CỦA CÁC QUỐC GIA ASEAN
2. Vị thế kinh tế và đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc trong vùng
Không ngạc nhiên rằng qua các năm do mức thặng dư cao trong thương mại Trung Quốc đã có thể xây dựng sức mạnh kinh tế quốc tế của mình thông qua lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ, lên đến gần 3.850 tỷ Đô la Mỹ vào cuối năm 2014. Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, việc kinh tế thế giới bị rơi vào suy thoái và tiềm ẩn nhiều bất trắc đã cho Trung Quốc các cơ hội tuyệt vời để mở rộng sự hiện diện kinh tế của mình đến tất cả các khu vực trên thế giới bao gồm toàn châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng. Quốc gia này đã tích cực và chủ động tăng cường vài trò của mình trong lĩnh vực tài chính quốc tế mà nổi bật nhất là sự ra đời của Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB) vào tháng 11 năm 2014. Có vai trò tích cực trong việc tạo ra chiến lược hoạt động, đóng góp vốn, thuyết phục các quốc gia trong và ngoài vùng tham gia Ngân hàng này, Trung Quốc đã chứng tỏ cho thế giới thấy rằng quốc gia này có thể trở thành người thay đổi cuộc chơi trong hệ thống tài chính quốc tế trong tương lai.
Ở cấp độ vùng, có bằng chứng rõ ràng rằng tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc mang lại lợi ích cho các nền kinh tế phát triển hơn của các quốc gia lân cận về địa lý ở châu Á bao gồm một số quốc gia ASEAN trong khi các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn trong nhóm thì sự tăng trưởng này có tác động hỗn hợp (Eichengreen et al., 2007).2 Tuy nhiên có một thực tế là sự phụ thuộc về thương mại và đầu tư giữa Trung Quốc và các quốc gia thuộc nhóm ASEAN không cao như mong đợi nhất là sau khi FTA giữa các quốc gia này có hiệu lực vào năm 2010. Theo số liệu của ADB (2014), vào tháng 5 năm 2014 Trung Quốc chỉ chiếm 10,3% tỷ trọng thương mại của các quốc gia ASEAN trong khi chỉ đóng góp 3,8% FDI vào các quốc gia này vào năm 2012. Bên cạnh đó con số liên quan đến việc nắm giữ cổ phiếu và trái phiếu giữa Trung Quốc và các quốc gia này (chủ yếu là chiều đi vào Trung Quốc) năm 2013 cũng lần lượt chỉ là 11,1%
và 1,5%.3
Những thực tế phát triển liên quan đến hội nhập kinh tế giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN ở trên có một số ngụ ý quan trọng. Thứ nhất, Trung Quốc thành công trong việc sử dụng lợi thế của thị trường nội địa khổng lồ và chính sách quản lý khu vực ngoại biên thận trọng của mình. Một trong những đóng góp chính cho sự thành công về kinh tế của Trung Quốc, như được chỉ ra bởi giới
2 Eichengreen chỉ ra rằng các quốc gia trong nhóm ASEAN như Singapore, Malaysia… được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong khi các quốc gia như Việt Nam, Philippines thì lợi ích thu được rất hạn chế.
3 Cũng theo ADB thì cấu trúc thương mại và đầu tư giữa Nhật Bản với các quốc gia ASEAN có sự khác biệt căn bản với cái của Trung Quốc thể hiện ở mức FDI lớn của Nhật Bản đi vào các quốc gia này.
nghiên cứu và người làm thực tế, là quốc gia này đã có thể quản lý chế độ tỷ giá và kiểm soát vốn qua các năm giúp thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu ở mức cao trong khi vẫn giữ hệ thống tài chính ổn định và ít chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài. Thứ hai, sự phát triển của Trung Quốc thời gian qua mang đầy đủ đặc tính của mô hình tăng trưởng dựa trên xuất khẩu của các nước châu Á. Quốc gia này, như các quốc gia khác trong vùng, bắt đầu bằng việc nhập khẩu tư bản và công nghệ phục vụ cho sản xuất và xuất khẩu, sau đó khi nền kinh tế mở rộng và phát triển ở cấp độ cao hơn thì họ bắt đầu cân nhắc việc tìm kiếm cơ hội tăng trưởng mới thông qua đầu tư ra bên ngoài do có thặng dư cả trên cán cân vãng lai và vốn.
Thứ ba, thậm chí ngay cả khi Trung Quốc có mức độ và cấu trúc hội nhập kinh tế với các quốc gia ASEAN khác với Nhật Bản, quốc gia này do các tính toán chiến lược về vị thế của mình luôn theo đuổi sự cạnh tranh với Nhật Bản trong việc đẩy mạnh quan hệ kinh tế với các quốc gia ASEAN là lĩnh vực rõ ràng Trung Quốc đang đi sau. Đặc biệt trong bối cảnh Nhật Bản là quốc gia sẽ có lợi hơn khi ra nhập TPP trong khi Trung Quốc là quốc gia chịu tác động tiêu cực vì đứng ngoài hiệp định kinh tế này như được chỉ ra trong nghiên cứu ban đầu của Li và Whalley (2012) thì việc tìm ra các kênh tạo lợi thế trong quan kệ kinh tế với các quốc gia ASEAN là một mục tiêu quan trọng với Trung Quốc.
Hệ quả tự nhiên của ba ý trên đối với Trung Quốc là quốc gia này, với trạng thái kinh tế hiện tại, phải thực hiện các biện pháp để thúc đẩy hơn nữa việc hội nhập kinh tế với các quốc gia ASEAN, không chỉ trong thương mại và đầu tư mà còn trong các vấn đề liên quan đến tiền tệ. Khi Trung Quốc hiện chỉ cho phép đồng Nhân dân tệ tự do chuyển đổi trong cán cân vãng lai, quốc gia này cần tính đến các vấn đề liên quan đến năng lực chuyển đổi hạn chế của đồng tiền quốc gia trong cán cân vốn nhằm hỗ trợ sự mở rộng về thương mại và đầu tư lên cấp độ cao hơn. Và các quốc gia ASEAN cùng với đồng tiền của họ có thể đóng vai trò trở thành đầu mối kiểm định tốt nhất cho Trung Quốc trong chiến lược mới của quốc gia này đưa ra nhằm nâng vai trò quốc tế của đồng Nhân dân tệ cũng như hội nhập tiền tệ với các quốc gia trong vùng. Vì vậy, một tiếp cận liên quan đến việc tìm kiếm cơ chế hình hành tỷ giá hối đoái giữa đồng Nhân dân tệ và đồng tiền của các quốc gia ASEAN là nhu cầu hiện hữu của các bên liên quan. Tuy nhiên, mục tiêu này cần được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Một trong những lo ngại chính liên quan đến việc hình thành cơ chế tỷ giá hối đoái này là sự khác biệt về chế độ tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia liên quan.
Với việc nới lỏng gần đây của Trung Quốc liên quan đến tỷ giá hối đoái trên thị trường giao ngay, cho phép tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ và Đô la Mỹ được quyết
định theo cung và cầu, cơ chế tỷ giá hối đoái của Trung Quốc dường như đã gần với cái của hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn trong nhóm ASEAN. Tuy nhiên việc này cần được nhìn nhận một cách thận trọng và nên được coi như là một trong những điều kiện cần cho việc thảo luận liên quan đến một cơ chế hình thành tỷ giá của các quốc gia này. Tương tự cũng nên nhìn nhận rằng việc đồng Nhân dân tệ sẽ chính thức được đưa vào tính toán giỏ tiền tệ của IMF từ tháng 10 năm 2016 sẽ mang lại uy tín và lợi thế cho đồng tiền này nhưng đối với một cơ chế tỷ giá đa phương với các quốc gia ASEAN thì luôn có những trở ngại không thể bỏ qua.