Về kết quả hoạt động của các tổ chức tín dụng

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 103 - 106)

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 2015 VÀ CÁC DỰ BÁO 2016

2. Đánh giá hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2015 theo các mục tiêu

2.2. Về kết quả hoạt động của các tổ chức tín dụng

Với năm bản lề hoàn thành thực hiện đề án cơ cấu lại, mục tiêu hoạt động đối với các TCTD theo nghị quyết của Quốc Hội và Chính phủ năm 2015 tập trung vào “đảm bảo thanh khoản… tập trung đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD… tăng dư nợ tín dụng phù hợp và đảm bảo chất lượng tín dụng,…” (NHNN, 2015). Theo Quyết định 254/QĐ-TTg, các TCTD cần “Đổi mới hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế tiên tiến, đặc biệt tăng cường hiện đại hóa hệ thống quản trị rủi ro, nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ để các ngân hàng thương mại nhà nước có khả năng tự kiểm soát một cách có hiệu quả các loại rủi ro trong hoạt động, trước hết là chất lượng tín dụng và khả năng thanh khoản.” (Chính phủ, 2012)

Mặc dù nền kinh tế trong và ngoài nước có nhiều biến động khó lường, hoạt động của hệ thống các TCTD Việt Nam trong giai đoạn 2012-2015, đặc biệt là năm cuối 2015 đã đạt được những kết quả khá ấn tượng.

Bảng 1. Một số chỉ tiêu hoạt động của hệ thống các TCTD Việt Nam giai đoạn 2012-2015

Đơn vị: % Chỉ tiêu 2012 2013 2014 2015

Tăng trưởng huy động vốn 10.7 14.8 15.8 13.49 Tăng trưởng tín dụng 8.9 12.5 14.1 17.02

CAR 13.75 13.25 12.75 13.14

ROE 6.31 5.18 6.2 5.79

Tỷ lệ cho vay/vốn huy động 90 85 83.6 69.95

Tỷ lệ nợ xấu 4.08 3.61 4.83 2.72

Tỷ lệ tiền mặt/tổng PTTT 13 12.6 12.06 12

Nguồn: Nhóm tác giả tính toán từ NHNN (2015), Trần Thọ Đạt (2015), Cấn Văn Lực (2015).

Cụ thể:

- Tính thanh khoản của cả hệ thống được đảm bảo tốt: Lãi suất huy động giảm cả với VND và USD, từ trung bình 8% đầu năm xuống 5% vào cuối năm với VND và 0% với USD. Tuy vậy, quy mô tăng trưởng huy động vốn vẫn rất ấn

tượng, trên 13%. Dự trữ thanh khoản của hệ thống bình quân đạt 19.4%, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung, dài hạn đạt 29.4%, nằm trong giới hạn cho phép theo thông tư 36/2014/TT-NHNN. Mặc dù 3 NHTMCP bị mua lại 0 đồng và NH Đông Á bị đưa vào tình trạng kiểm soát đặc biệt năm 2015, NHNN không phải cho vay hỗ trợ thanh khoản, tình trạng rút tiền gửi ròng bị chấm dứt.

Đến tháng 11/2015, 3 ngân hàng 0 đồng đều có vốn khả dụng khá lớn, sẵn sàng phục vụ nhu cầu thanh khoản của khách hàng, đồng thời có thể tiến hành các hoạt động cấp tín dụng (NHNN, 2015).

- Các TCTD tuân thủ việc thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu rốt ráo do NHNN đề ra, thông qua 6 hình thức khác nhau, gồm: cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi và phí tín dụng, sử dụng quỹ DPRR để xử lý, xử lý - phát mại TSBĐ để thu hồi nợ, chuyển nợ thành vốn góp, mua bán nợ qua VAMC và DATC. Do vậy, tỷ lệ nợ xấu đã đạt như mục tiêu kỳ vọng ban đầu. Đây chính là một trong những thành tựu nổi bật của hệ thống các TCTD trong 3 năm qua, với năm chốt 2015.

- Mức độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống được đảm bảo khá tốt. Tín dụng tăng trưởng ngay từ những tháng đầu năm, các TCTD có sự chủ động lớn trong việc tăng trưởng tín dụng. Chính sách tín dụng của các TCTD nhìn chung đều hướng đến khách hàng, tăng tỷ trọng cho khu vực sản xuất vật chất. Hoạt động kinh doanh của các TCTD được tái cấu trúc theo hướng phát triển dịch vụ và đầu tư cho các lĩnh vực an toàn, các khu vực ưu tiên của nền kinh tế. Có tới 18 chương trình tín dụng ưu đãi được phát triển, định hướng cho sự phát triển tín dụng cho các TCTD, giúp hỗ trợ nền kinh tế phát triển, tạo tiền đề phát triển bền vững hoạt động của các TCTD. Trong đó, 7 chương trình tín dụng trọng điểm trong năm 2015 là: chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông thôn, cho vay hỗ trợ nhà ở, kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng, cho vay bình ổn giá, tín dụng xanh và tín dụng chính sách. Tất cả các chương trình này đều đạt mục tiêu tăng trưởng trong năm 2015 (NHNN, 2015).

- Vốn và mức độ an toàn vốn vẫn được đảm bảo mặc dù công tác thoái vốn và giảm sở hữu chéo được thực hiện rốt ráo. Hầu hết các TCTD đều đạt các tỷ lệ, giới hạn an toàn theo quy định, trừ một số TCTD đang trong quá trình tái cơ cấu.

Năng lực tài chính của các TCTD được cải thiện. Vốn điều lệ tăng 5%, vốn chủ sở hữu tăng 3,35% so với 2015. Việc thoái vốn đầu tư, góp vốn, mua cổ phần, sở hữu vốn trong các TCTD khác và doanh nghiệp được thực hiện khá tốt. Đến tháng 9/2015, các TCTD đã thoái vốn được 1.638,5 tỷ đồng vốn đầu tư ở TCTD khác. Các tập đoàn, tổng công ty, DNNN đã thoái vốn được 3.056,2 tỷ tại các TCTD, đặc biệt năm 2015 thoái được 1745 tỷ VND (NHNN, 2015).

2.2.2. Hạn chế

Mặc dù đã đạt được những kết quả ấn tượng trên, hoạt động của các TCTD hiện còn một số hạn chế như sau:

- Quy mô vốn của nhiều TCTD nhìn chung còn khá thấp. Tổng vốn của 12 NHTM nhỏ nhất có vốn chưa bằng ngân hàng lớn nhất - Vietinbank. Hệ thống NHTM đang chia thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm 9 NHTM có vốn trên 10 ngàn tỷ, nhóm 2 gồm 10 NHTM có vốn từ 5-10 ngàn tỷ, và nhóm 3 gồm 15 NHTM có vốn dưới 5 ngàn tỷ (Kim Tiền, 2015). Do vậy, sức mạnh tài chính của nhiều TCTD chưa được đảm bảo, đặc biệt trong điều kiện các yêu cầu đầu tư về công nghệ, quản trị, các tỷ lệ an toàn… đều gắn liền với quy mô vốn chủ sở hữu. Việc tăng vốn điều lệ của nhiều TCTD chưa đạt mục tiêu trong bối cảnh thị trường tài chính khó khăn, ngân sách nhà nước hạn hẹp, nguồn lực tài chính của nhà đầu tư trong nước hạn chế, nhà đầu tư nước ngòa chưa thực sự sẵn sàng tham gia vào thị trường này.

- Hoạt động tín dụng vẫn chưa tăng trưởng ổn định. Tín dụng cho khu vực công nghiệp, thương mại, viễn thông chỉ tăng khiêm tốn ở mức 6,7% và 7,2%, trong khi tín dụng cho xây dựng là 14,3%. Như vậy, sự hồi phục của nền kinh tế chưa vững chắc, đặc biệt khu vực sản xuất vật chất, doanh nghiệp chưa thực sự hoàn toàn lạc quan vào triển vọng hồi phục mạnh mẽ của nền kinh tế. Lạm phát thấp, mặc dù không phải là giảm phát, nhưng cũng tạo nên áp lực tâm lý lo ngại cho nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa do sức mua giảm sút.

- Lợi nhuận của các TCTD còn khá thấp so với khu vực và trên thế giới.

Hình 2. ROE của các TCTD Việt Nam so với các khu vực khác trên thế giới năm 2015

Đơn vị: %

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ (NHNN, 2015), www.thebankerdatabase

So với khu vực châu Á, ROE của các TCTD Việt Nam thấp hơn 3,2 lần.

Mức độ sinh lời của các TCTD Việt Nam chỉ cao hơn khu vực Eurozone, với mức 4,61%. Tuy vậy, tại khu vực này, các yêu cầu về đảm bảo an toàn đã áp dụng theo Basel III, cộng với lãi suất tái chiết khấu gần mức 0% trong nhiều năm, nền kinh tế nhiều quốc gia chỉ tăng trưởng ở mức 0-2%. Do vậy, mức độ sinh lời như vậy tại khu vực này cũng vẫn được đánh giá là rất ấn tượng.

Lý do chính của mức độ sinh lời thấp này đối với các TCTD Việt Nam là (i) năm 2015, nhiều TCTD tập trung xử lý nợ xấu bằng các biện pháp khác nhau nên chi dự phòng RRTD tăng lên, thu lãi giảm. NIM của cả hệ thống năm 2015 chỉ đạt 30,35 ngàn tỷ, giảm 0,21% so với 2014); (ii) các dịch vụ phi tín dụng chưa đa dạng, do vậy thu phi lãi còn chiếm tỷ trọng thấp; (iii) một số TCTD tập trung nguồn lực đầu tư nâng cấp công nghệ hiện đại, đặc biệt là 10 NHTM thực hiện thí điểm theo Basel II, nên chi đầu tư tăng lên; (iv) trình độ quản lý và điều hành hoạt động của nhiều TCTD còn thấp, chưa chuyên nghiệp, do vậy việc tối ưu hóa nguồn lực tài chính và giảm chi phí chưa được thực hiện có hiệu quả.

- Vẫn còn tình trạng vi phạm, tồn tại, yếu kém của một số TCTD, chưa được xử lý triệt để. Một số TCTD có xu hướng gia tăng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, tập trung tín dụng vào một số khách hàng và lĩnh vực, hoặc mở rộng tín dụng trung dài hạn chưa phù hợp với quy mô, cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn. Năng lực tài chính, quản trị điều hành của một vài tổ chức còn chưa cao, rủi ro tiềm ẩn (NHNN, 2015).

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 103 - 106)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(764 trang)