Để văn hóa dân gian phát huy tối đa sức mạnh của nó, phục vụ đắc lực cho sự phát triển ngành du lịch địa phương, chúng ta có thể thử kết hợp các loại hình du lịch với nhau, đưa loại hình du lịch văn hóa lồng ghép vào du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch trải nghiệm… để đạt được kết quả cao nhất. Ví dụ: du khách đặt tour du lịch biển đảo có thể tham dự lễ hội cầu ngư, tham quan cơ sở đóng tàu thuyền, làm nước mắm, các làng chài ven biển, du lịch sinh thái tại các suối nước khoáng nóng, các hồ thủy điện kết hợp với tham quan các làng nghề truyền thống v.v... Các lễ hội, các loại hình nghệ thuật (bài chòi, múa Chăm, đàn đá, cồng chiêng…) có thể được dàn dựng lại theo hình thức vận dụng phương pháp sân khấu hóa và biểu diễn nghệ thuật phục vụ cho đông đảo du khách thưởng thức. Các làng nghề như: nghề trồng hoa, nghề làm nước mắm, nghề làm nón, nghề làm chiếu… thích hợp cho loại hình du lịch trải nghiệm. Du khách sẽ được tham gia lao động, sản xuất và thưởng thức những sản phẩm do mình làm ra, vừa có ý nghĩa “trải nghiệm”
vừa mang hình thức tiếp thị trực tiếp sản phẩm của các làng nghề đến tận tay du khách. Đây cũng là loại hình từng được áp dụng thành công ở nhiều nơi trong và ngoài nước trong thời gian qua.
Trong tương lai, để khai thác và bảo tồn các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tại Phú Yên cũng như trong vùng để phục vụ phát triển du lịch, mỗi địa phương cần sử dụng hợp lý, hiệu quả các giá trị đó, tập trung khai thác các tuyến điểm du lịch văn hóa, các dịch vụ du lịch văn hóa phù hợp với nhu cầu của du khách trong và ngoài nước. Phát triển các làng nghề truyền thống kết hợp các điểm shopping nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm quà lưu niệm của khách du lịch. Ngoài những di tích, danh thắng đã được công nhận, xếp hạng, các địa phương cần tiếp tục điều tra, đánh giá toàn diện và làm nổi bật giá trị của những vốn di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, đặc biệt là các vốn văn hóa dân gian. Tiếp tục xem xét đề nghị xếp hạng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và quốc tế các vốn di sản đó nhằm không ngừng quảng
bá, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Đầu tư có trọng điểm cho việc khai thác và bảo tồn. Tổ chức và quản lý chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch và đầu tư khai thác các giá trị di sản cho phát triển du lịch văn hóa. Khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia vào quá trình khai thác, sử dụng và bảo tồn các vốn di sản văn hóa theo nguyên lý khai thác phải song song và gắn với bảo tồn. Đây là những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo phát triển bền vững du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng. Ngoài ra, chính quyền và ngành chức năng địa phương cần có chính sách tái đầu tư hợp lý cho việc bảo tồn di sản văn hóa, đánh giá tác động môi trường tại các điểm di tích, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc bảo tồn, tôn tạo di tích, danh thắng và mọi vốn văn hóa dân gian để đảm bảo các giá trị nguyên gốc trong phục vụ du lịch.
Chủ động xây dựng các đề tài, đề án nghiên cứu khoa học, làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển sản phẩm du lịch trên địa bàn; đồng thời, lập danh mục các dự án ưu tiên kêu gọi đầu tư du lịch của tỉnh trong 5 năm tới và các năm tiếp theo. Ưu tiên thu hút một số dự án đầu tư phát triển du lịch có quy mô lớn để nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí và các dịch vụ du lịch.
Xúc tiến việc liên kết với các tỉnh trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên để xây dựng tuyến du lịch liên tỉnh, liên vùng; liên kết với các đơn vị lữ hành ở hai trung tâm có nguồn khách du lịch lớn là Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh để đưa khách về Phú Yên; tổ chức các đoàn doanh nghiệp lữ hành, báo chí trong và ngoài nước về khảo sát sản phẩm du lịch, quảng bá điểm đến nhằm thu hút khách đến Phú Yên.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển loại hình du lịch sinh thái, khai thác các giá trị di sản văn hóa, văn hóa ẩm thực, làng nghề gắn với phát triển du lịch. Đồng thời, sẽ có chính sách hỗ trợ về vay vốn, lãi suất,
thuế, đất đai để đầu tư cơ sở vật chất trưng bày sản phẩm lưu niệm, đặc sản;
đầu tư phương tiện vận chuyển khách du lịch.
Tất nhiên mỗi loại hình văn hóa dân gian phải phát triển bằng sự đầu tư chiều sâu, muốn làng nghề truyền thống phát triển, trở thành một sản phẩm du lịch thực thụ, ngoài sự chủ động phối hợp giữa doanh nghiệp du lịch và người làng nghề, cần phải có sự hỗ trợ đồng bộ từ nhiều phía. Qua khảo sát cho thấy, sản phẩm làng nghề khá phong phú, nhưng sản phẩm phục vụ khách du lịch vừa thiếu, vừa yếu. Cơ sở hạ tầng chưa đảm bảo để khách tham quan, nhưng nếu đầu tư thì người dân không mặn mà vì tốn kém và không biết hiệu quả thế nào. Hầu hết làng nghề đều gặp khó về cơ sở hạ tầng, giao thông.
Người dân làng nghề chưa nhận thức được giá trị mà du lịch đem lại. Còn ngành thì chưa thiết kế được nhiều tour du lịch đưa về các làng nghề; công tác quảng bá, xúc tiến du lịch tại các làng nghề hầu như không có… Điều đó khiến sản phẩm du lịch các làng nghề đơn điệu, kém hấp dẫn.
Để phát huy được giá trị đặc sắc của các làng nghề kết hợp với phát triển du lịch cần có sự đồng bộ ở nhiều khâu như tạo sản phẩm lưu niệm của làng nghề phong phú, tạo không gian, hạ tầng phục vụ tham quan tại làng nghề, nâng cao kiến thức du lịch cho người dân địa phương, quy hoạch làng nghề, xử lý môi trường... Vấn đề này phải có hoạch định chung và hỗ trợ của Nhà nước, chính quyền địa phương.
Cần tổ chức đoàn khảo sát đến một số làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ nhằm đưa những địa chỉ này vào hành trình tour du lịch nội tỉnh. Tuy nhiên, hầu hết làng nghề ở Phú Yên vẫn hoạt động một cách đơn thuần như lâu nay. Không ít người dân làng nghề đắn đo khi các đơn vị lữ hành đưa khách đến tham quan. Họ ngại sẽ bị xáo trộn không gian làm việc, thay đổi thói quen sản xuất… người dân nơi đây làm các sản phẩm phục vụ đời sống như ấm nước, lu, ống khói, bọng giếng… chứ chưa có những sản phẩm thủ công mỹ nghệ để bán cho khách. Đây chính là điểm mấu chốt chưa
gặp nhau giữa sản phẩm làng nghề truyền thống và du lịch. Khách du lịch có nhu cầu mua sắm, nhất là những sản phẩm làm quà lưu niệm đặc trưng của vùng, miền. Trong khi sản phẩm làng nghề chưa hướng tới đối tượng này.
Làng nghề truyền thống muốn thu hút được du khách thì cần tạo ra sản phẩm lưu niệm để bán cho khách, bên cạnh những sản phẩm đặc trưng.
Các làng nghề truyền thống hiện nay phải đứng trước hai con đường, một là, tiếp tục bảo lưu truyền thống và hai là, phải thay đổi để tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Để tiếp tục tồn tại, các làng nghề phải lựa chọn con đường đổi mới để phát triển. Như vậy có thể thấy mâu thuẫn ở đây là làng nghề muốn tồn tại phải thay đổi theo hướng hiện đại hóa nhưng điều này đồng nghĩa với việc mất đi sức hấp dẫn của làng nghề đối với khách du lịch. Để giải bài toán này, làng nghề cần có định hướng phát triển cụ thể, đồng bộ nhằm gìn giữ nghề truyền thống và đồng thời đổi mới để phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường. Đây là điều mà không phải làng nghề du lịch nào cũng có nhận thức sâu sắc đầy đủ cũng như triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả.
Các đơn vị lữ hành cần xúc tiến mở tour, tuyến, điểm du lịch gắn với làng nghề, phát triển thành các chương trình homestay giới thiệu đến du khách nước ngoài; đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên du lịch nắm chắc về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống làng nghề của tỉnh.
Khách du lịch đều có nhu cầu mua sắm, nhất là những sản phẩm để làm quà lưu niệm đặc trưng của vùng, miền, làng nghề và nghệ nhân điển hình.
Làng nghề gắn với du lịch cần tạo ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu của du khách. Muốn vậy, sản phẩm đặc trưng của từng làng nghề ở từng địa phương cần được ưu tiên phát triển đa dạng. Trong đó, việc nghiên cứu thị trường, tâm lý du khách để sản xuất, chế tác các đồ lưu niệm, quà tặng phục vụ theo nhu cầu, thị hiếu cần được quan tâm, bằng cách sử dụng nguyên vật liệu thiên nhiên sẵn có và đảm bảo thân thiện với môi trường, an toàn cho sức khỏe
người tiêu dùng. Chúng ta có thể dùng một loại nguyên liệu làm vật phẩm, cũng có thể kết hợp hai hay nhiều loại nguyên liệu, chất liệu ghép thành một sản phẩm, nhằm tạo hiệu ứng thẩm mỹ và hiệu quả kinh tế - văn hóa cao hơn cho các sản phẩm ấy.
Xét về lợi ích kinh tế, các làng nghề và ngành du lịch đều được thụ hưởng kết quả từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm du lịch làng nghề. Vì vậy, các doanh nghiệp du lịch và người làng nghề cần phải chủ động làm du lịch, tạo ra sản phẩm thiết yếu để phục vụ nhu cầu của du khách. Làng nghề và ngành du lịch là hai chủ thể cần có sự cộng sinh chặt chẽ, để cùng phát triển. Muốn như vậy, chính quyền các cấp và các doanh nghiệp du lịch cần liên kết với nhau hơn nữa trong việc xây dựng các dự án quy hoạch chi tiết, tổng thể về phát triển du lịch để thu hút đầu tư và nâng cao nhận thức xã hội về sản phẩm du lịch; quan tâm đầu tư cho du lịch tại 18 làng nghề truyền thống và du lịch cộng đồng.
Xây dựng và phát triển các tour du lịch làng nghề dài ngày, tạo điều kiện để du khách có thể ở lại tại gia đình người dân ở các làng nghề, để giao lưu hiểu sâu sắc hơn về đời sống vật chất và tinh thần của người dân các làng nghề. Mô hình này khá mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước có nền du lịch phát triển trên thế giới, hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong việc tìm kiếm sự thoải mái về tinh thần, cân bằng trạng thái tâm lý, khám phá những giá trị đích thực của cuộc sống. Mục đích của các tour du lịch làng nghề là mạng lại cho khách du lịch những giá trị về tinh thần, bầu không khí trong lành, giá trị văn hóa và nhân bản sâu sắc. Đối với loại hình tour du lịch này, người dân địa phương phải biết được những ưu điểm, những giá trị đặc thù, độc nhất của làng nghề, những câu chuyện, những trò chơi, lễ hội độc đáo. Trong hình thức du lịch này, dân làng phải hướng dẫn cho khách du lịch hiểu được bản chất trong những quy định của làng nghề, những giá trị truyền thống, văn hóa của địa phương. Tạo điều kiện
để du khách được sử dụng những sản phẩm của làng nghề khi dùng các sản phẩm mây tre đan để chuẩn bị đồ ăn, hay giỏ đựng cá làm bằng mây khi đi câu cá về và được thưởng thức món ăn đặc thù của địa phương, được chuẩn bị và thực hiện các thao tác làm thủ công, lắng nghe những âm thanh tự nhiên của làng quê. Và qua việc trải nghiệm như vậy khách du lịch được sống một cuộc sống làng quê như một người dân làng thực thụ và qua đó hiểu được cuộc sống giản đơn, bình dị và thi vị của cuộc sống, tìm lại sự thanh thản trong tâm hồn.
Xây dựng cụm làng nghề tập trung tại các trung tâm là một loại hình du lịch rất tiềm năng nhưng cũng rất khó thực hiện, đòi hỏi các khâu chuẩn bị phải chu đáo, công phu và tốn kém. Tuy nhiên, loại hình này cũng được các nhà thiết kế tour du lịch đánh giá cao. Hiện nay, ở các trung tâm lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng đang có một số dự án được triển khai theo mô hình này.
Lễ hội truyền thống là yếu tố kích thích cho hoạt động du lịch, thu hút du khách quốc tế và đẩy mạnh du lịch nội địa nếu như được chọn lọc, đầu tư, phát triển đúng hướng và có sắc thái riêng. Một lễ hội thực sự thu hút phải có sự hòa quyện giữa phần “lễ” và phần “hội”, có đủ không gian và đa dạng hoạt động để người dân và du khách hòa mình vào không khí sinh hoạt, vui chơi chung. Các lễ hội được tổ chức còn giúp kéo dài mùa du lịch tại các điểm, giúp khai trương một mùa du lịch mới hoặc trở thành một dạng du lịch thay thế, tiêu biểu của điểm du lịch hay của các địa phương.
Tuy nhiên, khi khai thác các lễ hội truyền thống phục vụ du lịch hiện nay, để tạo sức hút đối với du khách và thoả mãn những nhu cầu của khách, phần lớn các lễ hội truyền thống đã biến đổi những giá trị gốc và bản chất vốn có của nó. Những hình thức văn hóa và di sản không thể thay thế được sẽ bị mất đi do mong muốn hiện đại hóa phục vụ nhu cầu thực tại. Đối với lễ hội truyền thống, nếu các hoạt động lễ hội được quản lý tốt, có thể đem lại những
lợi ích cho cộng đồng, nhưng nếu không được quản lý, điều hành tốt, những vấn đề nảy sinh sẽ gia tăng. Bản chất lễ hội sẽ mất đi, sự hỗ trợ từ phía cộng đồng và những đóng góp tự nguyện sẽ không còn, lễ hội truyền thống dần trở thành lễ hội hiện đại với những diễn viên đóng thế do những chủ nhân của nó không muốn tham dự. Lễ hội sẽ như một chương trình chạy tự động, “đến hẹn lại lên” để phục vụ du khách, không còn là lễ hội cộng đồng.
Chính quyền địa phương, ban quản lý điểm đóng một vai trò quan trọng trong việc mở hội và duy trì lễ hội. Điều cốt yếu là phải nhận thức rõ vai trò của lễ hội truyền thống đối với cộng đồng, nghiên cứu các biện pháp kết hợp với du lịch. Những chính sách, quy chế, quy định đối với lễ hội truyền thống cần linh hoạt để thu hút du khách và tránh được những mặt trái mà du lịch có thể tác động đến lễ hội cổ truyền.
Vấn đề kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của lễ hội truyền thống. Khi người dân được hưởng lợi từ sinh hoạt này sẽ kích thích hơn việc tham gia tích cực từ phía họ, lễ hội vì thế sẽ lớn dần lên và được duy trì một cách lâu dài, bền vững. Xét trên khía cạnh du lịch, du khách sẽ được chào đón hơn khi đến với lễ hội vì người dân địa phương hiểu rằng du khách đến giúp họ bảo tồn chính văn hóa của họ và mang lại lợi ích kinh tế cho họ.
Ngược lại, du khách cũng cảm thấy hài lòng hơn khi đến một nơi du lịch mà người dân nồng nhiệt, mến khách và thân thiện. Những nhà đầu tư, tài trợ cũng sẽ tham gia hăng hái hơn vì nhận thấy có được lợi ích của bản thân họ.
Như vậy, việc thương mại một cách hợp lý, tuyên truyền, quảng bá cho lễ hội là một việc cần thiết. Công tác xúc tiến quảng bá cần được tiến hành triển khai một cách đồng bộ, nghiêm túc và rộng rãi.
Quản lý lễ hội phải có cách nhìn theo nghĩa rộng hơn không chỉ xoay quanh việc phục hồi, bảo tồn phát huy bản thân lễ hội truyền thống ấy mà còn liên quan đến các vấn đề như lập kế hoạch, nguồn nhân lực tổ chức, tham gia lễ hội, tuyên truyền, quảng bá, tìm kiếm nguồn tài trợ, phát triển dịch vụ, đảm