2.1. Từ tài nguyên văn hóa dân gian đến sản phẩm du lịch văn hóa
2.1.2. Nghệ thuật diễn xướng dân gian
Bài chòi là hội vui thường tổ chức vào dịp tết Nguyên Đán ở vùng nông thôn Phú Yên, Bình Định cùng mấy tỉnh duyên hải miền Nam Trung Bộ. Bài chòi gợi cho ta thấy hình ảnh của miền Nam Trung Bộ nói chung và của Phú Yên nói riêng vào thời mở đất. Phải chăng, từ những chòi cao để tránh ác thú, để xua đuổi chim muông phá hoại mùa màng, người ta đố nhau để chống buồn ngủ, để giải trí, ai nghĩ ra trước thì gõ mõ báo hiệu, ban đầu dùng câu nói thường, sau dùng câu ca câu vè… dần dần tiến lên thành hội bài chòi.
Không chỉ là loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc, nghệ thuật bài chòi còn phản ánh nét sinh hoạt lâu đời của người dân đất Phú. Với những giá trị bền vững đó, “nghệ thuật bài chòi Phú Yên” đã trở thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và là bộ phận hợp thành di sản “nghệ thuật bài chòi miền Trung Việt Nam” quý báu.
Theo thạc sĩ Nguyễn Hoài Sơn, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phú Yên, bài chòi Phú Yên đã trải qua hơn ba thế kỷ hình thành, phát triển theo dấu chân mở cõi vào phương Nam. Hiện nay, các bản bài chòi cổ vẫn được trình diễn trong các chương trình dân ca, cổ nhạc. Bên cạnh đó, những bản bài chòi do các tác giả mới sáng tác mang đậm hình ảnh, con người quê hương Phú Yên như: Dáng đứng Phú Yên, Nẫu dìa xứ nẫu, Nhớ ơn người xây tháp…
cũng được phổ biến rộng rãi trong các hội diễn bài chòi.
Không là cái nôi như ở Bình Định, tuy nhiên dân ca bài chòi Phú Yên lại có nét riêng độc đáo. Những làn điệu bài chòi đậm “chất nẫu” có mặt
ngày càng nhiều trong các cuộc thi, hội diễn và các sân chơi nghệ thuật. Dân ca bài chòi còn là món đặc sản của Phú Yên để say lòng du khách. Bên cạnh những giá trị về văn hóa, nghệ thuật, dân ca bài chòi còn mang đậm tính nhân văn, tính giáo dục, hướng con người đến những giá trị, chuẩn mực đạo đức cao đẹp hơn. Đó là giá trị dân gian đặc biệt, gắn với đời sống người dân.
Nhiều sân chơi thiết thực cho những người có chung niềm đam mê dân ca bài chòi ở Phú Yên thể hiện rõ nét giá trị này. Từ những nghệ nhân gạo cội đến những em nhỏ cũng say sưa với bài chòi, mỗi người một kiểu hô, kiểu hát để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng người thưởng thức.
2.1.2.2. Hát bả trạo
Hát bả trạo còn gọi là hò bả trạo, hò đưa linh, hầu linh, có nơi còn gọi là chèo bả trạo. Bả trạo có nghĩa là nắm chắc (bả) mái chèo (trạo). Có người nói là “bá trạo” (trăm mái chèo) với ý nghĩa đây là một cuộc đồng ca, hợp xướng dâng lễ bày tỏ sự nhất tâm, trăm người như một.
Bả trạo là một bài hát dài hàng nghìn câu, được bố cục theo một trình tự chặt chẽ, trong đó:
Phần mở đầu là ra mắt thần Các bước tiếp theo gồm có:
Ra khơi Đánh bắt cá Nghỉ ngơi
Dấu hiệu của bão tố Bão tố
Chống bão tố An bình Tạ ơn thần
Hò bả trạo thường sử dụng các làn điệu sau:
Nói lối
Xướng Phú
Hát khách Hát Nam Ngâm thơ
Ngoài ra, thể xướng và xô cũng được dùng khá phổ biến. Trong lúc hò, tổng lái, tổng mũi, tổng thương bắt bài hát, các con trạo hát theo, đôi lúc nhại lại câu hát của các tổng, làm cho sân khấu hò lúc nào cũng nhộn nhịp, sôi động.
2.1.2.3. Nghệ thuật cồng chiêng
Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, cồng chiêng là nhạc cụ không thể thiếu được trong cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng, sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội; gắn chặt với vòng đời con người và cây trồng; và trở thành bản sắc văn hóa của dân tộc. Ngoài giá trị tinh thần, còn có giá trị về vật chất, được xem là thước đo, để đánh giá mức độ giàu có của cá nhân, gia đình, tộc họ, buôn làng.
Các dân tộc thiểu số ở Phú Yên có nhiều loại chiêng khác nhau:
Chiêng Trum, chiêng mnhum, chiêng Arap, chiêng sar, chiêng năm, cồng ba…
Người ta dựa vào hình dáng để đặt tên cho chiêng: chiêng mẹ, chiêng cha, chiêng con, chiêng chị, chiêng em… Có khi, đặt tên chiêng theo kích cỡ, như: ania, krak, khất, moong… Đôi khi căn cứ vào âm sắc để đặt tên: knak hri (tiếng ngân nga như hát), knak h’long (tiếng ngân vang trong trẻo). Ngoài ra, người ta còn căn cứ vào chức năng âm nhạc mà chiêng đảm nhận để đặt tên cho từng loại, từng chiếc.
Trong bất cứ một dàn chiêng nào cũng cấu tạo theo hai phần: phần đệm và phần giai điệu. Các phần có sự tương phản rõ nét thông qua cách diễn tấu của các bè cao, trung, trầm. Mỗi lễ hội, nghi thức có những bài chiêng khác nhau, tình cảm con người diễn xướng được thể hiện qua tiết tấu, âm điệu của
mỗi bài chiêng. Vì thế, nghe tiếng chiêng, những người am hiểu có thể biết trong buôn đang có lễ hội, hay nghi thức gì.
Văn hóa cồng chiêng là một sản phẩm văn hóa độc đáo của cộng đồng các dân tộc ít người ở Phú Yên nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Nó là một yếu tố văn hóa không thể thiếu được trong đời sống cư dân ở đây. Ngày nay văn hóa cồng chiêng được thế giới công nhận là di sản văn hóa thế giới.