PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Thực trạng hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay
1.2. Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu
* Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Nếu như quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đóng vai trò là động lực của tăng trưởng kinh tế thì cơ cấu xuất khẩu hàng hóa cũng tác động rất lớn đến triển vọng tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của mỗi quốc gia. Để tăng trưởng bền vững và hiệu quả dựa vào nền tảng xuất khẩu, mỗi quốc gia đều phải nỗ lực chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng tối ưu và hiện đại. Nhìn chung, trong giai đoạn 2001-2015, quá trình chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã gặt hái được những thành tựu lớn, cụ thể là:
Thứ nhất, trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp cùng với nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản là hai nhóm hàng chiếm tỷ trọng chủ yếu, thêm vào đó còn có xu hướng tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn 2001-2014, tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đã tăng từ 35,7% lên 38,6%; tỷ trọng của nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng từ 34,9% lên 44,3%; ngược lại, tỷ trọng của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản lại giảm từ 29,4% xuống còn 17,1%. Tính đến hết tháng 11/2015, trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, nhóm hàng nông lâm thủy sản xuất khẩu chiếm 12,7%, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 4 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng là rau quả, nhân điều, sắn và các sản phẩm từ sắn, hạt tiêu, các mặt hàng còn lại đều giảm, đặc biệt cà phê giảm mạnh (29,3%); Nhóm hàng công nghiệp chế biến xuất khẩu chiếm 78,7%, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao là: vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, điện thoại các loại và linh kiện; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện... Có thể nói, đây là một sự chuyển dịch khá tích cực và phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Biểu đồ 2. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam phân theo nhóm hàng giai đoạn 2001-2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Thứ hai, số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD ngày càng nhiều và gia tăng với tốc độ nhanh. Nếu năm 2001, Việt Nam chỉ có 4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD thì năm 2014 con số này đã tăng lên đến 22 mặt hàng. Bên cạnh đó, những điểm tích cực có thể nhìn thấy ở danh sách này đó là: trong danh sách có nhóm hàng chế tạo có hàm lượng công nghệ cao và có khả năng thúc đẩy trong thời gian tới như điện tử, máy tính, linh kiện điện tử, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện, dây cáp điện, phương tiện vận tải, điện thoại các loại và linh kiện. Đáng chú ý, mặt hàng điện thoại các loại và kinh kiện đã đạt được kim ngạch rất ấn tượng ở mức 21,5 tỷ USD năm 2013 và 24,1 tỷ USD năm 2014 và dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong hai năm này. Một số mặt hàng đã có kim ngạch xuất khẩu tăng cao hơn so với tốc độ chung như hạt tiêu, sắn và các sản phẩm sắn, sắt thép, xăng dầu, phương tiện vận tải và phụ tùng, cà phê, dầu thô, sản phẩm hóa chất, cao su… Nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam như gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều và chè hiện nay đều đã đạt được những thứ hạng cao trên thị trường thế giới. Mặc dù đến nay chưa có thống kê về danh sách các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD của cả năm 2015, song hầu hết các mặt hàng xuất khẩu quan trọng đều duy trì được mức tăng trưởng cao của những năm trước trong năm nay. Tính đến hết tháng 11/2015, kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện đạt 28,44 tỷ USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm 2014; xuất khẩu dệt may đạt 20,63 tỷ USD, tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2014; xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 14,31 tỷ USD, tăng 38,2%; xuất khẩu giày dép các loại đạt 10,8 tỷ USD, tăng 16,8%; xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 7,41 tỷ USD, tăng 11,2%; xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 6,14 tỷ USD, tăng 9,2%...
Bảng 1. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD giai đoạn 2001-2014
Đơn vị tính: Tỷ USD
TT Mặt hàng 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
1 Dầu thô 3,1 3,3 3,8 5,7 7,4 8,3 8,4 10,4 6,2 4,9 7,2 8,2 7,3 7,2
2 Hàng dệt may 2,0 2,7 3,6 4,4 4,8 5,9 7,7 9,1 9,1 11,2 13,2 14,4 17,9 20,77
3 Giày dép 1,6 1,9 2,3 2,7 3,0 3,6 4,0 4,8 4,1 5,1 6,5 7,3 8,4 10,2
4 Thủy sản 1,8 2,0 2,2 2,4 2,7 3,4 3,8 4,5 4,3 5,0 6,1 6,1 6,7 7,9
5 Gỗ và sản phẩm từ gỗ 1,1 1,6 1,9 2,4 2,8 3,0 3,4 4,0 4,7 5,6 6,1
6 Điện tử, máy tính và linh kiện 1,1 1,4 1,8 2,2 2,6 2,8 3,6 4,7 7,8 10,6 11,66
7 Gạo 1,4 1,3 1,5 2,9 2,7 3,2 3,7 3,7 2,9 2,98
8 Cà phê 1,1 1,9 2,0 1,7 1,8 2,8 3,7 2,7 3,6
9 Cao su 1,3 1,4 1,6 1,2 2,4 3,2 2,9 2,5 1,79
10 Than đá 1,0 1,4 1,3 1,5 1,6 1,2 - -
11 Dây điện và cáp điện 1,0 - 1,3 - - - -
12 Đá quý, sản phẩm kim loại quý 2,7 2,9 2,7 - - -
13 Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng 2,1 3,0 4,2 5,5 6 7,3
14 Xăng dầu 1,0 1,3 2,1 1,8 1,2 -
15 Sản phẩm từ plastic 1,1 1,4 1,6 1,8 2
16 Hạt điều 1,1 1,5 1,5 1,66 2
17 Sắt thép 1,0 1,7 1,6 1,8 1,95
18 Phương tiện vận tải và phụ tùng 1,5 2,4 4,6 5 5,5
19 Ba lô, túi, cặp, ví 1,0 1,3 1,5 1,9 2,5
20 Sản phẩm từ sắt thép 1,1 1,4 1,5 1,72
21 Điện thoại các loại và linh kiện 6,9 12,7 21,5 24,1
22 Xơ, sợi dệt các loại 1,8 1,8 2,2 2,54
23 Sắn và các sản phẩm từ sắn 1,4 1,1 1,1
24 Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện 5,5 1,6 2,2
25 Rau, hoa quả 1,1 1,5
26 Hạt tiêu 1,2
Tổng cộng 8,5 9,9 11,9 17,4 22,3 28,6 34,3 43,1 42,2 56,3 80,1 100,9 112,96 127,81 Tỷ trọng trong kim ngạch XK (%) 56,56 59,26 59,06 65,70 68,73 71,81 70,63 68,76 73,91 77,94 82,66 88,10 85,55 85,18 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện vẫn còn bộc lộ những hạn chế, cụ thể là:
Thứ nhất, hàng hóa xuất khẩu Việt Nam hầu hết có chất lượng trung bình, không có yếu tố nổi trội so với các đối thủ cạnh tranh. Sự liên kết giữa các nhóm ngành xuất khẩu cũng hầu như không có khiến cho các mặt hàng của Việt Nam thường không liên quan đến nhau, từ đó khó tạo được hiệu ứng “tràn ngập và lan tỏa” tại các thị trường lớn như EU và Mỹ. Bên cạnh đó, hầu hết các nhà xuất khẩu của Việt Nam chưa dành sự quan tâm đúng mức đối với việc xây dựng, đăng ký bảo hộ và phát triển thương hiệu, dẫn đến đa số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam không có thương hiệu riêng.
Thứ hai, những mặt hàng thực sự có lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới của Việt Nam còn hạn chế. Giỏ hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện nay còn khá tập trung vào các mặt hàng truyền thống bao gồm khai thác nguyên liệu thô, khai thác lợi thế điều kiện tự nhiên và khai thác lao động giá rẻ; xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nhóm hàng chủ lực, đặc biệt là dệt may, giày dép, nông sản (trong đó có thủy sản) và dầu thô trong khi bốn mặt hàng này đều thâm dụng tài nguyên và nhân công.
Thứ ba, hầu hết các mặt hàng chế biến, chế tạo xuất khẩu của Việt Nam đều phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên phụ liệu, linh kiện và máy móc nhập khẩu do ngành công nghệ phụ trợ của Việt Nam hiện chưa phát triển. Điều này khiến cho các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam không thể chủ động được chiến lược kinh doanh và khó hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu vì chi phí nguyên vật liệu, phụ kiện và máy móc thiết bị phụ thuộc rất lớn vào sự biến động của giá quốc tế. Ước tính trong 2 ngành giày da và may mặc xuất khẩu, gần 70 - 80% nguyên liệu, phụ liệu có được từ nguồn nhập khẩu. Tương tự, ngành chế biến gỗ, kim ngạch xuất khẩu đạt 3 - 3,5 tỷ USD/năm với chỉ số tăng trưởng 25 - 30%/năm, nhưng hơn 2/3 là nguyên liệu nhập khẩu.
Thứ tư, giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam còn thấp.
Nguyên nhân của thực trạng này là do: Xuất khẩu từ các ngành sản xuất sản phẩm thô và sơ chế, bao gồm khai thác tài nguyên khoáng sản và các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến sâu như lúa gạo, cà phê, thủy sản và khoáng sản vẫn chiếm gần 50% trong giai đoạn 2006 -2014. Nhóm sản phẩm chế biến, chế tạo tập trung chủ yếu vào những công đoạn mang lại giá trị gia tăng thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đơn cử như trong chuỗi giá trị toàn cầu hàng dệt may, khoảng gần 90%
doanh nghiệp may mặc của Việt Nam tham gia vào khâu gia công với giá trị gia
tăng thu được thấp nhất. Các lĩnh vực công nghệ thấp sử dụng nhiều lao động chiếm tới hơn 70% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp chế biến, cao hơn nhiều so với một số nước trong khu vực (Thái Lan là trên 50%, Indonesia là trên 40%, Malaisia là gần 40%). Thực tế cho thấy, đằng sau những con số tăng trưởng ngoạn mục, xuất khẩu của Việt Nam chưa thực sự đem lại sự gia tăng tương xứng trong thu nhập cho quốc gia, cho nhà sản xuất và người lao động.
* Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu
Biểu đồ 3. Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Nhìn chung, cơ cấu hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam thời gian qua vẫn tồn tại những hạn chế. Nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng hóa nhập khẩu (chiếm trên 50%), cho thấy rằng xuất khẩu của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, dẫn đến việc các nhà sản xuất, xuất khẩu của Việt Nam không thể chủ động được về chiến lược kinh doanh và giá cả sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó, tuy tỷ trọng nhập khẩu nhóm hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đã dần tăng lên, cụ thể tăng từ 30,5% năm 2001 lên 37,6% năm 2014, song mức tăng chưa cao. Điều này cho thấy rằng công nghệ sản xuất của Việt Nam hiện vẫn chậm được thay đổi và mở rộng. Do đó, trong thời gian tới, việc đổi mới và phát triển công nghệ theo hướng hiện đại cũng như đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam là vô cùng cần thiết để hạn chế sự phụ thuộc của xuất khẩu vào nguồn nguyên liệu nước ngoài, từ đó cải thiện giá trị gia tăng của hàng Việt Nam xuất khẩu, đồng thời hạn chế nhập siêu, cải thiện cán cân thương mại của Việt Nam trong dài hạn.