Trong những năm gần đây, cấp ủy và chính quyền thành phố Hà Nội nói chung và huyện Thường Tín nói riêng đã quan tâm đến công tác cán bộ, thực tế thì năng lực của cán bộ công chức nhất là
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG QUANG TUNG
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Dương Quang Tung - Nguyên cán bộ Bộ Nội vụ Luận văn này được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, các thông tin,
số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học
Học viên
Uông Thị Khánh Ly
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn thạc sỹ, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến toàn thể quý Thầy giáo, Cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tham gia quản lý và dành thời gian quý báu của mình để truyền đạt những tri thức, kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại Học viện
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Nội vụ huyện Thường Tín, 29 đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Công chức Văn phòng - Thống kê các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Thường Tín đã cung cấp thông tin, số liệu, tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành Luận văn
Đặc biệt, tôi xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đến TS Dương Quang Tung –người đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng và sâu sắc cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Sau cùng tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong cuộc sống cũng như trong suốt quá trình công tác, học tập
Luận văn này được hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân, dù đã hết sức
cố gắng nhưng do điều kiện chủ quan, khách quan và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy giáo, Cô giáo
và các anh chị học viên, các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Uông Thị Khánh Ly
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Thống kê số lượng Công chức Văn phòng - Thống kê cấp
xã huyện Thường Tín năm 2019 45
Bảng 2.2 Thống kê trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của Công chức
Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín năm 2019 47
Bảng 2.3 Thống kê trình độ lý luận chính trị của Công chức Văn phòng -
Thống kê cấp xã huyện Thường Tín năm 2019 49
Bảng 2.4 Thống kê trình độ Quản lý Nhà nước của Công chức Văn phòng -
Thống kê cấp xã huyện Thường Tín năm 2019 50
Bảng 2.5 Thống kê trình độ Ngoại ngữ và trình độ tin học của Công chức
Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín năm 2019 51
Bảng 2.6 Thống kê kết quả đánh giá phân loại của Công chức Văn phòng -
Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín năm 2019 57
Trang 7MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ 10
1.1 Công chức cấp xã và công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 10
1.1.1 Tổng quan về công chức cấp xã 10
1.1.2 Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 17
1.1.2.1 Tổng quan về công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 17
1.1.2.2 Đặc điểm của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 18
1.1.2.3 Hoạt động công vụ của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 19
1.1.2.4 Vị trí, vai trò của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 20
1.2 Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 21
1.2.1 Một số khái niệm 21
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực 22
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 24
1.3.1 Các yếu tố cấu thành của năng lực Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 24
1.3.1.1 Về kiến thức 24
1.3.1.2 Kỹ năng trong thực hiện nhiệm vụ của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 25
1.3.1.3 Thái độ, hành vi 29
1.3.2 Kết quả thực thi công vụ 31
Trang 81.4 Các yếu tố tác động đến năng lực của Công chức Văn phòng -
Thống kê cấp xã 32
1.4.1 Các yếu tố khách quan: 32
1.4.1.1 Công tác tuyển dụng 32
1.4.1.2 Công tác bố trí, sử dụng công chức 33
1.4.1.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 34
1.4.1.4 Công tác quy hoạch 35
1.4.1.5 Công tác đánh giá công chức 35
1.4.1.6 Chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với công chức 35
1.4.1.7 Môi trường làm việc và văn hóa công sở 36
1.4.1.8 Phong cách người lãnh đạo quản lý 38
1.4.2 Các yếu tố chủ quan 38
1.4.2.1 Định hướng giá trị của cá nhân 38
1.4.2.2 Kinh nghiệm thực tiễn của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 39
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG -THỐNG KÊ CẤP XÃ Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 41
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 41
2.2 Thực trạng công chức Văn phòng - thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 43
2.2.1 Số lượng Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín 43
2.2.2 Cơ cấu Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 45
Trang 92.3 Thực trạng về năng lực Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 46
2.3.1 Về kiến thức Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 46
2.3.2 Về kỹ năng Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 52
2.3.3 Về thái độ Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 55
2.3.4 Về kết quả thực thi công vụ Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã 56
2.4 Đánh giá chung thực trạng năng lực thực thi công vụ của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 58
2.4.1 Những kết quả đạt được 58
2.4.2 Những hạn chế, bất cập 62
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 64
2.4.3.1 Nguyên nhân khách quan 64
2.4.3.2 Nguyên nhân chủ quan 66
Tiểu kết chương 2 70
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG - THỐNG KÊ CẤP XÃ Ở HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 72
3.1 Phương hướng nâng cao năng lực Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 72
3.1.1 Nâng cao năng lực Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo yêu cầu cải cách nền hành chính và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân 72
3.1.2 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội theo yêu cầu hướng tới bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại và phục vụ nhân dân 74
Trang 103.1.3 Nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trên cơ sở quán triệt đầy đủ các nguyên tắc của chế độ công vụ, công chức trong điều kiện đổi mới và
hội nhập quốc tế 83
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 86
3.2.1 Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 86
3.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 88
3.2.3 Thực hiện quy hoạch, tuyển dụng, luân chuyển công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 90
3.2.4 Đổi mới công tác khen thưởng và kỷ luật công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 92
3.2.5 Tăng cường quản lý, kiểm tra, đánh giá công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 93
3.2.6 Bảo đảm chế độ đãi ngộ đối với công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 100
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống chính quyền các cấp ở nước ta; bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở Trên thực tế, CBCC cấp xã phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở cơ sở Do đó, nếu đội ngũ CBCC sa sút về phẩm chất, không đủ năng lực công tác sẽ gây những hậu quả tiêu cực và nghiêm trọng về nhiều mặt đối với mỗi địa phương nói riêng và cả nước nói chung
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ CBCC nói chung và CBCC chính quyền cấp xã nói riêng Đây là nhân tố then chốt để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện thành công chương trình cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nông thôn mới, góp phần ổn định
hệ thống chính trị và chất lượng bộ máy nhà nước Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nhận định: “Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết sức phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” 1 Cũng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần
Trang 12đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó vơi nhân dân, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng
và cơ cấu hợp lý” 1 Chương trình tổng thể cải cách nền hành chính nhà nước đến năm 2020 cũng xác định, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC là một trong bảy chương trình hành động chiến lược góp phần xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả 12 Đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng nhấn mạnh cần phải “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Qua đó cần phải “rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực điều hành, quản lý nhà nước” 2 Có như thế mới tạo ra được đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới Trong đó, đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ CBCC hành chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng quản lý, vận hành bộ máy hành chính để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Công chức cấp xã trong đó có công chức Văn phòng – Thống kê là những người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân hàng ngày, giải đáp, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trực tiếp lắng nghe, giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên những kiến nghị, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân Vì vậy, năng lực của công chức cấp xã nói chung và năng lực công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở, có tác động đến sự nghiệp cách mạng và đổi mới của Đảng và Nhà nước
Trang 13Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của chính quyền cấp xã, nhiệm vụ trọng tâm và quan tâm hàng đầu là việc nâng cao năng lực đội ngũ công chức, đặc biệt là công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là bộ phận tham mưu giúp cho bộ máy chính quyền cấp xã về đối nội, đối ngoại
Trong những năm gần đây, cấp ủy và chính quyền thành phố Hà Nội nói chung và huyện Thường Tín nói riêng đã quan tâm đến công tác cán bộ, thực
tế thì năng lực của cán bộ công chức nhất là công chức Văn phòng – Thống
kê một số đơn vị còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ đặt
ra, làm cho hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực này còn có vấn
đề và làm cho người dân chưa hài lòng cao với chính quyền cấp xã Bên cạnh
đó, công chức Văn phòng –Thống kê cấp xã chuyên môn đã được đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn công tác
Để góp phần nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý
và thực tiễn cần phải được giải đáp thấu đáo, có cơ sở khoa học Vì vậy, việc
chọn và nghiên cứu đề tài: “Năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp
xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” là yêu cầu khách quan, cấp
thiết cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Năng lực công chức
Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”, cho
thấy các nhà khoa học tiếp cận theo nhiều cách và cấp độ khác nhau, cụ thể:
Nhóm thứ nhất, các nghiên cứu dưới cấp độ luận văn thạc sĩ như:
Luận văn của Nguyễn Thị Thu Nhuần (2012) về “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay” Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về năng lực, năng lực thực thi công vụ, những khái niệm về đội ngũ cán bộ chủ chốt,
Trang 14luận văn đã phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Từ đó đưa ra các kiến nghị, phương hướng và giải pháp cơ bản
Luận văn của Nguyễn Thành Vũ (2015) về “Năng lực công chức cấp xã
ở huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” Tác giả đã đưa ra ưu điểm, hạn chế của công chức cấp xã ở địa phương, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực của công chức cấp xã
Luận văn của Nguyễn Thị Thanh Trà (2016) về “Năng lực công chức phường, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” Tác giả đã đề cập những vấn
đề mang tính khái quát về công chức phường và năng lực thực hiện nhiệm vụ Phân tích thực trạng năng lực công chức phường để tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hạn chế về năng lực, từ đó chú trọng đến những giải pháp nâng cao năng lực của công chức phường
Nhóm thứ hai, các nghiên cứu theo từng nội dung cụ thể có các bài viết
đăng trên các tạp chí “Quản lý nhà nước”, từng bước làm rõ hơn về năng lực
và tầm quan trọng của công chức như:
- PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải (2011): “Một số vấn đề phát triển năng lực của cán bộ, công chức”, Tạp chí Tổ chức nhà nước số 1 Tác giả đã tập trung làm rõ lý luận về năng lực, cơ sở hình thành năng lực của cán bộ, công chức và đưa ra một số biện pháp để phát triển năng lực phù hợp với môi trường hành chính Nhà nước
- PGS.TS Ngô Thành Can (2012): “Chất lượng thực thi công vụ-Vấn đề then chốt của cải cách hành chính”, Nội san khoa Tổ chức và Quản lý nhân sự Học viện Hành chính, số 12 Tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công vụ của đội ngũ công chức như đổi mới quy trình tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức có cạnh tranh, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng
- Thạc sỹ Vũ Thúy Hiền (2016) “Xác định năng lực của công chức cấp
xã trong thực thi công vụ”, tạp chí Tổ chức Nhà nước (số 3) Tr17-19 Bài viết
Trang 15bàn đến năng lực công chức cấp xã, đưa ra được đặc điểm của công chức cấp
xã và những yêu cầu cần có về năng lực của công chức cấp xã bao gồm năng lực chung và năng lực riêng của công chức nhằm góp phần xây dựng bộ máy hành chính Nhà nước ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
- TS Nguyễn Thị Tâm (2011) “Một số kiến nghị về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức gắn với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay” Tác giả đã đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
Nhóm thứ ba, các nghiên cứu là các đề tài khoa học và sách chuyên khảo
như: Sách chuyên khảo Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên) về “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Tác giả đã phân tích, lý giải hệ thống hóa các căn
cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, luận văn, sách chuyên khảo đã tiếp cận theo từng chuyên ngành,
ở nhiều nội dung cụ thể khác nhau để giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau Trong chừng mực nhất định, các nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở Việt Nam trong tình hình mới Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện, chuyên biệt và có hệ thống về “Năng lực công chức Văn phòng - Thống
kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” Luận văn là công trình
Trang 16khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống
về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội dưới góc độ của khoa học quản lý công Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hy vọng sẽ góp phần khắc phục trình trạng khuyết thiếu trên đây
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực công chức cấp xã và phân tích, đánh giá thực trạng năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp
xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, luận văn hướng tới việc đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có ba nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực công chức cấp xã thông
qua việc phân tích những quan niệm khác nhau về công chức cấp xã và năng lực công chức cấp xã để rút ra khái niệm năng lực công chức cấp xã; chỉ rõ đặc điểm, vị trí và vai trò của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã; xác định các yếu tố cấu thành năng lực công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Thứ hai, phân tích thực trạng năng lực công chức Văn phòng - Thống kê
cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trên cơ sở những yếu tố cấu thành năng lực công chức được xác định ở Chương 1, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế và liên hệ thực trạng các yếu tố ảnh hưởng để xác định nguyên nhân của những hạn chế về công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Trang 17Thứ ba, Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Là năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Dưới góc độ quản lý công về công chức, công vụ, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội từ năm 2019 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đồng thời, luận văn kế thừa, phát triển những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu về nâng cao năng lực công chức cấp xã của các công trình khoa học đã nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh
và dự báo để chọn lọc tri thức khoa học phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của
luận văn này
Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc hệ thống hóa các vấn đề
lý luận chung về năng lực công chức cấp xã, làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm, vị trí và vai trò của công chức cấp xã; các yếu tố cấu thành năng lực công chức cấp xã và các yếu tố ảnh hưởng đến
năng lực công chức cấp xã
Trang 18Phương pháp phân tích được sử dụng trên cơ sở hệ thống lý luận chung năng lực công chức cấp xã vào việc luận giải các nội dung cụ thể về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
; phương pháp thống kê và so sánh được sử dụng để nhận diện năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong từng giai đoạn của quá trình xây dựng và phát triển, giúp việc phân tích vấn đề
có tính hệ thống và toàn diện Trên cơ sở đó, việc đánh giá, rút ra những kết luận về thực trạng năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội bảo đảm tính khách quan và khoa học
Phương pháp dự báo được sử dụng nhằm tích hợp các cơ sở dữ liệu khoa học nhằm nhận diện quy luật phát triển từ quá khứ, hiện tại, tương lai về năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã huyện Thường Tín, thành phố
Hà Nội để đưa ra những nhận định về xu hướng vận động đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Trên cơ sơ đó, luận văn đề xuất những giải pháp phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào lý luận quản lý công; góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò quan trọng của việc nâng cao năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã nói chung, huyện Thường Tín, thành phố
Hà Nội nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong hoạch định chính sách, pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã; về cải cách chế độ công vụ, công
Trang 19chức và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã; trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; các khóa bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã nói chung và công chức Văn phòng -
Thống kê cấp xã nói riêng
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương, bao gồm: Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về năng lực công chức cấp xã và năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Chương 2: Thực trạng năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp
xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực công chức
Văn phòng - Thống kê cấp xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Trang 20- Khái niệm về công chức:
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Đây là khái niệm phản ánh đặc sắc riêng của nền công vụ và tổ chức
bộ máy nhà nước ở mỗi quốc gia Ở các quốc gia tồn tại nhiều Đảng phái chính trị, công chức chỉ được hiểu là những người giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước Còn ở những nước chỉ có duy nhất một Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức được mở rộng hơn, ngoài những đối tượng trên còn có những người làm việc trong tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội
* Công chức cấp xã:
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển
của nền hành chính nhà nước, có thể đi qua nhiều giai đoạn khác nhau:
Theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa: “Công chức là những công dân Việt Nam được chính
quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” [17; tr 2] Như vậy, phạm vi
công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm những người làm
trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát,…
Trang 21Sau một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ
20), ở nước ta gần như “không tồn tại khái niệm công chức” mà thay vào đó
là khái niệm “Cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước” chung chung không
phân biệt công chức và viên chức” [1; tr 65]
Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan của tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cho phù hợp với thông lệ quốc tế, thuật ngữ và khái niệm này được quy định tại Nghị định số
169/HĐBT ngày 25/5/1991 như sau: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng
và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước
ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức” [13; tr 1]
Tuy nhiên, tại Điều 2 Nghị định này quy định những đối tượng là công chức
và không phải là công chức thì lại có một số đối tượng như: công an, những người làm công tác nghiên cứu khoa học, nhà báo, nghệ sỹ, giáo viên,… chưa được xếp vào loại nào
Tháng 02 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành
Pháp lệnh Cán bộ, công chức Điều 1 của Pháp lệnh quy định: “Cán bộ công
chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [18; tr 2] Quy định này khẳng định
quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ cán bộ công chức trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân biệt
rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Cán bộ công chức ngày 13/11/2008
Khoản 2, Điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam,
được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương,
Trang 22cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ
sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Tổ chức chính trị -
xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Như vậy, công chức là những chức danh chuyên môn được tuyển dụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức năm 2008
“… Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Công chức cấp xã làm công tác
chuyên môn thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về lĩnh vực công tác được phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao
Như vậy, ở Việt Nam hiện nay công chức cấp xã đã được xác định rõ ràng về địa vị pháp lý là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
* Đặc điểm công chức cấp xã:
Từ quan niệm về công chức cấp xã trên đây, có thể nhận thấy công chức cấp xã cũng có những đặc điểm pháp luật chung là: Phải là công dân Việt
Trang 23Nam; Được hình thành do tuyển dụng, việc tuyển dụng có thể thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển; Được giao giữ một chức danh, chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã; Được xác định biên chế thuộc UBND cấp xã; Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức cấp xã phải có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể được quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ
về công chức cấp xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về chức danh, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm
vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xã phải có trình độ chuyên môn phù hợp từ trung cấp trở lên Đối với các xã thuộc khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận thì UBND Tỉnh, Thành phố quyết định giảm một cấp về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn đối với công chức làm việc tại xã; Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước Như vậy, công chức cấp xã
đã được xác định bình đẳng như công chức các cơ quan ở các cấp trên, được hưởng lương theo ngạch, bậc thống nhất
Việc thực thi trách nhiệm, nhiệm vụ của công chức được xác định là hoạt động công vụ
Ngoài những đặc điểm pháp luật như trên, công chức cấp xã có một số đặc điểm riêng: Đa số công chức cấp xã hoạt động nghề nghiệp không tách rời hoạt động sản xuất kinh tế nông nghiệp nông thôn Do tính chất của kinh
tế nông thôn, nên hoạt động nghề nghiệp của công chức cấp xã không hoàn
toàn mang tính “công chức chuyên nghiệp” mà nó còn mang tính nông
nghiệp, nông thôn Một số mặt hoạt động bị chi phối khá lớn bởi tính chất nông nghiệp, nông thôn như: bị ảnh hưởng bởi văn hóa nông thôn, nông dân, tính mùa vụ, cả nể, tùy tiện,…
Trang 24Về cơ cấu công chức cấp xã: theo quy định của Luật Cán bộ, công chức
2008 và các văn bản quy định có liên quan thì công chức cấp xã bao gồm 07 chức danh chuyên môn sau: Công chức Văn phòng - thống kê; Công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; Công chức Tài chính - Kế toán; Công chức Tư pháp - Hộ tịch; Công chức Văn hóa - Xã hội; Chỉ huy trưởng Quân sự; Trưởng Công an xã
Hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã rất đa dạng và phức tạp Môi trường hoạt động tiếp xúc với các đối tượng rất rộng, từ những việc đơn giản nhất như cấp giấy khai sinh, khai tử, cho đến những việc quan trọng như việc thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, việc thực hiện các chính sách nhà nước cho mục tiêu phát triển các loại hình kinh tế ở địa phương cũng đều cần đến vai trò của công chức chuyên môn
Từ những phân tích trên, có thể nhận diện về những đặc điểm riêng của công chức cấp xã, một bộ phận của công chức nước ta, có một số đặc điểm:
Thứ nhất, công chức cấp xã là chủ thể thực thi công vụ Việc thực thi
công vụ phải theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của UBND xã và tuân theo pháp luật
Thứ hai, công chức cấp xã là người gần dân nhất Họ là những người
trực tiếp làm với dân, góp phần đưa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước vào thực tiễn cuộc sống Đồng thời họ là những người tham mưu cho cơ quan chức năng để các cơ quan này ban hành các chính sách phù hợp với thực tế
Thứ ba, hoạt động quản lý của công chức cấp xã là hoạt động đa dạng và
phức tạp nên đòi hỏi đội ngũ công chức cấp xã phải có phẩm chất, trình độ, kỹ năng và thái độ hành vi đáp ứng yêu cầu thực thi nhiệm vụ
Thứ tư, Mức độ chuyên môn hóa của công chức cấp xã thấp, hầu hết
công chức cấp xã phải đảm nhiệm một số lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ rất
Trang 25khác nhau Điều đó gây nhiều khó khăn cho việc bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cho công chức cấp xã và cũng là một nguyên nhân quan trọng của những hạn chế trong thực thi công vụ của công chức cấp xã
* Nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm của công chức cấp xã theo quy đinh của pháp luật hiện hành:
- Nghĩa vụ của công chức cấp xã:
Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia;
Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân;
Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân;
Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn được giao;
Có ý thức tổ chức kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của
cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi
vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định
đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra
Trang 26quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình;
Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền hạn và trách nhiệm của công chức cấp xã:
Công chức xã là công chức làm công tác chuyên môn thuộc UBND xã;
có chức năng tham mưu giúp UBND xã quản lý Nhà nước (QLNN) về lĩnh vực công tác (Tài chính, Tư pháp, Địa chính, Văn phòng, Văn hoá - Xã hội, Công an, Quân sự) và đồng thời là người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ do Chủ tịch UBND xã giao;
Tham mưu đề xuất các biện pháp, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong QLNN đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội (KT-XH) theo quy định của pháp luật;
Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của QLNN và cung ứng dịch vụ công trong ngành, lĩnh vực mình đảm nhiệm theo quy định của pháp luật
* Vị trí, vai trò của công chức cấp xã
Công chức cấp xã là những người trực tiếp thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước ở xã trên 2 phương diện:
Thứ nhất, là người tham mưu, giúp việc cho cán bộ chính quyền trong
việc thực hiện chức năng QLNN ở cơ sở Công chức cấp xã là lực lượng
“nòng cốt” trong quản lý và tổ chức công việc ở xã Thông qua việc trực tiếp
tiếp xúc làm việc với nhân dân, công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trên quan hệ hành chính, giải quyết công việc Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Vì vậy, cũng như vị trí của
Trang 27cán bộ, công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Hoạt động công vụ của công chức cấp xã góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả QLNN của chính quyền cấp xã
Thứ hai, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực
tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật Họ là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Thông qua hoạt động của công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền làm chủ của mình
1.1.2 Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
1.1.2.1 Tổng quan về công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định:
- Công chức chuyên môn thuộc UBND xã là những người thực hiện công tác tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên
- Công chức chuyên môn thuộc UBND xã chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức và công tác của UBND xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp
vụ của cơ quan QLNN về ngành, lĩnh vực cấp trên
- Việc tổ chức công chức chuyên môn thuộc UBND xã phải bảo đảm phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo và điều kiện, tình hình phát triển KT-XH của từng địa phương; bảo đảm tinh gọn, hợp lý, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực từ trung ương đến cơ sở; không trùng lặp với nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước cấp trên đặt tại địa bàn
Trang 28Như vậy, có thể hiểu: Là một trong những chức danh của công chức cấp
xã và là công dân Việt nam trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, được tuyển dụng theo đúng quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào ngạch, bậc cụ thể và làm việc tại UBND cấp xã
1.1.2.2 Đặc điểm của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Xuất phát từ đặc thù riêng hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội Công chức Văn phòng
- Thống kê cấp xã là một bộ phận công chức, nguồn nhân lực quan trọng trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo Theo quy định hiện hành ở nước
ta, công chức có thể làm việc trong các cơ quan khác nhau thuộc hệ thống chính trị và có sự luân chuyển, bố trí giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã cũng có những đặc điểm chung giống nhau như công chức các cơ quan hành chính Nhà nước khác, đồng thời cũng có đặc điểm riêng biệt gắn liền với vai trò vị trí công việc ở cấp mình
Những đặc điểm của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã nói riêng
và công chức Nhà nước nói chung bao gồm:
Thứ nhất, là những người trực tiếp thực thi công vụ nhằm thực hiện chức năng QLNN, thực hiện chức năng chấp hành và điều hành của cơ quan hành chính Nhà nước, hoạt động của công chức hành chính là nhằm thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống, nhằm bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn tài sản chung và ngân sách Nhà nước, phát triển và ổn định KT-XH, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Thứ hai, công chức hoạt động nhân danh Nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước, hoạt động của họ được bảo đảm Nhà nước Hoạt động của họ được diễn ra thường xuyên, liên tục và mang tính phức tạp Được trao quyền
Trang 29thực thi công vụ, đồng thời họ có bổn phận phục vụ xã hội, công dân và các tổ chức, họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình
Thứ ba, được trả lương từ ngân sách Nhà nước, tùy theo ngạch, bậc và vị trí việc làm, công chức được hưởng tiền lương tương ứng khi tham gia hoạt động công vụ, đồng thời được Nhà nước đảm bảo điều kiện cần thiết để thực thi công vụ
1.1.2.3 Hoạt động công vụ của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Thông tư số: 06/2012/TT-BNV, ngày 30/12/2012 của Bộ nội vụ quy định nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã như sau:
Thứ nhất, Tham mưu, giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Thứ hai, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, lịch làm việc đình kỳ và đột xuất của Hội đồng nhân dân (HĐND), Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã;
- Tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của UBND cấp xã, thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” tại UBND cấp xã, nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và chuyển đến Thường trực HĐN, UBND xem xét, giải quyết theo thẩm quyền, tổng hợp, theo dõi và báo cáo việc thực hiện quy chế làm việc của UBND cấp xã và thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật;
- Chủ trì, phối hợp với công chức khác xây dựng và theo dõi việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH, tổng hợp, thống kê, báo cáo tình hình phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các hoạt động KT-XH trên địa bàn cấp xã, dự thảo các văn bản theo yêu cầu của HĐND, Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch UBND cấp xã
Trang 30Thứ ba, Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao
1.1.2.4 Vị trí, vai trò của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã tham mưu giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và thanh niên trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Vì vậy, Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã có vai trò vô cùng quan trọng, được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Về chấp hành hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên Công chức này là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo, điều hành, phối hợp hoạt động của các bộ phận chuyên môn trong UBND cấp xã khi thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật và chính sách của Nhà nước tại địa phương Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã là người gương mẫu chấp hành trước và phổ biến kịp thời những quy định mới của Nhà nước, của cơ quan quản lý cấp trên xuống cơ sở Giải thích những thắc mắc, băn khoăn của cơ sở, của nhân dân, làm cho nhân dân thông suốt và tích cực thực hiện đường lối, pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước Đồng thời, là người tập hợp những vướng mắc trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống để xử lý giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời phản ánh với cơ quan
có thẩm quyền để giải quyết Có thể nhận thấy đây là một công việc nặng nề đối với công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã vì hiện nay nước ta đang từng bước hình thành và hoàn thiện hệ thống các thể chế về quản lý Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng… nhằm đảm bảo dân chủ,
tự do của công dân và thực hiện “ dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” Mặt khác, cấp xã là cấp gắn kết tất cả hoạt động của các cơ quan QLNN cấp tỉnh và Trung ương triển khai xuống cơ sở và nhân dân đều qua cấp xã Như vậy, có nghĩa công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã là cấp gần gũi với nhân dân
Trang 31nhất Vì vậy, việc gương mẫu của đội ngũ công chức Văn phòng - Thống kê thuộc UBND xã càng làm cho uy tín Nhà nước ta tăng lên Việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước kịp thời làm tăng tính hiệu quả và hiệu lực của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước
Để thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn và giải quyết các yêu cầu của nhân dân đòi hỏi mỗi công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã phảo thường xuyên gần gũi với nhân dân nắm bắt kịp thời những vướng mắc, khó khăn, phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ; báo cáo cho các đơn
vị liên quan có biện pháp khắc phục kịp thời và chuyển hóa những nguyện vọng của đông đảo nhân dân thành các quy định của Nhà nước cũng như văn bản quy phạm pháp luật
1.2 Năng lực của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
1.2.1 Một số khái niệm
Năng lực: Khi nói đến năng lực là nói đến khả năng đạt được kết quả trong hoạt động nào đó Muốn hoạt động có kết quả thì cá nhân phải có những phẩm chất tâm lý nhất định phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó Nếu thuộc những tâm lý không phù hợp với yêu cầu của hoạt động đó thì coi như không
có năng lực
Trong các từ điển tiếng Việt thì năng lực được hiểu là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn sàng có thể thực hiện một hoạt động nào đó‟‟, hoặc theo một nghĩa khác, năng lực là “phẩm chất, tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động nào đó với chất lượng cao‟‟ Năng lực vừa là cái “tự nhiên‟‟ sẵn có, vừa là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn của con người Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Năng lực con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác, do luyện tập mà có‟‟
Trang 32Trong khoa học hành chính, các nhà nghiên cứu cho rằng năng lực là
“khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất‟‟
Từ những cách tiếp cận thuật ngữ năng lực nói trên, có thể hiểu năng lực thực hiện công việc là sự tổng hợp của kiến thức, kỹ năng, thái độ Người có năng lực về một hoạt động nào đó, trước hết họ cần có một kiến thức chuyên môn nhất định để họ có những hiểu biết về công việc họ đang thực hiện
Năng lực cần có khác với trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức cần có để có thể đảm nhiệm một vị trí việc làm chứ không liên quan trực tiếp đến hoàn cảnh làm việc cụ thể nào đó Ngoài kiến thức, cần có những kỹ năng làm việc khác để tổ chức thực hiện công việc theo một quy trình nhất định Kiến thức, kỹ năng cho phép một người biết làm việc và đem lại hiệu quả
Tóm lại: Năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một công chức Văn phòng - Thống kê thực hiện tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực
Là tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển Các yếu tố cấu thành năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức khi thực thi công vụ
Là tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển
Trang 33Các yếu tố cấu thành năng lực công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức khi thực thi công vụ
- Kiến thức: Kiến thức có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng và thông qua tích lũy từ thực tế được phản ánh thông qua trình độ đào tạo và kinh nghiệm công tác Như vậy, trình độ là mức độ về sự hiểu biết, được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn bằng, chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trình học tập Tiêu chuẩn về trình độ thường được sử dụng để xếp công chức hành chính vào hệ thống ngạch, bậc Trình độ công chức thường được đánh giá qua các tiêu chí cơ bản như: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ và tin học, trình độ chính trị và trình độ QLNN
- Kinh nghiệm công tác: là sự trải nghiệm, từng trải hay sự hiểu biết, thông thạo do đã từng trải về lĩnh vực, công việc, đã thấy được kết quả khiến cho có thể phát huy được mặt tốt và khắc phục mặt chưa tốt trong quá trình công tác
- Kỹ năng nghiệp vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã Kỹ năng là khả năng của một người biết vận dụng kiến thức và kinh nghiệm để hoàn thành tốt công việc, là khả năng làm tốt một công việc, là cách thức đặc biệt để thực hiện một công việc nào đó
Kỹ năng nghiệp vụ là tổng hợp những cách thức, phương thức, biện pháp
tổ chức và thực hiện giải quyết công việc, thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vững nghiệp vụ trên những lĩnh vực nhất định
- Thái độ thực thi công vụ: Phong cách làm việc và thái độ ứng xử trong giao tiếp của đội ngũ công chức tại công sở đều ảnh hưởng đến hình ảnh của
cơ quan, đơn vị, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc và hiệu lực QLNN Văn hóa công sở trong cơ quan được hiểu là những quy tắc, chuẩn mực ứng xử
Trang 34giữa công chức với tổ chức, công dân và giữa công chức với nhau, nhằm phát huy tối đa năng lực để đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động công vụ Văn hóa công sở còn là biểu hiện của một xã hội văn minh, nề nếp, kỷ cương,
ở đó mỗi công chức đều thấy rõ trách nhiệm của mình và luôn chủ động, tự giác, tích cực làm tròn nhiệm vụ, hoàn thành tốt phần công việc được giao
1.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Năng lực công chức nói chung và công chức Văn phòng – Thống kế cấp
xã nói riêng được đánh giá thông qua hai nhóm tiêu chí: Các yếu tố cấu thành năng lực và kết quả thực thi công vụ
1.3.1 Các yếu tố cấu thành của năng lực Công chức Văn phòng - Thống
kê cấp xã
1.3.1.1 Về kiến thức
Kiến thức được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Trong nhiều cách tiếp cận, kiến thức có được thông qua đào tạo, bồi dưỡng, được tích lũy từ thực tế Cơ quan hành chính nhà nước sử dụng công chức để thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
Do vậy, đòi hỏi người công chức ngoài kiến thức chuyên môn nghiệp vụ còn phải có kiến thức về Quản lý hành chính nhà nước, kiến thức về xã hội, kiến thức về văn hóa Bởi vì trong quá trình giải quyết công việc đòi hỏi người công chức phải linh hoạt, sáng tạo trong quá trình xử lý vận dụng những kiến thức chuyên môn, kiến thức được tích lũy từ thực tế Muốn vậy đòi hỏi mỗi công chức phải có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ quản lý nhà nước Những kiến thức này là nền tảng để tích lũy kiến thức do
đó bản thân của mỗi công chức có được kiến thức và hiểu biết khác nhau Kiến thức đòi hỏi có thể làm được một việc nhất định và công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã cũng tương tự cần nắm vững và vận dụng tốt kiến
Trang 35thức về tài liệu lưu trữ, công tác lưu trữ, kiến thức về nhiệm vụ thống kê, phương pháp thống kê, kiến thức về quản trị văn phòng, nội dung và các yêu cầu về công tác văn thư Tuy nhiên, cũng giống như các yếu tố khác của năng lực, kiến thức, kỹ năng hay các tiêu chí khác đều do Nhà nước quy định Tùy theo sự phân cấp để có thể có những quy định cụ thể Tại Quyết định số 20/2014/QĐ-UBND ngày 16/5/2014 của UBND thành phố Hà Nội về quy chế tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội thì đối với chức danh Văn phòng - Thống kê cấp xã phải có trình độ đào tạo chuyên môn từ đại học trở lên, ngành hoặc chuyên ngành: hành chính, luật, quản trị văn phòng, văn thư - lưu trữ, công nghệ thông tin, thống kê, thống kê kinh tế - xã hội
1.3.1.2 Kỹ năng trong thực hiện nhiệm vụ của Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã
Kỹ năng được hiểu là khả năng vận dụng thuần thục những kiến thức nhận được tích lũy được vào thực tế để tiến hành có hiệu quả một hoạt động nào đó Đối với công chức, kỹ năng giải quyết công việc là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng của công chức, phản ánh tính chuyên nghiệp của công chức trong thực thi công vụ Thực tế chỉ một số ít kỹ năng nghiệp vụ của con người được hình thành trong quá trình học tập tại trường lớp, phần lớn kỹ năng được hình thành trong quá trình công tác, giải quyết công việc, tự rút kinh nghiệm
Tùy theo loại công việc khác nhau mà đòi hỏi mức độ thành thạo trên những lĩnh vực khác nhau của mỗi công chức khi vận dụng nó vào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình
Xuất phát từ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã, có thể đánh giá năng lực thực thi công vụ của đội ngũ này qua một số kỹ năng cơ bản sau:
Trang 36- Kỹ năng tham mưu: Đây là kỹ năng đề xuất với lãnh đạo ban hành và
tổ chức thực hiện các quyết định quản lý hành chính Nhà nước, lĩnh vực được phân công phụ trách đảm bảo hợp pháp Kỹ năng tham mưu thể hiện năng lực của công chức trong thực thi công vụ, tham mưu đúng, kịp thời sẽ đạt kết quả cao trong công việc Bởi vậy, nếu tham mưu không chính xác, chưa kịp thời
có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đối tượng, làm giảm sút uy tín của cơ quan Để công tác tham mưu đạt kết quả, công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã cần có những kỹ năng như áp dụng pháp luật, kỹ năng nhận diện và phân tích vấn đề
- Kỹ năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là một hoạt động quan trọng trong việc thực thi công vụ của công chức Việc lập kế hoạch sẽ giúp công chức xác định rõ mục tiêu cần phải đạt và biện pháp, cách thức để thực hiện mục tiêu, lộ trình thực hiện để sắp xếp thời gian, bố trí phương tiện, nhân lực, kinh phí Công chức có thể lập kế hoạch dài hạn hoặc ngắn hạn tùy theo tính chất công việc Kế hoạch càng cụ thể, chi tiết thì việc thực hiện các bước càng thuận lợi
- Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và soạn thảo văn bản: Công nghệ thông tin hiện nay được ứng dụng ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong thực thi công vụ là một yêu cầu bắt buộc đối với công chức Đặc biệt đối với công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã, việc áp dụng công nghệ thông tin trong soạn thảo văn bản, lưu giữ thông tin, xử lý và tích hợp dữ liệu đối với những phần mềm chuyên ngành là những nghiệp vụ không thể thiếu
- Kỹ năng phối hợp trong công tác: Đây là kỹ năng quan trọng cần có của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã bởi trong quá trình thực thi nhiệm vụ cần có sự phối hợp với tất cả các cơ quan, đơn vị, các bộ phận chuyên môn và trên địa bàn Nếu phối hợp tốt, việc thu thập thông tin liên
Trang 37quan sẽ có nhiều thuận lợi Thực tế, công tác phối hợp tưởng như đơn giản nhưng cũng có lúc, có việc tương đối phức tạp, nếu không có sự thống nhất giữa các cá nhân trong cơ quan hoặc giữa các cơ quan sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ Nếu không biết dung hòa các mối quan hệ dễ dẫn đến mất đoàn kết với một số cơ quan, đơn vị khác
- Kỹ năng giao tiếp: Trong thực thi công vụ, kỹ năng giao tiếp có vai trò quan trọng Đối tượng giao tiếp của công chức Văn phòng - Thống kê cấp
xã tương đối rộng, có thể là người dân đến liên hệ công tác hay là cấp trên, đồng nghiệp, các tổ chức Đối với mỗi đối tượng giao tiếp, cần có cách thức
và kỹ năng riêng Đặc biệt, khi giao tiếp với công dân cần thể hiện sự chuẩn mực trong giao tiếp công vụ để tạo sự tin cậy của công dân khi tiếp xúc, nâng cao uy tín của công chức và tổ chức trong quá trình cung ứng dịch vụ công
Để nâng cao hiệu quả giao tiếp, công chức cần có các kỹ năng như: kỹ năng diễn đạt, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết phục Nếu công chức không vận dụng tốt kỹ năng thì rất khó khăn trong quá trình giải quyết công việc và dễ xảy ra xung đột
- Kỹ năng thu thập thông tin và xử lý thông tin: Thu thập thông tin là quá trình xác định nhu cầu thông tin, nguồn thông tin, thực hiện tập hợp thông tin theo yêu cầu nhằm đáp ứng mục tiêu đã được định trước
Xử lý thông tin là hoạt động phân tích, phân loại thông tin theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp giải quyết công việc
Thu thập và xử lý thông tin có vai trò quan trọng trong việc lập kế hoạch
và ra quyết định, trong công tác tổ chức, trong lãnh đạo, quản lý và trong kiểm tra, giám sát Kỹ năng thu thập thông tin bao gồm: Xác định nhu cầu bảo đảm thông tin; Xác định các kênh và nguồn thông tin; Thiết lập hình thức và chế độ thu thập thông tin (đọc và ghi chép; sao chụp một phần hoặc toàn bộ văn bản,
Trang 38tài liệu, xây dựng bảng hỏi, câu hỏi phỏng vấn, thảo luận nhóm để thu thập thông tin, thống kê số liệu, tính tỷ lệ, tính xác suất, quan sát, so sánh và đối chiếu thông tin) Kỹ năng xử lý thông tin bao gồm: kỹ năng xử lý thông tin tức thời; kỹ năng xử lý thông tin theo quy trình; tuân thủ các nguyên tắc xử lý thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý thông tin
- Kỹ năng làm việc nhóm: Nhóm là tập hợp các thành viên có số lượng
từ hai người trở lên, có giao tiếp trực diện, có kỹ năng bổ sung cho nhau, có
sự chia sẻ mối quan tâm hoặc mục đích chung Để làm việc nhóm có hiệu quả, mỗi cá nhân phải hình thành một số kỹ năng như: Lắng nghe, chất vấn, thuyết phục, tôn trọng, trợ giúp, sẻ chia, phối hợp
Tóm lại, đối với công chức cần phải có kỹ năng làm việc nhóm tốt hơn Bởi vì, trong quá trình giải quyết công việc thường có sự liên quan tới các bộ phận khác nhau Do vậy, kỹ năng này được phát huy thì công tác phối hợp giữa các công chức, giữa các phòng ban chuyên môn với nhau sẽ được tốt hơn, hạn chế được việc đùn đẩy, né tránh trong giải quyết công việc
- Kỹ năng giải quyết công việc: Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã thường đảm nhiệm khối lượng công việc lớn Do vậy, kỹ năng giải quyết công việc sẽ giúp họ giải quyết công việc một cách khoa học Để giải quyết công việc có hiệu quả, công chức cần có kỹ năng thu thập và xử lý thông tin,
kỹ năng phân tích, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng quản lý thời gian Tích cực phối hợp với các tập thể và cá nhân có liên quan để hoàn thành công việc theo quy định
Tất cả những kỹ năng trên đều có vai trò quan trọng đối với công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Các kỹ năng có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ trợ cho nhau Bởi vậy, mỗi công chức không ngừng rèn luyện để tiến tới thành thạo tất cả những kỹ năng nêu trên
Trang 39Do vậy, đối với công chức cấp xã nói chung và công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã nói riêng cần sử dụng thành thạo tất cả những kỹ năng này trong thực hiện nhiệm vụ của mình
1.3.1.3 Thái độ, hành vi
Thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động trước một vấn
đề hay một tình huống cụ thể Thái độ của công chức là sự thích hay không thích, đồng tình, phản đối hay thờ ơ trước một sự việc, hiện tượng hoặc con người Thông thường nếu có thái độ tích cực thì hành vi tích cực và ngược lại Hành vi của công chức được hiểu là hành động của họ với đối tượng trong tình huống cụ thể Như vậy, cũng một sự vật, hiện tượng, nếu công chức có thái độ, hành vi khác nhau thì sẽ có cách hành xử khác nhau, mang lại kết quả khác nhau
Đội ngũ công chức là chủ thể thực thi công vụ, vai trò của đội ngũ này đối với sự phát triển của nền công vụ nói riêng và của đất nước nói chung là rất quan trọng Bởi vậy, khi thực hiện nhận xét, đánh giá năng lực cần hết sức quan tâm xem xét thái độ, hành vi của họ
Có thể đánh giá thái độ, hành vi của công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã thông qua các tiêu chí sau:
- Ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nội quy, quy chế làm việc của cơ quan Đội ngũ công chức là những người tham mưu, đề xuất mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đồng thời cũng là người tham mưu thực hiện các chủ trương, chính sách đó Bởi vậy, họ phải là lực lượng tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiện để nhân dân noi theo
Nội quy, quy chế làm việc của cơ quan đã được tất cả các thành viên trong cơ quan đó xem xét, bàn bạc, thống nhất trước khi ban hành Đó là những quy định bắt buộc phải tuân theo để duy trì kỷ cương, kỷ luật Chấp
Trang 40hành nội quy, quy chế của cơ quan cũng là một tiêu chí đánh giá công chức, phản ánh tính chuyên nghiệp của công chức trong thực thi công vụ
- Ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ: Đây là tiêu chí không thể thiếu ở mỗi công chức để hoàn thành nhiệm vụ được giao Đó là kết quả của
sự tự ý thức của mỗi công chức và việc quản lý chặt chẽ của cơ quan chủ quản Ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ biểu hiện ở việc nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện nói đi đôi với làm, ý thức về nhiệm vụ của bản thân, nỗ lực hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao với chất lượng và hiệu quả cao nhất Mỗi công chức đều phải học tập tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thái độ phục vụ nhân dân, ở mọi vị trí, mọi chức vụ, mọi công việc, mọi hoàn cảnh đều phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, làm tròn bổn phận của người công chức
- Ý thức học tập nâng cao trình độ về mọi mặt: Đây là tiêu chí đánh giá
sự cầu tiến của mỗi công chức Xu hướng hội nhập quốc tế đang diễn ra nhanh chóng dẫn tới sự thay đổi về tiêu chuẩn đối với người thực hiện công việc Nguyên nhân này làm cho khoảng cách giữa yêu cầu của công việc và năng lực hiện có của người thực hiện công việc có xu hướng ngày càng xa nhau Bởi vậy, nhiệm vụ đặt ra cho đội ngũ công chức Nhà nước nói chung và đội ngũ công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã nói riêng là phải không ngừng học tập nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu công việc, nâng cao trình độ lý luận chính trị, nắm vững và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể
- Tinh thần hợp tác thái độ cầu thị: Công chức Văn phòng - Thống kê cấp xã cần thường xuyên phối hợp với đồng nghiệp trong cơ quan, ngoài cơ quan, với tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực thi công vụ để công việc đạt hiệu quả trong thời gian ngắn nhất Để hoàn thiện bản thân, công chức cần coi trọng việc tiếp thu ý kiến tham gia của người khác Đó là những bài học