Về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 182 - 185)

PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI

1. Thực trạng hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam hiện nay

1.3. Về cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu

* Cơ cấu thị trường xuất khẩu

Thị trường xuất khẩu của Việt Nam đang ngày càng được mở rộng hơn và đa dạng hơn, từ 160 thị trường năm 2000, đến nay Việt Nam đã mở rộng quan hệ thương mại và xuất khẩu hàng hoá tới trên 240 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ.

Xét về cơ cấu thị trường xuất khẩu, thị trường Châu Á vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, song Việt Nam đang giảm dần sự lệ thuộc vào khu vực thị trường này. Điều này được minh chứng bằng việc tỷ trọng của khu vực thị trường châu Á đã giảm từ 59,8% năm 2000 xuống còn 49,7% năm 2014. Tương tự như vậy, tỷ trọng của khu vực thị trường châu Đại Dương cũng giảm mạnh từ 9,6% năm 2000 xuống còn 2,8% năm 2014. Ngược lại, các quốc gia và vùng lãnh thổ khác ngày càng nổi lên và trở thành những đối tác lớn trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Trong giai đoạn 2000 - 2014, tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Âu có xu hướng giảm nhẹ nhưng vẫn ổn định ở mức trên 20%; Xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Mỹ đã tăng đột biến kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, nâng tỷ trọng đóng góp từ 6,5% năm 2000 lên tới 23% năm 2014, gấp hơn 3 lần;

Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực thị trường Châu Phi cũng tăng nhẹ từ 0,75% năm 2000 lên 1,5% năm 2014 (Bảng 2).

Bảng 2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam Năm

KVTT

Cơ cấu thị trường xuất khẩu (%) Năm

2000

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2014

- Châu Á 59,8 50,0 50,9 49,7

- Châu Âu 23 18,6 20,7 20,1

- Châu Mỹ 6,5 21,3 22,5 23

- Châu Đại Dương (Úc và NiuDilân) 9,6 8,5 3,4 2,8

- Châu Phi 0,75 1,6 2,5 1,5

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê

Tổng cục Hải quan Việt Nam, Bộ Công Thương

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, kết thúc 11 tháng của năm 2015, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam với hầu hết các châu lục đều tăng so với cùng kỳ năm 2014 (trừ châu Đại Dương), trong đó tăng mạnh nhất là châu Mỹ (tăng 18,6%) và châu Âu (tăng 8,1%). Châu Á vẫn là châu lục chiếm tỷ trọng cao nhất về giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (chiếm tỷ trọng 49,39%), đạt 73,452 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ năm 2014. Tiếp đến là châu Mỹ, với kim ngạch xuất khẩu đạt 37,371 tỷ USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 25,13%; kim ngạch xuất khẩu với châu Âu đạt 29,856 tỷ USD, tăng 8,1%, chiếm tỷ trọng 20,08%; châu Đại Dương đạt 3 tỷ USD, giảm 25,3%, chiếm tỷ trọng 2,02%;

châu Phi đạt 2,256 tỷ USD, tăng 3,5%, chiếm tỷ trọng 1,52%.

* Cơ cấu thị trường nhập khẩu

Nhập khẩu từ châu Á luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 80% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, do những lợi thế về vị trí địa lý, giá cả. Nhập khẩu từ thị trường châu Âu chiếm thị phần lớn thứ hai trong tổng kim ngạch, tuy nhiên tỷ trọng nhập khẩu từ khu vực thị trường này đang có xu hướng giảm xuống trong những năm qua, cụ thể giảm từ 13,5% năm 2000 xuống còn 7,1%

năm 2014. Nhập khẩu từ châu Mỹ đã có sự cải thiện đáng kể khi tăng từ 3,5%

năm 2000 lên 7,3% năm 2014. Nhập khẩu từ châu Đại Dương và châu Phi hiện vẫn chiếm thị phần nhỏ trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, với tỷ trọng nhập khẩu từ châu Đại Dương giảm từ 2,3% năm 2000 xuống còn 1,7%

năm 2014 và tỷ trọng nhập khẩu từ châu Phi tăng nhẹ từ 0,2% năm 2000 lên 0,36% năm 2014 (Bảng 3).

Bảng 3. Cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam Năm

KVTT

Cơ cấu thị trường nhập khẩu (%) Năm

2000

Năm 2005

Năm 2010

Năm 2014

- Châu Á 80,5 81 77,3 81,1

- Châu Âu 13,5 12,2 10,3 7,1

- Châu Mỹ 3,5 4,3 9,4 7,3

- Châu Đại Dương (Úc và NiuDilân) 2,3 1,8 2,1 1,7

- Châu Phi 0,2 0,7 0,9 0,36

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê,

Tổng cục Hải quan Việt Nam, Bộ Công Thương

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, tính đến hết tháng 11 năm 2015, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ hầu hết các châu lục đều tăng so với cùng kỳ năm 2014 (trừ châu Đại Dương), trong đó tăng mạnh nhất là Châu Phi (tăng 40,1%) và châu Mỹ (tăng 26,6%). Nhập khẩu từ châu Á vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất là 80,48%, với kim ngạch nhập khẩu đạt 122,73 tỷ USD; tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2014. Tiếp đến là châu Mỹ, với kim ngạch nhập khẩu đạt 12,5 tỷ USD, tăng 26,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm tỷ trọng 8,2%; kim ngạch nhập khẩu từ châu Âu đạt 11,39 tỷ USD, tăng 20%, chiếm tỷ trọng 7,47%%; châu Đại Dương đạt 2,23 tỷ USD, giảm 3,8%, chiếm tỷ trọng 1,46%; châu Phi đạt 0,7 tỷ USD, tăng 40,1%, chiếm tỷ trọng 0,46%.

Trong những năm gần đây, ngoài các thị trường truyền thống ở khu vực châu Á, Việt Nam đã bắt đầu gia tăng nhập khẩu máy móc từ những thị trường có trình độ công nghệ cao như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada… tuy nhiên, kim ngạch vẫn còn thấp xét cả về quy mô lẫn tốc độ. Việt Nam có thâm hụt thương mại duy nhất với Châu Á trong khi thặng dư thương mại với tất cả các châu lục còn lại. Trong đó, Việt Nam nhập siêu chủ yếu từ Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Thái Lan và đặc biệt là từ Trung Quốc. Xuất khẩu sang Trung Quốc hiện chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, và nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm khoảng 29,5% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Trong giai đoạn 2012 - 2014, mặc dù Việt Nam liên tục đạt thặng dư cán cân thương mại, song nhập siêu với Trung Quốc vẫn không ngừng tăng lên.

Năm 2014, Việt Nam đạt mức xuất siêu kỷ lục là 2,1 tỷ USD, nhưng vẫn nhập siêu từ Trung Quốc là 28,9 tỷ USD. Về cơ cấu nhập khẩu theo mặt hàng đối với nhóm thị trường nhập siêu trong những năm gần đây hầu như không thay đổi, chủ yếu vẫn là các nhóm hàng nguyên vật liệu, xăng dầu, sắt thép các loại, máy tính và điện tử, các loại máy móc thiết bị phụ tùng khác…

Nhìn chung, cơ cấu thị trường nhập khẩu của nước ta từ năm 2000 đến nay không có thay đổi lớn và dự báo sẽ ít có sự thay đổi đáng kể trong những năm tới.

Với tỷ trọng nhập khẩu cao từ các thị trường châu Á (nhập siêu chủ yếu với các thị trường này) - những nước có trình độ công nghệ trung bình và xuất siêu đối với các thị trường có công nghệ nguồn, cho thấy Việt Nam vẫn chưa chủ động tận dụng có hiệu quả những cơ hội do hội nhập kinh tế quốc tế và tự do thương mại đem lại. Điều này ít nhiều sẽ gây khó khăn cho Việt Nam trong việc phát triển

theo kiểu rút ngắn, đi tắt đón đầu, xác định vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, đồng thời nguy cơ tụt hậu của Việt Nam sẽ rất lớn.

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 182 - 185)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(764 trang)