Nguyên nhân của những “vấn đề” về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 68 - 72)

Mặc dù đề án tái cấu trúc mô hình tăng trưởng đã được xây dựng và triển khai thực hiện, nhưng nhìn chung mô hình tăng trưởng năm 2015 vẫn chủ yếu dựa vào sự gia tăng vượt trội của các ngành sản xuất cũng như xuất khẩu sản phẩm dựa trên cơ sở khai thác nguồn tài nguyên sẵn có của đất nước, các sản phẩm thô, các sản phẩm mang tính chất gia công dựa vào nguồn lao động vốn có giá trị rất rẻ, năng suất lao động xã hội còn rất thấp, trình độ khoa học, công nghệ yếu kém, chi phí sản xuất trung gian còn cao và có chiều hướng gia tăng trong nhiều năm trở lại đây. Chính sách tăng trưởng vẫn hướng theo chiều rộng thay vì theo chiều sâu, tập trung vào số lượng thay vì vào chất lượng, điều đó là nguyên nhân dẫn đến tính chất kém hiệu quả và cấu trúc tăng trưởng không bảo đảm yêu cầu chất lượng.

Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang diễn ra khá chậm chạp. Trong năm 2015, Chính phủ đã lên kế hoạch cổ phần hóa 289 DNNN nhưng đến nay mới chỉ có 94 DN được cổ phần hóa. Bên cạnh đó, dường như Việt Nam đang tập trung vào số lượng hơn là chất lượng cổ phần hóa. Hậu quả là

hiệu quả hoạt động của DNNN thấp. Trong khi tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã chậm lại trong năm 2015 thì hoạt động củng cố ngành ngân hàng (sáp nhập và mua bán ngân hàng thương mại) đã tăng tốc trong nửa đầu năm 2015, nhưng nợ xấu vẫn là vấn đề lớn. Thiếu nguồn tài chính, năng lực chuyên môn thấp, không có khung pháp lý phù hợp vẫn là những yếu tố cản trở Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện giải quyết nợ xấu.

- Khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh và nằm trong tình trạng bị chèn ép của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI

Trong năm 2015, có 21.506 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh trong là 9467 doanh nghiệp, số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động trong năm là 71391 doanh nghiệp (tăng gấp 3,5 lần so với số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động , tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước), bao gồm 15649 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 55742 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký. Nhiều ý kiến lo ngại việc kiểm soát chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa thắt chặt và chính sách của các ngân hàng vẫn khá thận trọng trong việc cấp phép tín dụng để giảm nguy cơ nợ xấu tăng lên đã làm cho doanh nghiệp có năng lực tài chính yếu kém sẽ vẫn khó tiếp cận vốn đã tác động trực tiếp đến doanh nghiệp. Số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể lớn trong năm qua là đáng báo động và sẽ tác động tiêu cực trong trung hạn, dài hạn.

Trong khi các doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân còn yếu kém về quản trị công ty, trình độ công nghệ và hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận thị trường thì sự liên kết giữa các doang nghiệp này với khu vực DNNN và khu vực FDI lại vô cùng hạn chế. Năm 2015, tỉ lệ doanh nghiệp tư nhân có quan hệ làm ăn với các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nhà nước rất thấp, tương ứng chỉ có 6,9% và 15%. Mặt khác, trong khi các chính sách kinh tế còn có phần chưa khuyến khích nhiều các doanh nghiệp tư nhân thì hoạt động của khu vực kinh tế nhà nước vẫn đang diễn ra trên một sân chơi với những đặc quyền đặc lợi dành riêng cho các doanh nghiệp này như những ưu đãi nhiều về các nguồn lực (về tài nguyên và đất đai và các lợi thế khác, nhất là lợi thế độc quyền tự nhiên). Trong năm 2015, nhiều doanh nghiệp FDI lớn tiếp tục xu hướng dịch chuyển vào Việt Nam để tận dụng các ưu đãi chính sách, nhân công và

nguyên nhiên liệu giá rẻ, cũng như đón đầu cơ hội tham gia Hiệp định Đối tác xuyên TBD (TPP) và hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do khác giữa Việt Nam và các nước. Tất cả đã làm cho các doanh nghiệp tư nhân càng khó khăn trong hoạt động kinh doanh và chưa thể lớn mạnh để đảm nhận vai trò là động lực tăng trưởng của năm 2015.

- Ngành nông nghiệp bị suy giảm gây “hậu quả kép” về cấu trúc tăng trưởng theo ngành

- Ngành nông nghiếp năm 2015 vẫn phát triển chủ yếu là nhỏ lẻ, các ngành sản phẩm hàng hóa có giá trị kinh tế cao, tập trung trên quy mô lớn chưa phát triển mạnh. Chưa hình thành các vùng sản xuất tập trung kết hợp với chế biến sâu để trở thành vùng kinh tế động lực. Đặc biệt, trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản quá trình chuyển từ phương thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển công nghiệp, tập trung rất chậm, vì thế sức bật của các ngành này còn yếu. Sự giảm sút tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp năm 2015 (tăng trưởng chậm nhất trong 5 năm 2011-2015 được xem như là nguyên nhân “kép” cho sự suy giảm tăng trưởng toàn nền kinh tế và ảnh hưởng đến cấu trúc tăng trưởng theo ngành: (i) sự sụt giảm của ngành nông nghiệp đã làm cho chính nông nghiệp có tỷ trọng chiếm trong GDP giảm đi, mặt khác (ii) đã làm lan tỏa tiêu cực đến các ngành công nghiêp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp và thương mại dịch vụ cung cấp đầu vào và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Với vai trò của mình trong giai đoạn hiện nay, ngành nông - lâm - thủy sản vẫn cần phải được quan tâm phát triển với tư cách là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam với 2 ý nghĩa, vừa thúc đẩy bản thân ngành phát triển, vừa tạo điều kiện để thúc đẩy ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ phát triển với vị trí là động lực tăng trưởng mạnh hơn.

- Hạn chế trong việc bảo đảm nguồn lực cho chất lượng tăng trưởng Thứ nhất, chất lượng và hiệu quả các dòng vốn còn thấp

Đối với dòng vốn đầu tư trong nước: Tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2015 vẫn còn chiếm tới 40%, vẫn còn khá cao. Trong một số trường hợp vẫn có sự lấn át của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân. Đầu tư của nhà nước vẫn tham gia nhiều vào cả những lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể thực hiện tốt. Trong nguồn vốn nhà nước, đầu tư từ ngân sách vẫn chiếm xấp xỉ 50% là quá cao so với yêu cầu của nó

Đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài: do chưa định vị được vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu nên nguồn vốn FDI chưa phát huy thỏa đáng

được các mối liên kết theo chiều dọc cũng như theo chiều ngang với các doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam. Khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu thấp. Nguồn vốn FDI vẫn tập trung vào lắp ráp (trung nguồn - mid-stream) có giá trị gia tăng thấp. Đối tác đầu tư vào Việt Nam chủ yếu từ châu Á, nhà đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng cao. Hiện mới chỉ thu hút được khoảng trên 100 trong tổng số 500 tập đoàn đa quốc gia hàng đầu thế giới. Tỷ lệ vốn thực hiện trên vốn đăng ký thấp (chỉ khoảng 47,2%). Mục tiêu thu hút công nghệ cao và công nghệ nguồn, chuyển giao công nghệ chưa đạt được. Cho đến nay, đa số công nghệ sử dụng trong các dự án FDI tại Việt Nam vẫn chỉ ở mức trung bình so với thế giới (80%), rất ít doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao (5-6%), một số sử dụng công nghệ ở mức thấp và lạc hậu (14%). Mặt khác, Việt Nam vẫn còn chưa chủ động khai thác vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.

Thứ hai, sự yếu kém và lạc hậu của yếu tố công nghệ - Chuyển giao công nghệ từ bên ngoài vào thiếu hiệu quả

Trong chiến lược phát triển công nghệ, chúng ta đặt kỳ vọng nhiều vào việc chuyển giao công nghệ nước ngoài, trong đó rất chú trọng giải pháp thực hút FDI. Tuy nhiên, trong nhiều năm qua thực hiện thu hút FDI, chúng ta có thành công đáng kể, quy mô số lượng FDI tăng nhanh. Tuy nhiên, có một mục tiêu là FDI nhằm chuyển giao công nghệ thì gần như không thực hiện được, đa số các dự án FDI đều chỉ nhằm mục tiêu sử dụng lao động rẻ và khai thác bòn rút tài nguyên. Nhiều dự án FDI sử dụng công nghệ ở trình độ rất thấp, tiêu phí điện năng rất cao, gây ô nhiễm môi trường rất nặng nề.

- Hiệu quả của nghiên cứu và triển khai trong nước (R&D) còn thấp

Đây cũng là mặt yếu kém của năm 2015. Có thể nói chúng có đầu tư cho R&D, cũng có khá nhiều đề tài nghiên cứu hoàn thành trong năm, tuy nhiên hiệu quả của R&D quá thấp. Mặt khác, trong thời gian qua, chúng ta chưa chú trọng đầu tư cho lĩnh vực khoa học và công nghệ, Mức đầu tư cho khoa học - công nghệ (KH-CN) chưa cao. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn nhà nước duy trì mức đầu tư hàng năm cho hoạt động khoa học và công nghệ đạt 2% tổng chi ngân sách nhà nước tương 0,5 - 0,6% GDP. Đến nay ngân sách nhà nước vẫn là nguồn đầu tư chính chiếm tới 65 - 70% tổng đầu tư của toàn xã hội cho hoạt động khoa học và công nghệ (ở Trung Quốc tỷ lệ đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm 1/3). Trong khi đó, chưa có chính sách khuyến khích hoặc bảo lãnh đối với việc tự bỏ vốn của các đơn vị sản xuất, hoặc vốn tự có từ các cơ sở nghiên cứu

khoa học, trường đại học, các khu công nghệ cao nhằm nâng cao năng lực vốn đầu tư cho KH-CN.

Thứ ba, lực lượng lao động thiếu kỹ năng, tay nghề cao.

Đây là một thách thức rất lớn cho Việt Nam trong thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều sâu. Đặc biệt trong bối cảnh dân số Việt Nam bước vào thời kỳ

“cơ cấu dân số vàng” thì việc nâng cao kỹ năng, tay nghề cho người lao động (để từ đó nâng cao năng suất lao động) sẽ là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu. Sự khác biệt lớn về kỹ năng, tay nghề giữa các khu vực (nông thôn, thành thị) và giữa các nhóm dân tộc (người Kinh và người dân tộc thiểu số) đang tạo ra những khoảng cách lớn về tăng trưởng và phát triển giữa các khu vực và vùng.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 68 - 72)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(764 trang)