PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
3. Một số khuyến nghị
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, Việt Nam cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng để có thể tận dụng tối đa lợi ích mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cũng như tự bảo vệ mình trước những áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn. Để thực hiện được điều này đòi hỏi những nỗ lực lớn và một hệ thống giải pháp đồng bộ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như từ phía các doanh nghiệp Việt Nam.
3.1. Đối với Nhà nước
Thứ nhất, giữ vững ổn định chính trị - xã hội
Một trong những nguyên tắc phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Thêm vào đó, môi trường chính trị - xã hội ổn định cũng là một nhân tố quan trọng làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư trong nước, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, góp phần đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao và ổn định.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, công khai, minh bạch, tạo môi trường kinh doanh và đầu tư thuận lợi
Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với các cam kết quốc tế trong các điều ước quốc tế song phương, khu vực và đa phương mà Việt Nam là thành viên. Việc xây dựng và thực thi luật pháp cần bảo đảm tính minh bạch, bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó cần đổi mới mạnh mẽ và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân; tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh lâu dài và hiệu quả ở Việt Nam; tăng cường khả năng liên kết ngành kinh tế, xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn mạnh. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần hoàn thiện chính sách tài chính và chính sách tiền tệ nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế; đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đồng bộ về thuế, bảo hiểm, hải quan, đất đai, môi trường, xây dựng, đầu tư… để giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các ngành kinh tế trong bối cảnh hội nhập
Đối với lĩnh vực công nghiệp, cần ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp dược… Đối với các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay như da giày, dệt may, linh kiện điện tử… cần có chính sách để chuyển dần từ gia công sang tự xuất khẩu. Ngoài ra, Việt Nam cần nhanh chóng đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ như: công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo; công nghiệp hỗ trợ ngành sản xuất và lắp ráp điện tử; công nghiệp hoá chất sử dụng công nghệ tiên tiến; công nghiệp sản xuất xơ sợi, sợi và dệt nhuộm, phụ kiện ngành da giày; công nghiệp hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để tránh sự phụ thuộc quá lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu, đồng thời tiết kiệm được nguồn ngoại tệ lớn.
Về lĩnh vực nông nghiệp, cần có cơ chế chính sách để đẩy nhanh việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản;
Ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao.
Về lĩnh vực dịch vụ, cần phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistics và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác.
Thứ tư, đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ
Nhà nước cần chú trọng phát triển các lĩnh vực khoa học, công nghệ làm nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ môi trường...; đồng thời có chính sách ưu tiên nhập khẩu công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, bằng phát minh, sáng chế.
Hoạt động khoa học công nghệ cần gắn với yêu cầu phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, từng sản phẩm, gắn với đào tạo và sản xuất kinh doanh. Nhà nước
cũng cần đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ cơ chế quản lý, ứng dụng khoa học, công nghệ theo hướng: phát huy vai trò của các tổ chức khoa học, công nghệ chủ lực trong việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ trọng điểm; phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận và tăng tính thanh khoản các nguồn vốn đầu tư cho R&D, đổi mới sản phẩm, đổi mới công nghệ; có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đổi mới công nghệ, làm chủ các công nghệ then chốt và đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, đặc biệt, ưu tiên các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ năm, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt trên cả thị trường nội địa và quốc tế, Nhà nước cần đẩy mạnh thực hiện các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ khắc phụ hạn chế, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy sản xuất kinh doanh trên các khía cạnh: tài chính; mặt bằng sản xuất; đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật; xúc tiến mở rộng thị trường; tham gia kế hoạch mua sắm, cung ứng dịch vụ công; thông tin và tư vấn; phát triển nguồn nhân lực;
Vườn ươm doanh nghiệp. Đặc biệt, để thực hiện hoạt động hỗ trợ có hiệu quả, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các Bộ, ngành, địa phương và hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng. Thêm vào đó, các Hiệp hội cũng cần phát huy vai trò là cầu nối giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp;
thúc đẩy sự hợp tác giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ để có thể tồn tại và phát triển trong cạnh tranh.
Nhà nước cũng cần hỗ trợ các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa thông qua việc thường xuyên phổ biến thông tin về các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam để các doanh nghiệp có sự chuẩn bị đầy đủ, tận dụng được cơ hội và đối phó với những thách thức; tăng cường công tác thu thập, phổ biến thông tin và dự báo để định hướng cho hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu; cử đoàn đi nước ngoài tham gia hội chợ, triển lãm để tìm hiểu thị trường và tìm kiếm đối tác; khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam thành lập các văn phòng đại diện, trung tâm thương mại, kho ngoại quan... để trưng bày, giới thiệu và bán sản phẩm tại thị trường nước ngoài; nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài trong việc cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm bạn hàng, mở rộng quan hệ kinh tế và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thứ sáu, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là nhân tố quyết định thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của một quốc gia. Nhà nước cần phải đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi; lực lượng lao động lành nghề; cán bộ khoa học, công nghệ giỏi và đi tiên phong.
Để phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Nhà nước cần bắt đầu từ việc đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, then chốt là đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên, hoàn thiện chương trình, phương pháp dạy và học.
Quá trình đào tạo cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Bên cạnh đó, cần thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn; đồng thời cần có chính sách trọng dụng nhân tài, đãi ngộ hợp lý đối với người lao động.
3.2. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam
- Nâng cao nhận thức về các cam kết quốc tế trong các Hiệp định thương mại song phương, đa phương và khu vực mà Việt Nam đã tham gia, cụ thể là các quyền và nghĩa vụ của Việt Nam, các nguyên tắc, quy định cơ bản, để có thể tận dụng được những cơ hội và kịp thời đối phó với những thách thức.
- Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, tập trung vào các mảng sản xuất kinh doanh có thế mạnh. Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh được với các doanh nghiệp nước ngoài với bề dày kinh nghiệm, tiềm lực tài chính, thương hiệu, uy tín… Do đó, doanh nghiệp Việt Nam có thể chọn những thị trường ngách, thị trường nhỏ hẹp nhưng mới và ít đối thủ cạnh tranh. Ở một góc độ khác, các doanh nghiệp Việt Nam có thể liên doanh, liên kết với nhau hoặc với các doanh nghiệp nước ngoài để nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Thay đổi tư duy kinh doanh phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại về các vấn đề môi trường, lao động, và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức cũng yêu cầu các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực sáng tạo. Nâng cao năng lực sáng tạo không đơn giản là việc mua sắm thiết bị, công nghệ mới, mua bản quyền, phát minh, sáng chế, mà còn là việc tạo ra một môi trường lao động sáng tạo trong doanh nghiệp.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của các nguồn lực hữu hình của doanh
nghiệp: chủ động đa dạng hóa cơ cấu vốn để không phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay ngân hàng; đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến quản lý sản xuất, hoàn thiện cơ chế quản lý, hệ thống kế toán minh bạch, rõ ràng; nâng cao trình độ nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực quản lý, thông qua các hoạt động đào tạo kiến thức chuyên môn, kiến thức quản lý, kiến thức pháp luật, tin học, ngoại ngữ… và có chính sách đãi ngộ hợp lý cũng như chiến lược thu hút và sử dụng nhân tài.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thông qua các hoạt động: đầu tư cho giai đoạn nghiên cứu thị trường để nắm bắt nhu cầu thị trường, giai đoạn thiết kế sản phẩm nhằm tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho doanh nghiệp; xác định rõ phân khúc thị trường của sản phẩm và đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn về chất lượng; có chiến lược giá phù hợp cho từng giai đoạn; tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại; thiết lập mạng lưới tiêu thụ hiệu quả thông qua các kênh phân phối hiện đại và theo phương thức thương mại điện tử.
- Tham gia các tổ chức hiệp hội doanh nghiệp để học hỏi kinh nghiệm trong công tác quản lý và kinh doanh, cũng như tìm kiếm sự hợp tác giữa các doanh nghiệp để tận dụng nguồn lực của nhau cùng nhau phát triển.
- Chủ động, tích cực tham gia các chương trình hỗ trợ của Nhà nước để nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ lãnh đạo, trang bị kiến thức về kinh tế, pháp luật, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Công Thương (2015), Báo cáo tóm tắt tình hình hoạt động ngành công nghiệp và thương mại tháng 11 và 11 tháng năm 2015.
2. GS.TS. Đỗ Đức Bình, ThS. Nguyễn Thị Thúy Hồng (2010), Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Giáo dục Việt Nam.
3. ThS. Đỗ Thuý Mùi, Xu hướng phát triển kinh tế thế giới, http://www.mofahcm .gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns110517141804.
4. PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn, TS. Nguyễn Mạnh Hùng (2010), Phát triển ngành dịch vụ: Xu hướng và kinh nghiệm quốc tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
5. Thống kê Hải quan, Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 11 và 11 tháng năm 2015.
6. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020.