Phú Yên là vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa. Trên địa bàn tỉnh có hàng trăm điểm di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó 18 di tích và thắng cảnh đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Một số di tích, địa danh đã gắn liền với tên tuổi của các danh nhân lịch sử: Đá Bia gắn với truyền thuyết mở cõi về phương Nam của vua Lê Thánh Tông; đền thờ Lương Văn Chánh vị khai quốc công thần của Phú Yên; thành An Thổ, nơi sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam.
Nét đặc sắc của văn hóa Phú Yên là sự đan xen, giao thoa và hòa hợp của nền văn hóa Việt – Chăm với di tích kiến trúc nghệ thuật núi Nhạn, tháp Nhạn, thành Hồ cổ kính; di tích lịch sử Vũng Rô, nơi gắn liền với chiến công huyền thoại của đường Hồ Chí Minh trên biển trong kháng chiến chống Mỹ…Đặc biệt là bộ kèn đá và đàn đá có niên đại cách ngày nay khoảng 2.500 năm.
Nhiều lễ hội, các làn điệu dân ca, làng nghề truyền thống độc đáo và đặc sắc, cũng như những đặc sản khá nổi tiếng như: ốc nhảy sông Cầu, ghẹ đầm Cù Mông, sò huyết Ô Loan, gỏi sứa, chả giông, cá ngừ đại dương…
Nhưng phải đến năm 2011, Phú Yên đăng cai tổ chức Năm Du lịch quốc gia Duyên hải Nam Trung Bộ, du lịch tỉnh mới sang trang. Nhiều công trình kết cấu hạ tầng quan trọng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với phát triển du lịch của tỉnh được đầu tư xây dựng. Việc bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống, văn hóa các dân tộc thiểu số được chú trọng. Đặc biệt, một số công trình có ý nghĩa chào mừng kỷ niệm 400 năm Phú Yên thu hút khách du lịch đến tham quan như: di tích Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh; khu di tích Thành An Thổ - nơi sinh đồng chí Trần Phú; khu di tích Tàu Không số Vũng Rô; khu di tích danh thắng gành Đá Đĩa, khu di tích danh thắng Bãi Môn - Mũi Điện; khu di tích căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến và nhà thờ Bác Hồ ở Sơn Định;
khu di tích địa đạo gò Thì Thùng; bảo tàng tỉnh… Các sản phẩm du lịch làng nghề, du lịch cộng đồng, ẩm thực đang hình thành thông qua sự kết nối của một số đơn vị kinh doanh du lịch lữ hành. Nhiều cơ sở dịch vụ ăn uống được công nhận đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch; các khu ẩm thực cũng theo đó phát triển... Số lượng, chất lượng nguồn nhân lực du lịch ngày càng cao.
Khách sạn từ chỗ chỉ có vài cơ sở năm 1989, đến nay đã có hơn 140 cơ sở;
trong đó có 1 khách sạn và 1 khu resort 5 sao, nhiều cơ sở được công nhận đạt chuẩn từ 1 đến 4 sao.
Sản phẩm du lịch của tỉnh ngày càng phong phú với các loại hình như:
Tham quan di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống, du lịch cộng đồng, du lịch làng nghề; đã hình thành 2 tuyến và 7 điểm du lịch địa phương; hình thành các điểm biểu diễn nghệ thuật phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm lưu niệm, quà tặng bước đầu đã thu hút sự quan tâm của du khách.
Một số di tích, danh thắng, di sản, ẩm thực đặc sản đã được các tổ chức công nhận, xếp hạng. Hoạt động lữ hành đã có bước phát triển khá, một số đơn vị kinh doanh lữ hành bước đầu xây dựng được các chương trình du lịch khá phong phú; tổ chức đón nhiều đoàn lữ hành, báo chí trong và ngoài nước đến khảo sát sản phẩm du lịch Phú Yên và kết nối đưa khách về Phú Yên.
Giai đoạn 2011 - 2015 tính đến nay lượt khách du lịch lưu trú tăng 20%/năm, trong đó khách quốc tế tăng khoảng 17%/năm chủ yếu là khách Nga, Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Đài Loan (Trung Quốc), Úc, Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản; thu nhập từ du lịch tăng khoảng 30%/năm; đóng góp vào GDP của tỉnh đạt khoảng 3,5 đến 4%/năm. Đến năm 2015, tổng lượt khách du lịch đến Phú Yên khoảng 900.000 lượt, trong đó khách quốc tế trên 45.000 lượt; doanh thu du lịch thuần túy đạt trên 850 tỉ đồng12. Những kết quả đạt được của du lịch trong năm qua là rất tích cực, tạo tiền đề cho phát triển du lịch trong những năm đến.
12 Số liệu của Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Phú Yên
Với sự quan tâm, đầu tư của tỉnh, những làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí, hình ảnh trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Phát triển du lịch làng nghề đã và đang được xem là một hướng đi đúng đắn, phù hợp theo xu hướng du lịch hiện đại. Phú Yên hiện có khoảng 18 làng nghề, trong đó phải kể đến những làng nghề được nhiều người biết đến, như: Làng nghề đan lát Vinh Ba, làng nghề bánh tráng Hòa Đa, làng rau Ngọc Lãng, làng chiếu cói Cù Du…
Biểu đồ 3: Địa điểm tham quan làng nghề yêu thích
Nhưng hiện nay, hầu hết người dân tại các làng nghề vẫn chưa có khái niệm quảng bá, kết hợp du lịch với làng nghề của mình, có chăng chỉ một vài công ty du lịch tự tổ chức đưa khách đến tham quan. Vì vậy, việc tuyên truyền cho người dân làng nghề thấy được sự kết hợp giữa du lịch và làng nghề là sự phát triển bền vững, là một vấn đề lớn cần thời gian và các giải pháp đồng bộ để có thể tạo nên sản phẩm du lịch làng nghề.
Ở nhiều địa phương, tài nguyên làng nghề truyền thống đang được ngành du lịch khai thác một cách tích cực tạo nên sản phẩm riêng biệt, đặc trưng. Mặc dù, Phú Yên có chủ trương gắn làng nghề với phát triển du lịch;
các đơn vị lữ hành cũng đã có nhiều cố gắng xây dựng nhiều tour, tuyến nhưng vẫn chưa định hình được sản phẩm làng nghề du lịch. Thế nên lượng khách du lịch ít và hầu như chỉ đến một lần là do làng nghề chưa được đầu tư một cách bài bản có hệ thống về cơ sở hạ tầng kỹ thuật; người dân làng nghề
chưa nhận thức đầy đủ về việc của mình gắn với du lịch; sản phẩm làng nghề khá phong phú, nhưng sản phẩm phục vụ khách du lịch của làng nghề vừa thiếu, vừa yếu; thiếu đội ngũ hướng dẫn viên lành nghề có thể nắm chắc thông tin về sự phát triển, về những nghệ nhân của các làng nghề.
Để thu hút khách đến tham quan thì các làng nghề này vẫn chưa tạo ra được các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn. Khách đến tham quan một lần mà khó đến lại lần nữa, việc kết nối du lịch với các làng nghề còn thiếu gắn kết. Thời gian qua, một số công ty du lịch lữ hành đã khảo sát và đưa các làng nghề vào tour du lịch. Nhưng theo đánh giá của các đơn vị du lịch lữ hành, các tour này chưa thật sự hấp dẫn. Đa số khách tham quan làng nghề là người nước ngoài, các làng nghề thiếu sự đầu từ công phu, sản phẩm còn nghèo nàn.
Các chủ làng nghề chưa hiểu hết tâm lý của du khách tham quan. Khách du lịch luôn muốn được tận mắt chứng kiến và tự mình làm ra một sản phẩm. Họ cũng muốn tìm hiểu cách làm ra sản phẩm này như thế nào…Nhưng do bất đồng về ngôn ngữ nên các làng nghề khó tiếp thị được sản phẩm cho họ. Vì vậy mà tại các làng nghề nên có những lao động có kỹ năng giao tiếp với du khách.
Ông Nguyễn Lân (53 tuổi – làng nón Phú Diễn) nói: "Nếu làng nghề kết nối được với du lịch, thì đây sẽ là kênh quảng bá nhanh nhất, hiệu quả nhất cho các sản phẩm của làng nghề, tạo điểm du lịch mới tại địa phương.
Dựa vào du lịch, làng nghề sẽ dễ dàng tìm kiếm được thị trường kinh doanh và quảng bá các sản phẩm của địa phương mình…Để làm được điều này, các làng nghề rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của cơ quan chức năng tỉnh Phú Yên".
Trên thực tế, số làng nghề được chọn làm điểm đến cho các du khách còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Ở Phú Yên mới chỉ có Ngọc Lãng với nghề truyền thống trồng rau, trồng hoa, nghề thủ công mỹ nghệ... đã được khai thác thành làng nghề du lịch cộng đồng, với sản phẩm du lịch gồm tour tham quan làng rau, làng nghề, tour tham quan trải nghiệm, tour homestay. Dự án hình thành
và đang thu hút khách du lịch, giúp cho bà con nơi đây chuyển đổi cơ cấu trồng rau, trồng hoa theo mùa vụ sang quanh năm. Tour tham quan du lịch và trải nghiệm “một ngày làm nông dân trồng rau” thời gian 1 ngày, tour du lịch
“Home stay tại làng rau Ngọc Lãng” 2 ngày 1 đêm, nghỉ lại tại nhà người dân trồng rau và ngoài ra có thể tham quan và giao lưu, mua sản phẩm rau sạch, hoa đẹp…Ngoài trồng rau, dân Ngọc Lãng còn nhiều nghề thủ công truyền thống thu hút khách tham quan, trải nghiệm…
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các làng nghề chưa có các dịch vụ phục vụ du lịch; cơ sở hạ tầng tại các làng nghề còn yếu kém; ô nhiễm môi trường nặng nề; nhiều nghề truyền thống đang dần mai một… Hơn nữa, bản thân những người làm nghề thủ công ít có điều kiện khảo sát nhu cầu của du khách, trong khi, các tổ chức, hiệp hội làng nghề chưa khẳng định được vai trò của mình trong việc định hướng bảo tồn, phát triển du lịch làng nghề.
Việc tạo các sản phẩm du lịch trọn gói, hấp dẫn khách du lịch và lập chương trình cho các tuyến, chương trình du lịch làng nghề còn chưa được quan tâm thỏa đáng.
Rất nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn chưa được khai thác, kết hợp hài hòa để tạo ra sức hấp dẫn mới cho các tuyến, chương trình du lịch. Các yếu tố hấp dẫn gây ấn tượng đặc biệt đối với khách du lịch không chỉ dừng lại là sản phẩm thủ công truyền thống đặc sắc mà các khách du lịch còn mong muốn được tham quan dây chuyền công nghệ, xem các nghệ nhân trình diễn công nghệ, chế tác các sản phẩm thủ công truyền thống, tham quan nơi trưng bày bảo tồn các di vật của làng nghề, nơi giới thiệu và bán các sản phẩm của làng nghề… Tất cả được diễn ra trong không gian làng xã, đan xen hòa quyện với các sinh hoạt văn hóa dân gian như âm nhạc, trò chơi dân gian, nghệ thuật ẩm thực.
Ngay cả những mặt hàng truyền thống độc đáo được sản xuất thủ công tại các làng nghề cũng chưa được chú ý, đầu tư thích đáng. Chủng loại, kiểu
dáng của sản phẩm thủ công truyền thống chưa phong phú, đa dạng, chất lượng chưa cao… để hấp dẫn khách du lịch. Nguyên nhân của tình trạng này là do các làng nghề thiếu một đội ngũ sáng tác, thiết kế mẫu chuyên nghiệp làm cho tính truyền thống luôn hòa quyện với tính tiên tiến hiện đại nhờ đó mà sản phẩm truyền thống mang được tính hơi thở của thời đại, mẫu mã sản phẩm sẽ đa dạng, phong phú hơn, hấp dẫn khách du lịch hơn..
Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, chỉ có một số làng nghề trọng điểm được quan tâm, hỗ trợ đầu tư của nhà nước về hệ thống giao thông đường làng, điện, nước… còn hầu hết các làng nghề cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu, chưa đủ đáp ứng các yêu cầu của khách du lịch. Nhiều làng nghề du lịch chưa xây dựng được các khu ăn uống, vui chơi giải trí, chỉ đơn thuần vào việc giới thiệu và bán sản phẩm. Ngoài ra, hầu hết các làng nghề đều thiếu nhà truyền thống, nhà trưng bày bảo tồn của làng nghề.
Đi liền với sự phát triển của hoạt động sản xuất, nhiều giá trị văn hóa dần dần bị mai một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra đi của nhiều nghệ nhân lớn tuổi. Xu hướng thương mại hóa do chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho bản sắc văn hóa của làng nghề bị phai mờ. Ngày nay, mọi người đều nhận thức rõ được rằng, đánh mất bản sắc văn hóa là điều nguy hiểm đối với sự tồn tại của một làng nghề. Nếu chúng ta cứ chạy theo lợi nhuận kinh tế mà mà không lưu tâm bảo tồn giá trị văn hóa thì nguy cơ mai một các làng nghề sẽ không có cách gì chống đỡ nỗi.
Như vậy có thể nói, mặc dù du lịch làng nghề đã cho thấy tiềm năng phát triển rất lớn, vai trò rất quan trọng nhưng trên thực tế, trong thời gian qua, hoạt động của loại hình du lịch trên vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại cần được giải quyết.
Phú Yên là vùng đất của nhiều lễ hội phong phú và đặc sắc nhưng chưa được khai thác, quy hoạch đưa vào phục vụ du lịch. Những lễ hội như lễ đền Lê Thành Phương, Lương Văn Chánh, lễ cầu ngư, đua ngựa... chỉ diễn ra ở
địa phương với quy mô nhỏ, manh mún còn thiếu sự quảng bá, giới thiệu đến đông đảo du khách. Ấn tượng lễ hội trong lòng du khách còn mờ nhạt, chưa tạo được dấu ấn.
Dù được tổ chức với số lượng ngày càng nhiều nhưng các công ty du lịch hầu như không được cung cấp trước thông tin về hoạt động của lễ hội nên không thể triển khai sản phẩm chào bán cho du khách. Mặt khác, các lễ hội đa phần tương tự nhau, du khách đã đi lễ hội này thì không còn muốn tham gia lễ hội khác nữa. Vấn đề hạn hẹp không gian khiến du khách không thể tham dự được phần lễ trong khi các trò chơi của phần hội hầu như cũng chỉ xoay quanh trò kéo co, nhảy bao bố… mà chưa có điểm nhấn riêng.
Không thể quan niệm đơn giản cứ có lễ hội thì chỉ cần tổ chức đưa khách đến là xong mà phải thật sự có những sản phẩm đặc trưng tại lễ hội;
truyền tải giá trị nhân văn sâu sắc; nghiêm ngặt về thời gian, địa điểm, nghi thức, đạo cụ, trang phục, nội dung lễ hội để tạo được dấu ấn trong lòng du khách. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng chèo kéo, ép giá, xin tiền… ở các địa điểm diễn ra lễ hội; cảnh quan môi trường sinh thái và bảo đảm an toàn cho du khách chưa được chú trọng triệt để.
Các hoạt động văn nghệ dân gian trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi nổi với nhiều cuộc thi, liên hoan diễn ra thường xuyên đã giới thiệu hình ảnh văn hóa dân gian đến đông đảo du khách. Nhiều câu lạc bộ dành cho những người yêu bài chòi, hát bả trạo được thành lập, xây dựng chương trình nghệ thuật phục vụ khách du lịch tại Tháp Nhạn thành phố Tuy Hòa vào tối thứ 7 hàng tuần. Tỉnh ủy đã hỗ trợ xây dựng các điểm du lịch văn hóa gắn với các hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân gian phục vụ khách du lịch ở buôn Lê Diêm (huyện Sông Hinh), buôn Hòa Ngãi (huyện Sơn Hòa), thôn Xí Thoại (huyện Đồng Xuân) và đền Lương Văn Chánh (huyện Phú Hòa) đã bước đầu thu được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, sân khấu, trang phục chưa được chú trọng đầu tư và đổi mới, nội dung tác phẩm ít đặc sắc, khâu sáng
tác còn non yếu chưa tạo được những tác phẩm hay, nổi tiếng. Trước làn sóng ồ ạt của những dòng nhạc hiện đại cả trong và ngoài nước, những tác phẩm văn nghệ dân gian dần mất đi chỗ đứng trong lòng khán giả, giới trẻ ít mặn mà với những thể loại như hát bội, bài chòi, hò khoan…Công tác sưu tầm, nghiên cứu những tác phẩm dân gian còn gặp khó khăn, nhiều làn điệu, lời hát đã bị thất truyền. Các công ty du lịch chưa chú trọng khai thác thế mạnh này, đưa vào tour, tuyến trọng điểm.
Dù được đánh giá là điểm đến thân thiện, hấp dẫn và nhiều tiềm năng, nhưng nói du lịch Phú Yên đã khiến du khách hài lòng thật sự thì chưa hẳn.
Riêng khoản cảnh đẹp thiên nhiên, bãi biển hoang sơ, tự nhiên thì không bàn cãi. Điều mà du khách phàn nàn nhất vẫn là dịch vụ. Dịch vụ du lịch ở đây còn quá nghèo nàn, đơn điệu chưa đáp ứng nhu cầu tham quan, mua sắm của khách. Nhiều khách hàng phản hồi là họ không có chỗ “tiêu tiền” khi đến Phú Yên.
Du lịch Phú Yên đang từng bước định hình và phát triển, thu hút các đơn vị lữ hành và du khách chọn nơi đây là điểm đến, nhưng chính những tồn tại này khiến du khách chưa thật sự hài lòng. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý “muốn quay trở lại” của du khách.
Song song với hoạt động khai thác là hoạt động phát huy và bảo tồn.
Đây là hai mặt của một thể thống nhất, có tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển của mỗi xã hội mà văn hóa được xem là nền tảng. Việc phát huy các giá trị văn hoá dân gian sẽ có tác dụng làm tăng ý thức, trước hết là của mỗi thành viên trong cộng đồng dân tộc và của bè bạn quốc tế đối với trách nhiệm bảo tồn. Ngược lại việc bảo tồn sẽ là cơ sở và tạo ra cơ hội có được các giá trị văn hóa dân gian để tự hào, để giới thiệu với các dân tộc khác, các quốc gia khác trên thế giới.
Trong những năm qua tỉnh đã thực thi công tác phát huy, bảo tồn tương đối tốt. Các lễ hội truyền thống được phục dựng, đồng thời trùng tu, sửa chữa