Các trở ngại cho cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 153 - 161)

CỦA CÁC QUỐC GIA ASEAN

3. Các trở ngại cho cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái giữa Nhân dân

Hiện tại có rất ít bằng chứng liên quan đến việc có sự tồn tại của một cơ chế giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN cho việc hình thành tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia này. Về lý thuyết một cơ chế tỷ giá hối đoái ổn định và cân bằng được hình thành bởi sự hợp tác giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN sẽ trở thành một trong những trụ cột trung tâm để thúc đẩy thương mại và đầu tư tạo ra sự thịnh vượng của vùng. Tuy nhiên vì hầu hết đồng tiền của các quốc gia này đã được neo với đồng Đô la Mỹ trong quá khứ nên có thể phát biểu rằng phần lớn thời gian giới nghiên cứu và làm thực tế đã chỉ dành cho việc nghiên cứu về sự đánh giá không đúng giá trị của các đồng tiền với đồng Đô la Mỹ cũng như cơ chế hợp tác trong vùng để xử lý các vấn đề liên quan đến sự đánh giá không đúng giá trị này. Bên cạnh đó, sau khi khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra, đã có cố gắng giữa các quốc gia Đông và Đông Nam Á để đạt được cơ chế hợp tác vùng theo hai hướng cụ thể gồm hình thành đồng tiền chung và xây dựng cơ chế ổn định tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền trong vùng. Cố gắng thứ hai dường như thành công hơn cái thứ nhất nếu xét theo kết quả thực tế đạt được. Các quốc gia thuộc nhóm ASEAN + 3 (gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc) theo khuôn khổ Sáng kiến Chiang-Mai đã tạo được một quỹ ứng phó với khủng hoảng có giá trị 120 tỷ Đô la Mỹ (Rana et al., 2013). Theo trật tự sự việc, trong vùng khi đó đã phát sinh kỳ vọng rằng các quốc gia liên quan có thể tiến gần hơn đến hội nhập tiền tệ bằng việc cho phép hợp tác sâu hơn về tỷ giá hối đoái trong đó Đơn vị tiền tệ vùng (RMU) cần được hình thành với tư cách là giỏ đồng tiền vùng. Nhưng không có gì xảy ra tiếp theo kỳ vọng này mà một phần là do không nhận được sự ủng hộ về chính trị từ các quốc gia này.

Ý tưởng liên quan đến RMU càng trở nên hấp dẫn hơn theo sau sự bùng phát của khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008. Một trong những lợi ích của nó mà những người ủng hộ đưa ra là nó có thể trở thành một công cụ cấp vùng để giám sát tỷ giá hối đoái của các quốc gia liên quan và tạo điều kiện cho hợp tác vùng về tài chính. Một lợi ích khác là nó có thể được sử dụng để giảm thiểu biến động của cán cân thương mại nội vùng cũng như của vùng với bên ngoài. Trung Quốc và các quốc gia ASEAN do đó cần cân nhắc một cơ chế mà theo đó giúp cùng lúc ổn định tỷ giá hối đoái và thúc đẩy hơn hoạt động thương mại không chỉ nội vùng mà còn đối với phần còn lại của thế giới. Với ý tưởng này trong đầu, chúng ta có thể chỉ ra rằng yếu tố cốt lõi cho việc thực hiện các bước tiếp theo tiến tới RMU là sự đồng thuận giữa các quốc gia liên quan. Vì đồng tiền của Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đã và vẫn được xác định theo chuẩn Đô la Mỹ nên sẽ hợp lý nếu đặt câu hỏi rằng các quốc gia này đã sẵn sàng cho một chuẩn tiền tệ mới song song với Đô la Mỹ hay chưa? Câu trả lời chắc chắn là không thể rõ ràng tại thời điểm này. Cụ thể theo Click (2009) tỷ giá hối đoái của các quốc gia ASEAN, hiện đang chịu ảnh hưởng của của nhiều yếu tố khác nhau cả trong ngắn hạn và dài hạn; và các quốc gia này xét theo tổng thể có thể chưa sẵn sàng cho một chuẩn tiền tệ quốc tế mới.

Tuy nhiên tại thời điểm này chúng ta có thể biện luận một cách an toàn rằng, Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đang có trong tay một số yếu tố hỗ trợ cho việc hình thành một chuẩn tiền tệ quốc tế mới như thế. Thứ nhất, các quốc gia này đang tiếp tục logic của hội nhập, tức là hội nhập thương mại, hội nhập tài chính và hội nhập tiền tệ. Ngay cả khi hội nhập tài chính giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN chưa sâu rộng và có sự khác biệt về mức độ hội nhập giữa nội bộ các quốc gia ASEAN cũng như giữa họ với Trung Quốc thì hội nhập tiền tệ với mức độ hạn chế (tức là RMU) có thể trở thành nhân tố tạo điều kiện cho hội nhập thương mại và tài chính sâu rộng hơn. Thứ hai, chế độ tỷ giá hối đoái hiện hành khác nhau giữa các quốc gia thành viên ASEAN đi kèm với sự phụ thuộc thương mại của các quốc gia này với Trung Quốc đòi hỏi các nước phải nghĩ tới một cơ chế tỷ giá với Trung Quốc để xử lý những biến động của thương mại nội vùng cũng như liên vùng. Thứ ba, có một thực tế là Trung Quốc đã cho phép sự tự do chuyển đổi của đồng Nhân dân tệ trong cán cân vãng lai và rất có thể quốc gia này đang có ý định tiến xa hơn nữa với ưu tiên vùng được đặt lên trên khi nó liên quan đến đầu tư. Khi vấn đề tự do chuyển đổi của đồng Nhân dân tệ trong tài khoản vốn được đặt lên bàn cân, Trung Quốc cần và được đòi hỏi phải có cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn vì lợi ích của xuất khẩu và đầu tư ra bên ngoài mà

quốc gia này có thể đạt được cũng như vì chiến lược của họ trong việc tạo vị thế quốc tế cho đồng Nhân dân tệ ít nhất là trong thanh toán và dự trữ.

Từ góc nhìn bên trong cũng như bên ngoài, đã đến lúc Trung Quốc và các quốc gia ASEAN, bất kể chế độ và cơ chế tỷ giá hối đoại hiện tại của từng quốc gia, cần phải nghiêm túc đánh giá về một cơ chế hình thành các mức giá của tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia này. Chúng có thể là mức tỷ giá hối đoái song phương hoặc đa phương nhưng như đã thảo luận ở trên tuy nhiên sẽ thuận lợi hơn cho các quốc gia này nếu ưu tiên mức tỷ giá đa phương vì nó không khác hơn một sự tái khởi động từ những gì đã được bàn luận từ đầu những năm 2000 về RMU. Hiểu và thực thi theo cách tiếp cận này có một số lợi điểm. Thứ nhất, kinh nghiệm và bài học từ trường hợp của các quốc gia châu Âu có được phân tích và học để áp dụng vào vấn đề của vùng. Thứ hai, đã có một số lượng đủ lớn các nghiên cứu về vấn đề này như của Watanabe và Ogura (2006), Pontines (2015), Click (2009)… trong đó các vấn đề kĩ thuật liên quan đến hội nhập tiền tệ ở Đông và Đông Nam Á được đưa ra tính toán và đánh giá cụ thể trên nhiều khía cạnh khác nhau. Kết quả của chúng có thể được sử dụng như thông tin đầu vào cho các phân tích đi sau để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi có nên có một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái trong vùng hay không.

Bên cạnh những sự quan tâm chung tạo ra các động lực cho cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN, chúng ta không thể bỏ qua các trở ngại mà các quốc gia này phải cân nhắc cũng như hợp tác để vượt qua. Một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái liên quan đến các quốc gia với các tập hợp lợi ích và mục tiêu khác nhau có thể rất khó để xây dựng vì nó cần thời gian và phải xử lý quan hệ chi phí - lợi ích tại mỗi quốc gia. Do đó một số khía cạnh cản trở chính cần được đánh giá sâu hơn ở đây.

Thứ nhất, cần phải có sự phối hợp chính sách quốc tế giữa các quốc gia này.

Vì nền kinh tế Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đã hội nhập ở cấp độ vùng nên có thể thấy rằng các quốc gia này đã có sự phối hợp chính sách liên quan đến thương mại và đầu tư trong khi vẫn đang tiếp tục làm việc cùng nhau để làm sâu rộng hơn tiến trình hội nhập. Đối với hội nhập tiền tệ, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã đóng vai trò chính trong việc đề xuất, nghiên cứu cơ chế cho RMU.

Ngay cả khi RMU vẫn chỉ dừng lại ở những nghiên cứu học thuật và thảo luận chính sách nó vẫn có thể được dùng như là một thước đo cho việc đánh giá mức độ không đúng với giá trị của tỷ giá hối đoái của các quốc gia riêng lẻ. Đối với Trung Quốc, quốc gia này có thể có lợi từ việc có một cơ chế tỷ giá hối đoái cho

phép đồng Nhân dân tệ có vai trò lớn hơn với tư cách là đồng tiền quốc tế trong giỏ tiền của IMF cũng như cho phép họ chịu chi phí thấp hơn trong quản lý ngoại hối. Đối với các quốc gia ASEAN, rõ ràng rằng họ có thể được hưởng lợi từ việc ít phụ thuộc vào chuẩn tiền tệ theo Đô la Mỹ. Và điều này cũng có nghĩa là các quốc gia này ít chịu rủi ro của các cú sốc từ bên ngoài liên quan đến tỷ giá hối đoái hơn.

Tuy vậy, chúng ta có thể thấy sự không dễ dàng mà Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đang phải đối mặt để đạt được một chương trình phối hợp tốt giữa họ cho việc tiến tới RMU khi tiến trình đàm phán có thể đòi hỏi các bên phải theo “các quy tắc của cuộc chơi” với những giới hạn kèm theo như mục tiêu, công cụ, thời gian và các bên thứ ba liên quan. Rõ ràng đồng Đô la Mỹ hiện đang và vẫn còn đóng vai trò chủ chốt trong vùng. Ngay cả khi khủng hoảng tài chính châu Á xảy ra đã có những cuộc tranh luận rằng Đơn vị tiền tệ châu Á - cách gọi khác của RMU - có thể trở thành đồng tiền thay thế cho đồng Đô la Mỹ trong vùng. Tuy nhiên, một khảo sát cấp vùng thực hiện bởi Rana et al. (2012) đã chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo của ASEAN + 3 bao gồm 218 quan chức Chính phủ, nhà nghiên cứu và người làm thực tế trong khu vưc tài chính tư nhân phần lớn đồng ý rằng các cố gắng của vùng nên được tập trung vào việc cho ra đời RMU. Ngụ ý của kết quả này là đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc cần được xem như là một bên liên quan trong khuôn khổ của RMU. Khảo sát cũng đề cập đến Quỹ tiền tệ châu Á (AMF) là cái chỉ được người được khảo sát thấy cần thiết ở dài hạn, và quan trọng hơn là những người trả lời cho rằng AMF chỉ nên được xem như là một hệ thống tiền tệ bổ sung cho IMF nơi mà Đô la Mỹ đóng vai trò chủ đạo trong giỏ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR). Vì vậy, các cố gắng để tạo lập cơ chế tỷ giá hối đoái vùng giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN có thể phải đối mặt với những tranh luận tương tự nêu trên, nhất là khi mức độ phối hợp chính sách trong vùng chưa vượt ra khỏi khuôn khổ của thỏa thuận Chiang-Mai.

Thứ hai, ngay cả lời kêu gọi cho sự hội nhập tiền tệ lớn hơn trong vùng đã được truyền đi trong nhiều năm, đã không có cố gắng thực sự từ tất cả các bên để tìm câu trả lời cho hai câu hỏi quan trọng. Câu hỏi thứ nhất là ai sẽ được hưởng lợi và ai sẽ bị thiệt hại từ việc tồn tại của một đơn vị tiền tệ vùng? Nhìn từ khuôn khổ lý thuyết hiện tại, chúng ta có thể chỉ ra rằng một cơ chế tỷ giá chung cho Đông và Đông Nam Á là tốt cho tất cả các quốc gia liên quan về mặt ổn định của đồng tiền nhưng các quốc gia này cũng quan tâm đến sự mất cân đối thương mại và theo đó là phúc lợi quốc gia. Nếu cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN được thiết kế ra thì nó cần phải tính toán đến việc

tạo ra sự cân bằng thương mại giữa các quốc gia trong vùng hội nhập. Một số quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn như Lào, Campuchia, Myanmar, Philippines và Việt Nam có thể muốn ưu tiên xử lý trước tiên sự mất cân bằng về thương mại với các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn trong nhóm và Trung Quốc. Với tư cách là quốc gia thành viên của ASEAN các quốc gia kém phát triển hơn này vẫn có quyền yêu cầu bất cứ cơ chế tỷ giá hối đoái vùng nào phải giúp họ giảm mất cân bằng thương mại. Câu hỏi thứ hai là mức độ cam kết mà chúng ta có thể mong đợi từ mỗi quốc gia liên quan để thực hiện chương trình phối hợp đến đâu? Có vẻ như ở đây sẽ phát sinh vấn đề không tương thích về thời gian. Trong quá khứ, các quốc gia trong ASEAN như Thailand và Malaysia cùng với Hàn Quốc được dẫn đầu bởi Nhật Bản đã thể hiện sự hăng hái cao hơn với ý tưởng cho RMU trong khi Trung Quốc thì không thể hiện nhiều sự quan tâm đến vấn đề này. Thậm chí ngay cả khi các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn đã có thể thực hiện điều gì đó theo sau thỏa thuận Chiang-Mai, vẫn tồn tại sự không rõ ràng liên quan đến việc các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn có sẵn sàng cam kết với một thứ có thể không phải là ưu tiên trong chương trình nghị sự phát triển của họ. Điều này gợi ý rằng một cơ chế tỷ giá hối đoái giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN có thể sẽ khả thi và mang lại lợi ích cho tất cả các bên khi và chỉ khi Trung Quốc là quốc gia khởi xướng cho sự hình thành của nó cùng với các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn trong nhóm cộng với Nhật Bản và Hàn Quốc. Như thế các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn trong nhóm có thể là những người ra nhập sau vì họ cần nhiều thời gian hơn để điều chỉnh chính sách tăng trưởng và thị trường nội địa.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, có hai vấn đề kĩ thuật cần được tính đến liên quan đến mối quan hệ giữa đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc và đồng tiền của các quốc gia ASEAN. Vấn đề thứ nhất liên quan đến tình trạng hiện tại của đồng Nhân dân tệ so với Đô la Mỹ và Yên Nhật. Hai đồng tiền đứng sau đã được tự do chuyển đổi hoàn toàn và có thể thực hiện đầy đủ chức năng của đồng tiền quốc tế gồm thanh toán, dự trữ và xuất hóa đơn theo hợp đồng. Có thể hợp lý khi kỳ vọng đồng Nhân dân tệ sẽ sớm gia nhập câu lạc bộ của các đồng tiền mạnh quốc tế nhưng đó nên là một tiến trình tự thúc đẩy từ phía Trung Quốc.

Điều này có nghĩa là vùng đang mong đợi nhìn thấy đồng Nhân dân tệ sẽ linh hoạt hơn và tuân theo cơ chế định giá dựa trên cung cầu thị trường. Sự quan trọng của việc này nằm ở chỗ nó sẽ giúp đồng Nhân dân tệ nhận được sự công nhận quốc tế rộng rãi như đồng Đô la Mỹ và đồng Yên Nhật. Hệ quả là các quốc gia trong ASEAN có niềm tin lớn hơn vào đồng Nhân dân tệ như hai đồng tiền kia.

Vấn đề thứ hai liên quan đến cơ chế tỷ giá song phương hiện hành giữa đồng Nhân dân tệ với các đồng tiền khác của các quốc gia ASEAN. Hiện tại phần lớn tỷ giá giữa các đồng tiền với đồng Nhân dân tệ được xác định thông qua tỷ giá chéo với đồng Đô la Mỹ. Như vậy sẽ có hai cấp độ tạo ra sự không đúng giá trị giữa đồng tiền của các quốc gia này với đồng Nhân dân tệ, tức là có thể tồn tại mức độ chênh lệch giá trị giữa Nhân dân tệ và đồng Đô la Mỹ và tồn tại mức độ chênh lệch giá trị giữa đồng Đô la Mỹ với các đồng tiền của các quốc gia ASEAN, nhất là các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn trong nhóm như đã đề cập ở trên. Điều này có thể được giải thích do sự khác biệt về cấu trúc thương mại cũng như cơ chế tỷ giá hối đoái mà Trung Quốc và các quốc gia ASEAN đang có.4 Sẽ logic hơn nếu chúng ta cho rằng để xác định cơ chế hình thành tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ với đồng tiền của các quốc gia ASEAN thì trước tiên cơ chế tỷ giá song phương của Trung Quốc với từng quốc gia này cần được xem xét và tính toán trước.

4. Kết luận

Hội nhập kinh tế vùng của Đông và Đông Nam Á đang được đẩy mạnh hơn khi TPP đã hoàn thành vòng đàm phán vào cuối năm 2015. Cùng thời gian này việc đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc được chấp nhận để cuối năm 2016 chính thức trở thành đồng tiền đứng trong giỏ tiền tệ của IMF làm cho vấn đề tỷ giá hối đoái trở thu hút sự chú ý của các quốc gia liên quan nhất tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của Trung Quốc và đồng tiền của các quốc gia ASEAN. Việc đặt vấn đề xác định cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền này là tự nhiên ở thời điểm này. Kết hợp thông tin quá khứ với các thực trạng hiện tại trên thị trường, chúng ta có thể đưa ra một phân tích mang tính hướng về phía trước để xem xét tính khả thi cho sự ra đời của một cơ chế như thế.

Về lý thuyết, một cơ chế hình thành tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ với các đồng tiền khác của các quốc gia trong vùng trong bao gồm cả các quốc gia ASEAN là điều đã và đang được mong đợi vì nó giúp ổn định tỷ giá hối đoái nội vùng giúp thúc đẩy thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, thực tế thị trường cho thấy có những rào cản lớn cho việc hình thành cơ chế này. Rào cản quan trọng nhất là chưa có một cơ chế phối hợp chính sách quốc tế giữa Trung Quốc và các quốc gia trong vùng cũng như chưa có một cơ chế tin cậy trong phối hợp chính sách quốc

4 Xem thêm Aflouk et al. (2010) để biết thêm chi tiết việc không đinh xác định đúng giá trị của đồng Nhân dân tệ với các đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 153 - 161)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(764 trang)