ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 2015 VÀ CÁC DỰ BÁO 2016
2. Đánh giá hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2015 theo các mục tiêu
2.3. Về việc thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng
Mặc dù việc thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD đã thực hiện từ 2012, nhưng 2015 là năm phải hoàn thành hầu hết các mục tiêu. Sau đây là phần đánh giá các kết quả đạt được và hạn chế còn tồn tại trong việc thực hiện đề án theo các mục tiêu đã đưa ra trong Quyết định 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
2.3.1. Kết quả đạt được
Có thể kết luận là hầu hết các mục tiêu của đề án cơ cấu lại đã được hoàn thành đúng thời hạn. Việc cơ cấu lại được thực hiện đối với tất cả các tổ chức tín dụng trong hệ thống, theo những định hướng phát triển rõ ràng, phù hợp với năng lực và điều kiện của từng loại hình TCTD. Nhiều nghiên cứu, đánh giá, hội thảo chuyên đề, tổng kết… đã được thực hiện trong năm 2015 về vấn đề này (Ngân hàng Nhà nước, 2015); (Quốc Hội, 2015), (Đại học Kinh tế, 2015), (Trần Thọ Đạt, 2015)… Nhận định chung của các nghiên cứu trên là đề án đã thành công và
đạt được những kết quả hết sức ấn tượng. Sau đây là tổng kết các mục tiêu và kết quả thực hiện đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD Việt Nam 2011-2015.
Bảng 2. Đánh giá mục tiêu, thông lệ quốc tế và kết quả thực hiện tái cơ cấu các TCTD của Việt Nam đến hết 2015
STT Mục tiêu tái cơ cấu Theo
thông lệ Kết quả thực hiện 1 Lành mạnh hóa tình trạng tài
chính và năng lực hoạt động của các TCTD
X Đã thực hiện được phần lớn mục tiêu thông qua: Xử lý các TCTD yếu kém, giảm 19 TCTD theo các phương thức khác nhau (a).
2 Cải thiện mức độ an toàn và hiệu quả
X Đã thực hiện được phần lớn mục tiêu. Mức độ an toàn và hiệu quả của các TCTD đều có xu hướng được cải thiện. Năm 2015: CAR hệ thống đạt 13,14%, ROA 0,52%, ROE 5,79 %.
3 Hình thành 1-2 NHTM có quy mô, trình độ khu vực
Không đặt vấn
đề
Đạt một phần. Về quy mô: 10 NHTM trong top 1000 NHTM của the Banker. 4 NHTM nhà nước có quy mô vốn điều lệ trên 1 tỷ USD, trong đó Vietinbank đạt 1,65 tỷ.
4 Không để xảy ra đổ vỡ, hạn chế tối đa tổn thất và chi phí ngân sách
Không đặt vấn
đề
Đã hoàn thành. Không có đổ vỡ hệ thống. Xử lý tái cơ cấu chưa sử dụng ngân sách (b).
5 Tái cơ cấu: tài chính, hoạt động, quản trị, pháp nhân, sở hữu theo 7 phương thức:
- Phân nhóm TCTD - Hỗ trợ thanh khoản - Sáp nhập, hợp nhất, mua lại
- NHNN mua lại
- Chuyển nhượng cổ phần cho NHNN, sau đó thoái vốn.
- Cho phép tham gia của TCTD nước ngoài
- Tăng vốn chủ sở hữu, nâng cao hiệu quả hoạt động - Thoái vốn, giảm sở hữu chéo
X
X X X Không đặt vấn
đề X Hạn chế
hơn X Rộng hơn
Đã và đang thực hiện tái cơ cấu theo 7 phương thức ở các mức khác nhau, nhưng kết quả chưa toàn diện.
-> Đã thực hiện từ 2012 (c) -> Đã và đang thực hiện (d) -> Đã thực hiện 9 thương vụ -> 3 NHTM được mua lại 0 đồng (e)
-> Một số tập đoàn thoái vốn tại một số công ty tài chính, chưa chuyển nhượng cổ phần cho NHNN
-> Chưa thực hiện, mặc dù TCTD nước ngoài được phép sở hữu room ngân hàng lên 30%.
Đã và đang thực hiện
-> Đã thực hiện giảm sở hữu chéo theo thông tư 36/2014/TT-NHNN.
6 Xử lý nợ xấu, giảm nợ xấu của các NHTM xuống 3%
X Đã cơ bản hoàn thành (f).
Nợ xấu đã được xử lý theo 6 phương thức - Cơ cấu lại nợ
- Miễn giảm lãi và phí tín dụng - Sử dụng quỹ DPRR để xử lý - Xử lý, phát mại TSBĐ để thu hồi nợ
- Chuyển nợ thành vốn góp
- Mua bán nợ qua VAMC và DATC 7 Phạm vi: Tái cơ cấu cả các
TCTD khác
VN rộng hơn
Đã và đang thực hiện đối với một số công ty tài chính, hệ thống QTDND. Đang thực hiện với các TCTCVM. Mới bắt đầu với NHCSXH (g).
8 Phạm vi cải cách thể chế:
Luật tái cơ cấu, vai trò bảo hiểm tiền gửi, thành lập cơ quan tái cơ cấu hệ thống tài chính, AMC
VN hẹp hơn
Đang thực hiện.
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Chính Phủ (2011), Cấn Văn Lực (2015), Ngân hàng Nhà nước (2015), Trần Thọ Đạt (2015)
Chú thích:
- (a): Tính đến 2015, đã có 19 tổ chức giảm thông qua sáp nhập, hợp nhất, mua lại, giải thể, thu hồi giấy phép so với cuối năm 2011. Ngoài ra, 02 chi nhánh NHNN đang trong quá trình đóng cửa, thu hồi giấy phép. Đặc biệt, trong năm 2015, có tới 09 thương vụ mua bán, hợp nhất, sáp nhập được thực hiện (NHNN, 2015; Cấn Văn Lực, 2015; Nguyễn Đắc Hưng, 2015).
- (b), (d): Thanh khoản ổn định, hệ thống tránh khỏi nguy cơ đổ vỡ là một trong những mục tiêu quan trọng nhất đã đạt được của đề án cơ cấu lại. So với giai đoạn trước 2012, hệ thống NHTM Việt Nam đã có những thời điểm rơi vào khủng hoảng thanh khoản trầm trọng, với lãi suất liên ngân hàng có thời điểm
>30%, lãi suất huy động dân cư 18-20%. Với các chính sách quản lý thanh khoản đúng thời điểm và phù hợp, tình trạng này đã chấm dứt từ cuối 2012, và đạt sự bền vững thanh khoản trong các năm 2014-2015. Tỷ lệ tăng trưởng huy động vốn năm 2014 là 15,8% và 2015 là 13,49%, mặc dù lãi suất huy động có xu hướng giảm xuống (Trần Thọ Đạt, 2015; NHNN, 2015).
- (c) Hoạt động phân nhóm TCTD đã được thực hiện ráo rốt từ 2011-2012, với 4 nhóm TCTD, trong đó chỉ nhóm 1 và 2 được thực hiện tăng trưởng tín dụng. Có 9 NHTM cổ phần thuộc nhóm 4 bị đánh giá là yếu kém cần cơ cấu lại, đã được xác định và khoanh vùng là: SCB, Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Habubank, Tienphong Bank, GPBank, NaviBank, Trustbank và Western Bank. Đến 2015, tất cả các TCTD này đều đã được cơ cấu lại (Trần Thọ Đạt, 2015, tr 87).
- (e) Ba ngân hàng bị NHNN mua lại với giá 0 đồng là: VNCB (2014), Oceanbank và GPBank (2015). Có nhiều tranh luận xung quanh vấn đề pháp lý và các lựa chọn khác nhau cho vấn đề này. Tuy vậy, theo ý kiến của nhiều luật sư, đây là giải pháp tốt nhất, với chi phí thấp nhất và hiệu quả cao nhất, đảm bảo tính
pháp lý phù hợp cho 3 ngân hàng này (Lê Thị Nga, 2015; Trương Thanh Đức, 2015; Đặng Dung, 2015).
- (f) Giảm nợ xấu là một trong những thành tựu nổi bật của quá trình tái cơ cấu. Với mục tiêu “không sử dụng tiền NSNN để đảm bảo không đổ gánh nặng nợ xấu lên người đóng thuế”, NHNN đã thực hiện 6 nhóm biện pháp khác nhau như trên nhằm giảm mức nợ xấu từ 465 ngàn tỷ (trên 10% dư nợ) năm 2012 xuống còn 2,72% năm 2015. Số lượng nợ xấu được xử lý trong 10 tháng đầu năm 2015 là 157 ngàn tỷ, tính lũy kế từ 2012 đến 10/2015 đạt 463 ngàn tỷ. Như vậy, 99,6% nợ xấu đã được xử lý (NHNN, 2015; Cấn Văn Lực, 2015; Trần Thọ Đạt, 2015).
- (g) Các TCTD phi NH cũng được tái cơ cấu toàn diện. Các công ty tài chính/cho thuê tài chính yếu kém đều được đánh giá và có phương án tái cơ cấu cụ thể, nhiều công ty có định hướng chiến lược hoạt động theo mô hình công ty tài chính tiêu dùng và hoạt động tương đối hiệu quả (NHNN, 2015). Ngân hàng Hợp tác xã được thành lập trên cơ sở nâng cấp Quỹ Tín dụng nhân dân (QTDND) Trung ương (7/2013) khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển, tăng tính liên kết hệ thống QTDND. Các QTDND đang tiếp tục tái cơ cấu, chấn chỉnh, củng cố hoạt động (NHNN, 2015; Cấn Văn Lực, 2015).
2.3.2. Các hạn chế trong thực hiện đề án
Mặc dù đề án tái cơ cấu các TCTD đã đạt được những thành tựu nổi bật, vẫn còn một số hạn chế như sau chưa được xử lý:
Thứ nhất: mức độ an toàn, hiệu quả của hệ thống theo tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là theo Basel II, chưa hoàn toàn được đảm bảo. CAR của hầu hết các ngân hàng đều đạt >9%, và CAR hệ thống đạt mức 13,14%, nhưng cách tính CAR hiện nay của Việt Nam chưa đạt chuẩn Basel II, đặc biệt là cách tính hệ số rủi ro theo kết quả xếp hạng tín dụng (Lê Thanh Tâm, 2014). ROE của các ngân hàng cũng chưa tính hết chi phí trích lập dự phòng rủi ro, do cách phân loại nợ hiện nay mặc dù đã tiệm cận dần nhưng chưa theo tiêu chuẩn quốc tế. Hầu hết các NHTM Việt Nam mới đang áp dụng Basel I, mặc dù Basel II đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trong khu vực. Trong năm 2014, NHNN đã lựa chọn 10 NHTM để thí điểm thực hiện phương pháp quản lý vốn và rủi ro theo Basel II đến cuối 2015, công tác này vẫn đang trong giai đoạn khởi tạo, và rất ít NHTM áp dụng được cách đánh giá rủi ro tín dụng theo xác suất vỡ nợ (Ngân Hà, 2015).
Thứ hai, mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2015 hình thành được 1 - 2 ngân hàng thương mại nhà nước đạt trình độ khu vực về quy mô, quản trị, công nghệ
và khả năng cạnh tranh” chưa được hoàn thành đầy đủ. Mặc dù số lượng ngân hàng có vốn chủ sở hữu và vốn điều lệ thuộc top 1000 ngân hàng trên thế giới tăng lên 11 ngân hàng năm 2015, nhưng nhìn chung quy mô còn khá nhỏ. Ngân hàng lớn nhất Việt Nam hiện nay là Vietinbank với vốn điều lệ 1,65 tỷ USD, vẫn còn nhỏ so với các ngân hàng Malaysia (Maybank: 4,1 tỷ; PPB: 2,4 tỷ), Thái Lan (Bangkok Bank: 3,2 tỷ; Siam Bank: 2,2 tỷ), Singapore (UOB: 6,3 tỷ; DBS: 9,6 tỷ) (The Bankers, 2015). Chưa ngân hàng nào ở Việt Nam được xếp hạng đạt trình độ cao trong quản trị, công nghệ và khả năng cạnh tranh (Moodys’ xếp hạng Vietinbank và BIDV triển vọng ổn định, MB, Techcombank triển vọng tích cực...) (Trần Thọ Đạt, 2015; NHNN, 2015).
Thứ ba, nợ xấu vẫn ở mức tiềm ẩn, việc xử lý nợ xấu vẫn chưa thực sự triệt để và tận gốc. Nợ xấu Việt Nam ở mức dưới 3% là theo tiêu chuẩn Việt Nam, chưa theo tiêu chuẩn quốc tế do cách phân loại nợ theo thông tư 02/09 mới chỉ tiệm cận một phần tiêu chuẩn quốc tế. Việc xử lý nợ xấu chưa triệt để do những nguyên nhân sau. Thứ nhất, xử lý nợ xấu phụ thuộc vào việc bán các tài sản bảo đảm của khách hàng - chủ yếu liên quan tới thị trường bất động sản và thị trường chứng khoán. Tuy vậy, hai thị trường này thời gian qua hoạt động bấp bênh, phục hồi chậm. Thứ hai, quy trình chuyên môn hóa và công nghệ xử lý nợ xấu của các TCTD còn chưa chuyên nghiệp. Vấn đề định giá nợ xấu, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước, còn chưa rõ ràng. Một số TCTD hiện phải đi thuê công ty bên ngoài xử lý nợ xấu, mà chưa có các quy trình cụ thể. Thứ ba, quy trình xử lý tài sản bảo đảm, phát mại tại Việt Nam còn rất khó khăn, không hỗ trợ TCTD.
Kể cả khi đưa được khách hàng ra tòa, các yêu cầu thủ tục rất rườm rà và khó thực hiện như: phải thông qua đấu giá, mất nhiều thời gian, khách hàng không đồng ý bàn giao tài sản, không có mặt theo thời gian địa điểm thu giữ, khách hàng đã đi khỏi địa phương, bên đảm bảo không hợp tác trong vấn đề thỏa thuận giá khởi điểm hoặc thuê tổ chức định giá. Sau khi thực hiện thu giữ tài sản, một số khách hàng khởi kiện tài sản có tranh chấp, làm kéo dài thời gian thi hành án. Thứ tư, phần lớn các khoản nợ xấu được chuyển giao cho công ty quản lý tài sản và khai thác nợ (VAMC) (luỹ kế đến 31/11/2015 là 227 ngàn tỷ với giá mua 199 ngàn tỷ cho 23 ngàn khoản nợ, trong đó năm 2015 mua 98,64 ngàn tỷ với giá mua 90,73 ngàn tỷ cho hơn 13 ngàn khoản nợ). Tuy đã nỗ lực trong rất lớn, tính đến cuối 2015, VAMC mới chỉ thu hồi được 14,8 ngàn tỷ nợ xấu, trong đó năm 2015 thu hồi được 9,8 ngàn tỷ (Nguyễn Quốc Hùng, 2015). Nhiều khoản nợ xấu do VAMC quản lý vẫn chưa xử lý được do: (i) việc cơ cấu nợ gặp khó khăn, TCTD không đồng ý cho doanh nghiệp miễn giảm lãi trong trường hợp TSBĐ có giá trị
lớn, VAMC không thể chủ động tiến hành cơ cấu nợ, miễn giảm lãi cho khách hàng khi TCTD chưa thống nhất; (ii) vấn đề thu hồi nợ đối với VAMC còn nhiều vướng mắc, do TCTD vẫn phải chịu trách nhiệm như trích DPRR, thu hồi, bán nợ, bán TSBĐ, thậm chí gánh chịu hậu quả nếu xảy ra thất thoát. TCTD vẫn xác định quyền chủ nợ của họ sau 5 năm, dẫn đến sự hợp tác không chặt chẽ với VAMC, thậm chí một số tổ chức không cần VAMC xử lý nợ; (iii) Thị trường mua bán nợ của VAMC chưa rõ ràng, việc định giá khoan nợ chưa có quy định cụ thể. Đối tượng được mua bán nợ hạn chế, sự kết hợp giữa VAMC và DATC chưa rõ ràng. Thứ tư, nợ xấu là hệ lụy của nền kinh tế kém phát triển, do vậy khi khách hàng còn chưa phát triển tốt, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, việc phát sinh nợ xấu mới có thể xảy ra.
Thứ tư, vấn đề cổ phần hóa các NHTM nhà nước và tiến độ thoái vốn đầu tư của DNNN trong lĩnh vực ngân hàng còn chậm. Sau khi mua lại 0 đồng với 3 NHTM CP, số lượng NHTM nhà nước tăng lên 7, trong đó có 4 NHTM 100%
vốn nhà nước. Tuy vậy, công tác cổ phần hóa của các NHTM nhà nước, đặc biệt là NHNo&PTNT chưa được triển khai rõ ràng. Việc cơ cấu lại một số TCTD phi ngân hàng yếu kém thuộc tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa đạt kế hoạch. Lý do chính là các nội dung này phải nằm trong đề án cơ cấu lại tổng thể của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tuy vậy, cho đến nay, các đề án trên vẫn chưa hoàn thành hoặc chưa thực hiện.