TÌNH HÌNH VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
1. Khái quát thực trạng thương mại Việt Nam thời mở cửa
1.6. Thị trường và thương mại
Thị trường và thương mại chuyển từ hoạt động theo kỹ thuật chỉ huy sang hoạt động theo kỹ thuật hệ thống thị trường, mọi hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ từ chỗ theo chi tiêu, theo giá cả kế hoạch (kế hoạch hóa trực tiếp) chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường, giá cả được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu (kế hoạch hóa gián tiếp - các chỉ tiêu kế hoạch định hướng). Đây là thành tựu quan trọng của gần 30 năm đổi mới và là bước đột phá tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh và thương mại phát triển, tạo động lực cho doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư vươn lên làm giàu.
Bên cạnh những kết quả quan trọng, thị trường và thương mại nước ta còn những hạn chế và làm phát sinh những vấn đề cần có chủ trương, biện pháp giải quyết đúng đắn và kịp thời nhằm thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
- Tuy tổng mức lưu chuyển nội thương và ngoại thương đều tăng nhưng thị trường hàng hóa, nhất là thị trường xuất khẩu chưa thực sự vững chắc, nhiều hàng
hoá của Việt Nam giá trị gia tăng và khả năng cạnh tranh thấp cả ở thị trường trong nước và ngoài nước. Đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho sự phát triển thị trường và thương mại chưa vững chắc và hiệu quả kinh doanh thấp. Vì sao hàng hóa của chúng ta từ nhiều năm nay chất lượng và khả năng cạnh tranh luôn ở mức thấp? Đây là cả một vấn đề rất lớn liên quan đến nhiều vấn đề trong chuỗi cung ứng sản phẩm ở nước ta, cả chuỗi cung ứng giản đơn và chuỗi cung ứng phức tạp!. Chi phí và giá thành còn ở mức cao, sức cạnh tranh thấp là do các ngành, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh chưa thực sự quan tâm đến chất lượng, hiệu quả ngay trong từng khâu của chuỗi cung ứng, hơn nữa sản xuất hàng hóa ở nước ta thiếu tính liên kết và hợp tác, “mạnh ai nấy làm”, quan hệ kinh tế giữa sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và thương mại chưa được thiết lập hợp lý, cùng với cơ sở hạ tầng logistics, hệ thống phân phối yếu kém… làm cho các chi phí tăng qua nhiều tầng lớp đẩy giá bán lẻ so với giá bán giao tại doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh còn quá chênh lệch hiếm có ở nước nào như ở Việt Nam, mặt khác các doanh nghiệp chưa chú trọng đổi mới công nghệ sản xuất, tư tưởng chủ yếu vẫn dựa vào kinh tế tài nguyên để phát triển.
- Quy mô hoạt động thương mại dịch vụ ở nước ta tuy có tăng so với trước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của đất nước, còn nhỏ bé so với các nước trong khu vực, hệ thống kinh doanh thương mại, dịch vụ thiếu tính kết nối, văn minh thương mại và cơ sở hạ tầng còn ở trình độ thấp. Hệ thống các doanh nghiệp thương mại tuy có số lượng khá lớn và ngày một gia tăng nhưng đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thêm vào đó lại thiếu tính liên kết và hợp tác trong hoạt động kinh doanh ở cả thị trường trong nước và thị trường ngoài nước.
Nếu so với một số nước trong khu vực thì mức xuất khẩu của Việt Nam còn ở mức thấp thua xa các nước. Năm 2012 khi Việt Nam đạt được mức xuất khẩu bình quân 1398,5 USD/người (năm 2016: 1969,0 USD/người) thì các nước như Thái Lan: 4.108,7 USD, Malaixia: 9.090,1 USD, Brunây đã là 33.462,8 USD và Singapo là 104.445,9 USD/người. Cơ cấu hàng xuất khẩu tuy có chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng tỷ trọng hàng chế biến vẫn còn thấp. Trong những năm gần đây, tỷ trọng hàng chế biến Việt Nam mới đạt gần 60%, trong khi tỷ trọng này ở Malaixia: 85%, Philippin: 78%, Singapo: 80%, Thái Lan: 71% đạt được cách đây mấy năm. Hơn nữa hàng chế biến chủ yếu vẫn là gia công như dệt may, giầy dép, hàng điện tử và linh kiện máy tính. Điều đó làm cho khối lượng hàng xuất khẩu tuy có tăng nhiều nhưng giá trị gia tăng thấp là điều thường thấy.
- Vấn đề nổi lên trong hoạt động kinh doanh thương mại của những năm đổi mới là kinh doanh của nhiều doanh nghiệp chưa theo đúng quy tắc của thị trường, buôn bán “chụp giựt” chạy theo phi vụ còn khá phổ biến. Các doanh nghiệp chưa tuân thủ đầy đủ nguyên tắc kinh doanh theo cơ chế thị trường, chưa nhận thức thấu đáo về chức năng của cạnh tranh trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh trên thị trường, nhiều doanh nghiệp chưa thực sự hướng vào mở rộng thị trường, tăng doanh thu bán hàng và giảm chi phí sản xuất kinh doanh bằng các giải pháp khoa học. Điều này làm cho “năng suất lao động thấp, giá thành nhiều sản phẩm còn cao so với khu vực và thế giới. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng” tác động xấu đến tình hình kinh tế - xã hội như Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ. Do vậy, cần phải có các biện pháp đồng bộ để đưa hoạt động của các doanh nghiệp ở nước ta theo đúng quy tắc của thị trường, thực sự kinh doanh đi vào kỷ cương, nề nếp của pháp luật. Có như thế mới bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền thương mại Việt Nam trong những thập niên tới.
- Cơ chế, chính sách về quản lý thương mại tuy đã được đổi mới, hoàn thiện nhưng trên nhiều mặt chưa theo sát với thực tiễn hoạt động thương mại, dịch vụ và quá trình hội nhập. Một số quy định trong cơ chế, chính sách còn chưa thật hợp lý, tạo kẽ hở để buôn lậu, gian lận thương mại phát triển. Công tác quản lý nhà nước về thương mại trên các mặt ban hành các văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách, hướng dẫn và quản lý hoạt động thương mại, dịch vụ, có thể nói vẫn còn hạn chế. Đặc biệt là sự chậm trễ và thiếu các văn bản quản lý quan trọng (chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển …) trong lĩnh vực dịch vụ logistics ở nước ta khi mà theo cam kết Việt Nam đã chính thức mở cửa thị trường cho loại dịch vụ này.
- Cơ sở hạ tầng thương mại và cơ sở hạ tầng logistics nói chung tuy đã được tăng cường trong những năm đổi mới, nhưng do phần lớn là theo quy hoạch, kế hoạch đầu tư, xây dựng của từng ngành dịch vụ, thiếu tính kết nối để vận hành, khai thác hiệu quả. Điều này là do cơ sở hạ tầng logistics chưa được quan tâm đầu tư xây dựng từ doanh nghiệp, ngành địa phương đến nền kinh tế quốc dân. Có khác nào xây dựng các khu nhà “biệt thự” mà không có lấy các công trình phụ!
Có thể nói, cơ sở hạ tầng logistics Việt Nam chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ, nhất là trong điều kiện hội nhập và phát triển.
Điều này làm ảnh hưởng không những tới phân phối, lưu thông sản phẩm, hiệu
quả kinh doanh mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường.
- Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về thương mại dịch vụ và quản trị kinh doanh ở các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực Logistics. Thực tiễn công tác đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức công tác nghiên cứu khoa học thương mại cả trên phương diện lý luận và tổng kết thực tiễn còn hạn chế, chưa có sự điều tra, đánh giá toàn diện đội ngũ lao động chuyên nghiệp trong thương mại và Logistics.