1.4. Tổng quan về Phú Yên
1.4.3. Con người – chủ thể vùng đất Phú Yên
Dân số Phú Yên là 877.200 người (điều tra dân số 1/4/2012) trong đó thành thị 20%, nông thôn 80%, lực lượng lao động chiếm 71,5% dân số. Qua những biến thiên của lịch sử cùng với sự chuyển đổi địa bàn cư trú, hiện nay trên địa bàn tỉnh có 30 thành phần tộc người đang sinh sống.
Chăm, Êđê, Bana, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên. Các tộc người khác do chuyển cư, di cư hoặc quan hệ hôn nhân đến Phú Yên cư trú. Trong đó, các tộc người sinh sống ở các tỉnh
miền núi phía Bắc chiếm một số lượng đáng kể. Sau đây là những tộc người chính:
Người Việt
Tại Phú Yên, người Việt có khoảng 763.686 người, chiếm trên 93%
dân số, cư trú tập trung ở vùng châu thổ đồng bằng Tuy Hòa, Tuy An, Đồng Xuân, Sông Cầu và hiện nay một bộ phận người Việt bắt đầu lập nghiệp tại các vùng người Chăm, Bana, Êđê.
Cũng như làng Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, làng Việt ở Phú Yên được hình thành từ nhiều xóm họp lại, mỗi xóm thường có một hoặc hai họ tộc cư trú. Tên xóm có thể đặt theo tên họ (xóm Phan, xóm Trịnh…), theo hướng (đông, tây, nam), theo các đặc điểm tự nhiên (xóm Gò, xóm Bầu…), theo nghề nghiệp (như xóm Ngói, xóm Chiếu…).
Là một cư dân có truyền thống làm nông nghiệp, vào vùng đất mới họ biết dựa vào những mảnh ruộng bậc thang và hệ thống thủy lợi của người Chăm để sản xuất, biết khai thác các loại đất khác nhau để trồng lúa và hoa màu. Nghề trồng bông dệt vải, trồng mía làm đường, chăn nuôi, nghề đi biển… rất phát triển. Các nghề thủ công như đan lát, chế biến lương thực thực phẩm, làm chiếu, làm gạch ngói, làm đồ gia dụng… được hình thành ở nhiều địa phương.
Gia đình người Việt là những gia đình nhỏ phụ quyền gồm từ hai đến ba thế hệ. Song người phụ nữ, đặc biệt là con gái út có vai trò không thua kém nam giới, họ được thừa kế tài sản, nuôi nấng cha mẹ lúc già yếu, quản lý gia đình lúc cha mẹ ở tuổi già.
Người Việt đến Phú Yên không chỉ sống bằng vốn văn hóa truyền thống của mình mà biết chọn lọc, tiếp thu những truyền thống văn hóa tốt đẹp của các tộc người đã từng sống trước đó. Trên bình diện văn hóa, người Việt cũng tạo được những bản sắc riêng khá độc đáo. Đó là trò chơi bài chòi, lô tô,
hò khoan, cùng với những câu ca dao, truyện cổ tích mang sắc thái riêng biệt, phản ánh phong tục, tập quán, tâm lý và lẽ sống của cộng đồng.
Người Êđê
Người Êđê còn có tên gọi khác là Rhađê, Đê, Kpạ, Adham, Krung, Ktul, Blô, Êpan, M’dhur, Bih, Hwing, Dlie, Arul… Là cư dân thuộc ngữ hệ Malayo – Polinexia, sinh sống chủ yếu ở tỉnh Đắk Lắk, có một bộ phận sống ở Gia Lai và huyện Ninh Hòa (tỉnh Khánh Hòa). Tại Phú Yên người Êđê có số dân là 16.416 người, địa bàn cư trú được phân bố gồm các xã Cà Lúi, Suối Trai, Ea Chà Rang, Krông Pa, (huyện Sơn Hòa), Eatrôl, Eabar, Eabá, Ealâm, thị trấn Hai Riêng và xã Eabia (huyện Sông Hinh). Tại các xã này, mật độ cư trú người Êđê khá cao, chiếm tỉ lệ từ 95% - 97% dân số toàn xã. Họ thường cư trú trên những núi đồi thấp, có nhiều trảng cỏ tranh, hoặc nơi đất đai bằng phẳng, nên trong quá trình cư trú của mình, người Êđê hầu như không du canh, mà chỉ áp dụng phương thức luân canh trong quá trình sản xuất.
Người Êđê là cư dân làm nông nghiệp lâu đời. Trong sản xuất, nương rẫy chiếm vị trí trọng yếu, ruộng nước chỉ được khai thác ở những nơi ven sông, ven suối, vũng, đầm nên số lượng không lớn. Trên nương rẫy ngoài trồng lúa còn trồng ngô, khoai, bầu bí, và các loại cây ăn quả.
Ngoài kinh tế sản xuất, kinh tế hái lượm – săn bắt cũng cung cấp cho cộng đồng một khối lượng thực phẩm không nhỏ. Thu hái rau rừng, mật ong, săn bắt thú, đánh bắt cá ở sông hồ là những hoạt động kinh tế còn khá phổ biến, nhưng chỉ diễn ra theo mùa và mang tính cộng đồng.
Các nghề thủ công cổ truyền như dệt vải, đan lát, chế tác đồ trang sức, làm các dụng cụ sinh hoạt cũng là những hoạt động kinh tế thường xuyên.
Đơn vị hành chính thấp nhất là buôn. Buôn của người Êđê được xây dựng theo quan hệ huyết thống, là những gia đình mẫu hệ được thiết lập theo kiểu nhà dài, mỗi nhà có nhiều thế hệ cùng chung sống.
Là một tộc người có số lượng đông, sống lâu đời trên một cao nguyên bao la hùng vĩ, văn học và nghệ thuật của họ phản ánh khá độc đáo và mang tính chất riêng biệt. Dễ nhận thấy nhất là tiếng chuông Êđê ngân dài, thanh thoát, trầm hùng, vang xa bao la như quyện chặt với đất trời cây cỏ; là những trường ca Đăm San, Xinh Nhã, Xinh Chơ Niếp, Đăm Di, Khinh Dú… chứa đựng nhiều giá trị về văn học, phong tục tập quán, lịch sử và quan hệ tộc người… và cũng với chất thơ, chất nhạc, trữ tình ẩn chứa trong nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật, họ xứng đáng được gọi là con người của thơ ca.
Người Chăm
Tộc người Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung và đã từng kiến tạo một nền văn hóa Chămpa rực rỡ.
Tại Bình Định và Phú Yên, người Chăm có tên gọi là Chăm – Hroi, Hroi, Aroi, chịu ảnh hưởng văn hóa của người Êđê và người Bana. Sự giao thoa văn hóa này, đậm hay nhạt tùy theo người Chăm sống cộng cư hoặc xen cư với tộc người nào. Từ Vân Canh (Bình Định) đến Xuân Lãnh, Phú Mỡ, Xuân Quang I và II (Phú Yên), người Chăm sống cận cư với người Bana nên hai tộc người có sự đan xen văn hóa khá chặt chẽ. Vì thế mà tên gọi tộc người này nhiều tài liệu viết là Bana – Chăm hoặc Chăm – Bana.
Người Chăm nói ngôn ngữ Malayo – Polinexia, tại Phú Yên có số dân 16.294 người. Địa bàn cư trú trải dài từ giáp địa giới Bình Định ở phía bắc đến phía nam giáp tỉnh Khánh Hòa. Trên địa bàn đó, người Chăm có đặc điểm cư trú khá đặc biệt, họ thường cư trú trên những nơi núi cao hoặc thung lũng có núi non bao bọc.
Do tụ cư ở các vùng núi dốc, sản xuất nông nghiệp của người Chăm chủ yếu là làm nương rẫy kết hợp với hái lượm và săn bắt nên đời sống kinh tế thường gặp khó khăn lúc giáp hạt.
Người Chăm sống theo từng buôn làng (Plây), mỗi làng có từ hai đến ba dòng họ, cư trú theo địa vực. Nếu một làng có hai hoặc ba tộc người sinh sống thì cũng xây nhà và cư trú theo cụm, theo tộc người.
Ngoài tổ chức làng, người Chăm còn có tổ chức hội (Chơnum) như hội Chức, hội Bảy… các hội này có uy tín rất cao, thường giúp các buôn làng tìm kiếm đồ đạc, trâu bò bị mất cắp.
Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ có quyền tham gia các sinh hoạt cộng đồng, nắm tài sản gia đình và có quyền thừa kế tài sản do cha mẹ để lại.
Trải qua những chặng đường dài của lịch sử, dù sống xen cư hay cận cư với người Bana hoặc Êđê, người Chăm cũng sáng tạo cho riêng mình một nền văn hóa nghệ thuật độc đáo. Về nhạc cụ có các loại cồng ba (3 chiếc), trống đôi, trống một (trống cái), chinh năm, đinh ta léa, sáo trúc, kơni, đinh goong.
Về múa có múa xoan, múa tôm tăk, múa tăm hra. Về hát có hát A Y Kpô (ru trâu), hát Ayar (hát đối đáp của những người đàn ông với nhau trong đám tiệc), hát Hơ Ươi (hát đối đáp nam nữ), hát Hơ Mon (hát than thở cuộc đời mình). Đặc biệt là nhiều trường ca (khan) mới sưu tầm được ở vùng người Chăm đang sinh sống, đã làm cho diện mạo văn hóa của tộc người Chăm trở nên đa dạng và phong phú.
Người Bana
Người Bana là cư dân nói tiếng Môn – Khmer đông nhất ở Việt Nam, họ cư trú ở tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Phú Yên. Người Bana có nhiều nhóm địa phương: Rơ Ngao, Giơ Lơng, Krem… tại Phú Yên, người Bana thuộc nhóm Tô Lô (còn gọi là nhóm Alacông) có dân số 3.464 người.
Địa bàn cư trú trải dài từ Xuân Lãnh đến Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân), Đá Bàn, Sơn Phước (huyện Sơn Hòa); thôn 3, Suối Dứa, Suối Biểu (huyện Sông Hinh).
Nền kinh tế của người Bana vẫn mang tính “tự cấp tự túc”, nương rẫy là loại hình kinh tế chủ yếu, việc canh tác trên đất thổ, ruộng nước số lượng không nhiều. Trong sản xuất người Bana theo một nông lịch khá chặt chẽ, lao động trong 10 tháng, tiếp theo là 2 tháng “Ninh Nong” (ăn chơi). Thực chất đây là thời gian tổ chức các lễ hội, cưới xin, cúng bái, tu sửa nhà cửa…
Người Bana cư trú theo làng (plây), mỗi làng thường có một dòng họ đông người. Người của dòng họ này thường được bầu làm chủ làng và nắm các quyền hành khác. Mỗi làng có một cương vực lãnh thổ riêng, trong đó có khu đất sản xuất, khu chăn thả trâu bò, khu săn bắn, và nguồn nước… Đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân, người làng khác vi phạm nếu bắt được phạt nặng.
Trải qua nhiều thế hệ chinh phục thiên nhiên, người Bana đã sáng tạo, xây dựng cho mình một nền tảng văn nghệ dân gian vô cùng phong phú. Đáng kể là kho tàng truyện cổ tích và các làn điệu dân ca như Ayêi, Ayô, Mon, Snah, Poyô, Yoh, các điệu hát Amon, Toroi, Blơng, Hơri, Pơma tơ drong, Achao, Tơwơng…