PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
2. Xu hướng phát triển hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới
2.1. Xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới trong tương lai
Có thể khẳng định rằng sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam trong thời gian tới sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế thế giới trong tương lai theo những xu hướng sau:
Thứ nhất, xu hướng chuyển dịch từ nền kinh tế vật chất sang nền kinh tế tri thức Kinh tế vật chất là nền kinh tế dựa trên cơ sở khai thác, sản xuất, phân phối và sử dụng những tài nguyên hữu hình và hữu hạn; còn “kinh tế tri thức là nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức, thông tin”1. Trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thế giới trong giai đoạn mới, những nền tảng vật chất truyền thống ngày càng tỏ ra không còn đáp ứng được nữa. Do đó, nền kinh tế thế giới tất yếu phải phát triển theo hướng kinh tế tri thức nhằm khắc phục những hạn chế của nền kinh tế vật chất và đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội loài người. Trong nền kinh tế tri thức, năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia được quyết định bởi năng lực KH&CN, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn, trong khi vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo ngày càng được đề cao.
Xu hướng phát triển này hiện đang đem lại cả những tác động tích cực và tiêu cực cho nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới. Tác động tích cực có thể được nhận thấy qua việc nó sẽ góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động quốc tế ở trình độ cao; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia một cách hiệu quả theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành kinh tế tri thức, các ngành dịch vụ và các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao; mở ra cho các nước đang phát triển cơ hội tiếp cận những nguồn lực quan trọng như nguồn vốn, tri thức và những kinh nghiệm quản lý, qua đó đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển. Tuy nhiên, một thách thức cơ bản từ xu hướng này mà các quốc gia đang phát triển sẽ phải đối mặt đó là nó có thể làm
1 Báo cáo của OECD
cho các nước đang phát triển với trình độ công nghệ thấp có nguy cơ bị tụt hậu nếu không có chính sách phát triển KH&CN hợp lý.
Thứ hai, xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới ngày càng mạnh mẽ Toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ của những mối liên hệ, những ảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới. Đây là một xu hướng khách quan xuất phát từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung để giải quyết như: vấn đề chiến tranh và hoà bình; vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái;
hệ thống tín dụng và thương mại quốc tế; vấn đề dân số, lương thực, nguồn năng lượng… Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên mọi lĩnh vực: kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, thông tin, chính trị (bao gồm cả ngoại giao và quân sự), song mạnh mẽ nhất là trong lĩnh vực kinh tế (đặc biệt là thương mại, đầu tư, tài chính).
Những biểu hiện cơ bản của xu hướng toàn cầu hóa trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: (i) Sự phát triển nhanh chóng của quan hệ thương mại quốc tế; (ii) Sự phát triển và vai trò ngày càng lớn của các công ty xuyên quốc gia; (iii) Sự sáp nhập và hợp nhất các công ty thành những tập đoàn lớn, đặc biệt là các công ty khoa học - kĩ thuật, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; (iv) Sự ra đời và vai trò ngày càng quan trọng của các tổ chức liên kết kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như IMF, WB, WTO, EU, ASEAN, APEC, ASEM…
Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, một mặt đưa tới cơ hội cho sự phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới, giúp cho việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên hiện có, cũng như gây tác động ngược trở lại đối với sự phát triển của khoa học - công nghệ đối với việc phân công lao động quốc tế. Song bên cạnh đó, toàn cầu quá nền kinh tế cũng mang đến nhiều thách thức khác nhau như: sự gia tăng các rủi ro kinh tế (khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực, sự sụt giảm của thương mại toàn cầu, việc hình thành các “bong bóng” tài chính và tiền tệ…); có thể gây nên mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị và xã hội do làm suy giảm tính độc lập chủ quyền quốc gia, gây nên sự phụ thuộc quá mức vào các trung tâm kinh tế lớn, phương hại đến sự phát triển văn hoá dân tộc; trong quá trình toàn cầu hóa kẻ mạnh thu được nhiều lợi ích hơn còn người yếu dễ bị thua thiệt và điều này đặc biệt là thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển.
Thứ ba, xu hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Ở phạm vi quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế là thực hiện mở cửa kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế quốc gia gắn liền với kinh tế khu vực và thế giới, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động kinh tế quốc tế, vào hệ thống thương mại đa phương. Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng phát triển tất yếu, do yêu cầu của sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia; sự phát triển và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN; và sự tác động của xu thế toàn cầu hóa, xu thế mở cửa kinh tế, xu thế phát triển kinh tế tri thức, xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển trên thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay diễn ra dưới nhiều cấp độ, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu; vừa đem lại cơ hội mới vừa tạo ra thách thức đối với nền kinh tế của các quốc gia.
Những cơ hội mới bao gồm: (i) Thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội; (ii) Tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế; (iii) Nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, (iv) Tạo sức ép để các doanh nghiệp trong nước phải không ngừng cải tiến, nâng cao sức cạnh tranh; (v) Giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế của quốc gia trên trường quốc tế; (vi) Tạo cơ hội đi tắt đón đầu cho các quốc gia đang phát triển.
Song, bên cạnh đó cũng có những thách thức, đó là: (i) Cạnh tranh ngày càng gay gắt có thể khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản; (ii) Gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới khiến nền kinh tế trong nước dễ bị tổn thương trước những biến động của thế giới; (iii) Tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước và phức tạp đối với việc duy trì an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển.
Thứ tư, xu hướng chuyển dịch trọng tâm kinh tế thế giới sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Theo đánh giá của Chủ tịch Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Haruhiko Kuroda, các nền kinh tế châu Á đang phát triển đã đi đầu trong việc đưa thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và trọng tâm kinh tế thế giới có vẻ đang chuyển dần tới Châu Á-Thái Bình Dương. Dự báo của công ty Goldman Sachs, một ngân hàng đầu tư đa quốc gia có trụ sở chính tại Hoa Kỳ, cũng chỉ ra rằng trọng tâm kinh tế thế giới có thể nhanh chóng chuyển dịch sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ vào năm
2027. Đến năm 2050, 4 quốc gia châu Á và 8 quốc gia ven bờ Thái Bình Dương sẽ nằm trong danh sách những nền kinh tế hàng đầu thế giới. Nền kinh tế Đông Á lúc đó sẽ vượt xa Bắc Mỹ và châu Âu.
Xét về vị trí địa lý, khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp giáp với nhiều đại dương, trong đó Thái Bình Dương là “cửa ngõ” nối liền Hoa Kỳ với thế giới;
là khu vực có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn; dân số chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới. Xét về kinh tế, sau những tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu năm 2008, châu Á - Thái Bình Dương cũng là khu vực phục hồi nhanh nhất và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất. Trong bối cảnh khủng hoảng nợ công tại Mỹ và châu Âu cũng như nguy cơ suy thoái trở lại của kinh tế thế giới, các nền kinh tế châu Á vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khả quan. Sự tăng trưởng chung của khu vực này được dự báo vượt tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thế giới nhờ nhu cầu nội địa và thương mại nội khối tăng. Đây là một trong những khu vực kinh tế phát triển năng động nhất và có thị trường mới nổi lớn nhất thế giới. Hiện nay, xuất khẩu ở khu vực này chiếm 30% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, dự trữ ngoại hối chiếm 2/3, quy mô kinh tế chiếm hơn một nửa.
Tuy nhiên, khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng sẽ phải đối mặt với không ít thách thức trên con đường tiến tới kỷ nguyên chuyển dịch trọng tâm kinh tế, mà một trong những thách thức cơ bản là duy trì tốc độ phục hồi và tăng trưởng kinh tế bền vững trong bối cảnh kinh tế toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Để làm được điều này, đòi hỏi khu vực phải cấu trúc lại mô hình tăng trưởng để phát triển tốt hơn nhờ vào tiêu dùng nội địa và không phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và nguồn vốn từ bên ngoài. Bên cạnh đó, cũng có những thách thức khác mà khu vực phải giải quyết, đó là vấn đề tranh giành ảnh hưởng ở khu vực giữa các cường quốc, cạnh tranh tài nguyên thiên nhiên, lương thực, an ninh, đói nghèo…
Thứ năm, xu hướng đẩy mạnh cải cách và đổi mới nền kinh tế thế giới Sự phát triển với cường độ ngày càng lớn và trình độ ngày càng cao của khoa học công nghệ đã thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu các ngành kinh tế của các quốc gia theo hướng tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao và các ngành dịch vụ. Bên cạnh đó, sự hình thành và phát triển các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu cũng góp phần tạo ra những thay đổi căn bản, từ tư duy phát triển, tư duy kinh tế, đến nội hàm, hình thái và cách thức quản trị các mối quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế. Trong bối cảnh này, việc xây dựng lại thể chế kinh tế toàn cầu cũng như cải cách và đổi mới nền kinh tế
của mỗi quốc gia được xem như một yêu cầu cấp bách nhằm thoả mãn những yêu cầu mới của sự phát triển sản xuất, và phù hợp với diễn biến về mặt kinh tế chính trị xã hội toàn cầu hiện nay.
Hiện nay, quá trình tái cấu trúc kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt tại khu vực châu Á. Lý giải cho xu hướng cải cách kinh tế đang phổ biến ở châu Á, một nguyên nhân cơ bản là do phần lớn các quốc gia châu Á vẫn đang trong quá trình phát triển và chưa đạt mức độ hoàn thiện, do đó cần tiếp tục cải cách để nâng cao khả năng của nền kinh tế. Đối với các nền kinh tế EU và Mỹ đã phát triển ở trình độ cao, những nỗ lực cải thiện nền kinh tế chủ yếu nhằm phục hồi nền kinh tế sau các cuộc khủng hoảng.
Xu hướng cải cách nền kinh tế hiện nay ở các quốc gia đang phát triển chủ yếu tập trung vào các vấn đề: khôi phục và nâng cao mức tăng trưởng kinh tế; cải thiện cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành có hàm lượng khoa học công nghệ cao, các ngành công nghiệp phục vụ cho xuất khẩu và các ngành dịch vụ; mở rộng và tăng cường vai trò của kinh tế tư nhân; tăng cường đầu tư cho nghiên cứu KHCN và áp dụng công nghệ mới vào quá trình sản xuất; đẩy mạnh mở cửa nền kinh tế với thế giới; thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế và đa dạng hóa thị trường; hạn chế vay nợ nước ngoài; cải cách hệ thống tài chính…
Đối với các quốc gia phát triển, phương hướng cải thiện nền kinh tế tập trung vào một số nội dung cơ bản sau: (i) Khôi phục lại tăng trưởng kinh tế; (ii) Tăng cường vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế, không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà có sự phối hợp xuyên quốc gia; (iii) Phát triển các tập đoàn xuyên quốc gia có ảnh hưởng lớn đến quan hệ kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia; (ix) Giải quyết hiệu quả các vấn đề kinh tế xã hội như việc làm, chính sách phúc lợi, giáo dục phổ cập, bảo vệ môi trường, an ninh năng lượng…
Thứ sáu, xu hướng tăng trưởng xanh nền kinh tế thế giới
Tại Hội nghị Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) tháng 11-2011 tại Ha-oai (Mỹ), các nhà lãnh đạo APEC đã thông qua Tuyên bố Hô-nô-lu-lu, trong đó, APEC xác định cần phải giải quyết các thách thức môi trường và kinh tế của khu vực bằng cách hướng đến nền kinh tế xanh, nâng cao an ninh năng lượng và tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Năm 2012, APEC đã phát triển danh mục hàng hóa môi trường (hàng hóa xanh) và tiến tới giảm thuế quan đối với các mặt hàng này vào cuối năm 2015. Sắp tới,
để thúc đẩy các mục tiêu tăng trưởng “xanh”, APEC sẽ thực hiện các biện pháp, như giảm 45% mức độ sử dụng năng lượng của APEC vào năm 2035 so với năm 2005, kết hợp các chiến lược phát triển về khí thải các-bon thấp vào các kế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Nội hàm của tăng trưởng “xanh” đã được nhiều tổ chức quốc tế đề cập.
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) định nghĩa: “Tăng trưởng
“xanh” là định hướng mới thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, nhằm bảo đảm nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống của chúng ta phụ thuộc vào, cho thế hệ này cũng như cho những thế hệ mai sau”. Ngân hàng thế giới (WB) lại cho rằng, “tăng trưởng “xanh” là quá trình tăng trưởng sử dụng tài nguyên hiệu quả, sạch hơn và tăng cường khả năng chống chịu mà không làm chậm quá trình này”.
Tuy nhiên, dù tiếp cận theo cách nào, nội dung của tăng trưởng xanh chủ yếu bao gồm các vấn đề: sản xuất và tiêu dùng bền vững; giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; xanh hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua phát triển công nghệ xanh, phát triển các ngành công nghiệp cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện pháp sản xuất sạch; xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững; bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên; cải tổ và áp dụng các công cụ kinh tế; xây dựng và thực hiện các chỉ số sinh thái.
Hiện nay, tăng trưởng “xanh” được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia của nhiều nước trên thế giới trong nỗ lực đạt được sự phát triển bền vững, với nhiều quốc gia đi tiên phong như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Hà Lan… Thực tiễn cho thấy, việc thúc đẩy tăng trưởng xanh tạo ra tiềm năng to lớn cho nhiều quốc gia để đạt được mục tiêu phát triển bền vững và giảm đói nghèo với tốc độ nhanh. Riêng đối với các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng “xanh” còn tạo đà cho bước “nhảy vọt” để phát triển kinh tế, bỏ qua cách tăng trưởng kinh tế theo kiểu “ô nhiễm trước, xử lý sau”.