Về thực thi chính sách tiền tệ

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 100 - 103)

ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG HỆ THỐNG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM 2015 VÀ CÁC DỰ BÁO 2016

2. Đánh giá hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2015 theo các mục tiêu

2.1. Về thực thi chính sách tiền tệ

Các mục tiêu chính sách tiền tệ năm 2015 về lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tín dụng, tổng phương tiện thanh toán nhìn chung đã được hoàn thành xuất sắc.

Hình 1. Kế hoạch và thực hiện

các mục tiêu chính sách tiền tệ chủ chốt năm 2015

Đơn vị: %

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Bảo Minh (2015), NHNN (2015)

Mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có nhiều diễn biễn phức tạp khó lường, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ của CSTT một cách chủ động, linh hoạt, đạt đa mục tiêu gồm: kiểm soát lạm phát, giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, điều hành tỷ giá linh hoạt nhằm hỗ trợ xuất khẩu nhưng đảm bảo ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố lòng tin vào VND, hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ thị trường tài chính phát triển. Do vậy, các mục tiêu lớn liên quan tới chính sách tiền tệ gồm lạm phát, tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng đều đạt vượt mức dự kiến. Với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, mức 17% là phù hợp với nhu cầu tăng trưởng kinh tế (dự kiến 1% tăng trưởng GDP cần 3%

tăng trưởng tín dụng hỗ trợ).

Với các chính sách hợp lý về lãi suất, các mức lãi suất điều hành của NHNN đang ổn định ở mức thấp nhất kể từ 2011. Lạm phát thấp kỷ lục trong hơn 10 năm trở lại đây và thị trường tiền tệ ổn định hơn giúp NHNN có dư địa để thực hiện CSTT linh hoạt hơn (Phạm Thế Anh, 2015).

Mặc dù chính sách tỷ giá của một số quốc gia lớn trên thế giới có sự biến động, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ vào giữa và cuối năm 2015, NHNN đã chủ động điều chỉnh tỷ giá ngay từ đầu năm với biên độ 2% và tăng lên 3%, bán ra dự trữ ngoại hối, giảm lãi suất huy động USD còn 0,25%/năm và 0%/năm vào cuối năm 2015. Do vậy, thị trường ngoại hối đã đạt được trạng thái ổn định, tâm lý được giải tỏa, thanh khoản cải thiện (NHNN, 2015).

Thị trường vàng tiếp tục được quản lý chặt chẽ, theo đúng lộ trình chống

“vàng hóa”, dư nợ cho vay bằng vàng của các TCTD đã giảm hơn 90% so với 2012. Toàn bộ rủi ro liên quan tới sự biến động giá vàng và tình trạng vàng hóa trong hệ thống các TCTD đã chấm dứt, giúp chuyển hóa nguồn lực bằng vàng sang VND để đưa vào sản xuất kinh doanh hoặc tăng tiết kiệm bằng VND (Trần Thọ Đạt, 2015). Điều này càng được hỗ trợ bởi sự suy giảm của thị trường vàng quốc tế.

Chính sách tín dụng cũng đã đạt được những thành tựu quan trọng. Năm 2015, tín dụng tăng trưởng tốt từ đầu năm, NHNN tạo điều kiện cho các TCTD mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn chất lượng, gắn kết với các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực, hỗ trợ kinh tế tăng trưởng tốt.

2.1.2. Hạn chế

Tuy vậy, việc thực thi CSTT của NHNN vẫn còn một số hạn chế như sau:

- NHNN vẫn đang áp dụng nhiều công cụ trực tiếp trong thực hiện các mục tiêu của CSTT, sự độc lập tương đối trong chính sách tiền tệ chưa thể hiện rõ.

Các công cụ gián tiếp như OMO, lãi suất tái chiết khấu ít được sử dụng hơn. Tuy vậy, đây cũng chính là xu hướng mà các NHTW trên thế giới hiện áp dụng, kể cả tại châu Âu và Mỹ, đặc biệt khi các công cụ truyền thống chưa phát huy tác dụng do lãi suất đã về tiệm cận 0 (Casu và các cộng sự, 2015). Với trình độ nền kinh tế còn kém phát triển như Việt Nam, việc sử dụng nhiều công cụ trực tiếp hơn gián tiếp là phù hợp.

- Về chính sách lãi suất: Mặc dù năm 2015, các công cụ trần lãi suất không trở thành điểm nóng, nhưng lãi suất cho vay chưa giảm được như kỳ vọng, và giảm thấp hơn lãi suất huy động. Mức lãi suất cho vay hiện tại năm 2015 ở mức 10-12%//năm. Lý do chính là (i) nhu cầu phát hành trái phiếu cao của Chính phủ hấp thụ mức vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế; (ii) các NHTM còn tương đối thận trọng sau “bão” nợ xấu, tính toán thêm mức độ rủi ro dự kiến, và các chi phí giao dịch cho khách hàng. Áp lực giảm lãi suất càng tăng khi lạm phát hiện ở mức rất thấp và giữ nguyên xu thế thấp trong năm 2016.

- Về chính sách ngoại hối: Mặc dù các chính sách ngoại hối hiện tại khá hiệu quả, nhưng vẫn có những tiềm ẩn rủi ro, chủ yếu do các yếu tố khách quan.

Fed có xu hướng tăng lãi suất, thâm hụt cán cân thương mại và quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam còn tương đối mỏng. Tâm lý găm giữ ngoại tệ của người dân vẫn còn. Đặc biệt, khi lãi suất huy động USD giảm xuống còn 0%, có thể nảy sinh tình trạng người dân rút ngoại tệ ra mà không bán lại cho TCTD. Những bất ổn trên thị trường quốc tế (hàng hóa tăng giá, chiến tranh tiền tệ…) có thể tạo ra áp lực không tốt về chính sách ngoại hối trong thời gian tới (Phạm Thế Anh, 2015).

Một phần của tài liệu Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2015, cơ hội và thách thức trước thềm hội nhập mới (Trang 100 - 103)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(764 trang)