Nghị quyết Đại hội XII tiếp tục khẳng định: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao”.“Nâng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Chuyên ngành: Quản lý công
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan những nội dung nghiên cứu trình bày trong luận văn thạc sĩ quản lý công, đề tài “Năng lực công chức Văn phòng - thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc” là kết quả nghiên cứu khoa học của bản thân, nếu có gì sai học viên xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Thị Khanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn đối với lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, các Khoa, Phòng ban trong Học viện, Quý thầy, cô giáo giảng dạy tại Học viện Hành chính Quốc gia
Đặc biệt trân trọng cảm ơn thầy TS Hà Quang Ngọc đã tận tình giúp
đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành đề tài
Xin cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp cùng công tác với tôi ở Văn phòng UBND tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Nội vụ và Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc đã tận tình hướng dẫn, cung cấp nhiều tư liệu giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Do thời gian và điều kiện nghiên cứu của học viên có hạn, chắc chắn không thể tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo có những đóng góp để học viên hoàn thiện nội dung đã nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn./
Tác giả
Nguyễn Thị Khanh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ 8
1.1 Công chức cấp xã và công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 8
1.1.1 Công chức, công chức cấp xã và công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 8
1.1.2 Tiêu chuẩn công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 10
1.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 12
1.1.4 Đặc trưng của công chức Văn phòng – thống kê các xã ở miền núi 14
1.2 Năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 16
1.2.1 Khái niệm năng lực 16
1.2.2 Năng lực công chức 18
1.2.3 Năng lực công chức Văn phòng – thống kê 19
1.2.4 Những dấu hiệu biểu hiện của năng lực 22
1.3 Yếu tố chủ quan quyết định năng lực Công chức Văn phòng – thống kê 23 1.3.1 Kiến thức 24
1.3.2 Kỹ xảo, kỹ năng 24
1.3.3 Thái độ chủ thể 25
1.4 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 25
1.4.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 26
1.4.2 Chế độ chính sách đối với công chức Văn phòng – thống kê cấp xã 27
1.4.3 Yếu tố sử dụng, quản lý công chức 27
1.4.4 Yếu tố điều kiện và môi trường hoạt động 28
1.4.5 Sự tác động qua lại của các cơ quan chuyên môn ngành dọc 29
Trang 5TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30 Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CÁC XÃ MIỀN NÚI THUỘC TỈNH VĨNH PHÚC 31 2.1 Tổng quan một số nét căn bản về đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội các xã miền núi và ảnh hưởng đến năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 31
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội 31 2.1.2 Ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội đến năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 34
2.2 Tình hình công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 35
2.2.1 Trình độ chung 35 2.2.2 Nhận xét chung về số, chất lượng công chức Văn phòng – thống kê các
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60
Trang 6Chương 3 QUAN ĐIỂM, PHƯỚNG HƯỚNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CÁC XÃ MIỀN
NÚI TỈNH VĨNH PHÚC 61
3.1 Quan điểm, phương hướng nâng cao năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 61
3.1.1 Quan điểm nâng cao năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 63
3.1.2 Phương hướng của tỉnh về nâng cao năng lực công chức Văn phòng – thống kê 61
3.2 Giải pháp nâng cao năng lực cho công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 66
3.2.1 Đào tạo, bồi dưỡng công chức theo từng giai đoạn cụ thể 66
3.2.2 Đổi mới trong công tác đánh giá, nhận xét công chức 70
3.2.3 Hoàn thiện chính sách đối với công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc 73
3.2.4 Chú trọng công tác tuyển dụng, sử dụng và bố trí nguồn nhân lực kế cận thay thế những công chức Văn phòng – thống kê đã đến tuổi về hưu 75
3.2.5 Nâng cao hơn nữa vai trò của UBND và Chủ tịch UBND xã 77
3.2.6 Đảm bảo điều kiện thuận lợi và môi trường làm việc cho công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ những yếu tố chủ quan quyết định năng lực công chức Văn phòng – thống kê 23 Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng, chất lượng công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc tính đến tháng 6 năm 2015 37 Biểu đồ 2.1 Biểu đánh giá năng lực xây dựng kế hoạch, chương trình làm việc 41 Biểu 2.2 Biểu đánh giá năng lực theo dõi tình hình, nắm kết quả tham mưu cho lãnh đạo HĐND, UBND 43 Biểu 2.3 Biểu đánh giá năng lực giúp HĐND, UBND về công tác nghiệp vụ thi đua, khen thưởng; bầu cử và tiến hành hội nghị 46 Biểu đồ 2.4 Biểu đánh giá năng lực giải quyết giấy tờ, đơn, thư khiếu nại tố cáo, công tác quản lý giấy tờ, công văn 49 Biểu 2.5 Biểu đánh giá năng lực công chức Văn phòng - thống kê trong công tác thống kê 51
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mở rộng giao lưu với các nước trên thế giới thì vấn đề năng lực của công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng, đặc biệt là công chức ở các xã miền núi đang rất được Đảng và Nhà nước ta quan tâm Nghị quyết Trung ương 5 khóa
IX đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển đất nước Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, đạo đức
và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: “Cán bộ phải là người
có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có
ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” [10, tr136] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” [11, tr252] Nghị quyết Đại hội XII tiếp tục khẳng định:
“Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao”.“Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.”
Chính quyền cơ sở trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ
Trang 102
trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống Tuy nhiên, chính quyền cơ sở không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ
sở có đủ trình độ, năng lực để đảm nhận công việc được giao Song có một thực tế khách quan là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở, đặc biệt là cán bộ, công chức xã, thị trấn ở các vùng nông thôn và miền núi tương đối thấp, không tương xứng với vị trí, vai trò của họ Vì vậy Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định phải “Đổi mới kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ”,[12, tr203] Tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay có
137 xã, phường, thị trấn trong đó có 37 xã miền núi Trong những năm qua, công tác cải cách hành chính của tỉnh Vĩnh phúc đã được Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện, bám sát Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011–2020 Cùng với đó vấn đề năng lực công chức cấp xã nói chung và công chức Văn phòng – thống kê nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực
Mặc dù công chức của tỉnh nói chung và công chức Văn phòng – thống
kê các xã nói riêng có nhiều tiến bộ về năng lực thực thi công vụ góp phần vào sự đổi mới của nền hành chính Nhà nước trong phạm vi toàn tỉnh song trong những năm gần đây qua thực tiễn công việc, năng lực của công chức Văn phòng – thống kê ở các xã miền núi vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Đúng như tình trạng chung mà Đại hội XII đánh giá: “Năng lực, phẩm chất, ý thức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu” [12, tr260] Trước tình hình đó Đại hội XII của Đảng xác định một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ này là “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn
Trang 113
hóa lành mạnh”…[12, tr219]
Thêm vào đó trong xu thế khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, đây là điều kiện thuận lợi để chúng ta đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính từ trung ương đến địa phương Công chức Văn phòng – thống kê là một mắt xích quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính ở cấp xã Nhưng mắt xích này chưa được quan tâm đúng mức Công chức Văn phòng – thống kê chưa được chuẩn hóa, hoàn thiện một cách phù hợp với tình hình mới sẽ rất khó đáp ứng dược yêu cầu của công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo chính quyền các cấp trong giai đoạn hiện nay Do đó cần xây dựng công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc đảm bảo
“chất và lượng” góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Từ những lý do đó tôi đã chọn đề tài “Năng lực công chức Văn phòng – thống
kê các xã miền núi trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc” nhằm nghiên cứu thực trạng
cũng như tìm ra giải pháp góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ này
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu, luận án, luận văn đề cập đến vấn đề về xây dựng đội ngũ CB, CC và nâng cao năng lực, chất lượng công chức ở nước ta như:
Nguyễn Hồng Tín, Võ Thị Thanh Lộc, Nguyễn Quang Tuyến, Võ Kim Thoa và Võ Thành Danh về đánh giá thực trạng năng lực cán bộ, công chức thành phố Cần Thơ.[24]
Bài viết trình bày kết quả đánh giá năng lực CB, CC bao gồm khả năng đáp ứng yêu cầu công việc, đòi hỏi của tổ chức Đưa ra các nguyên nhân, hạn chế, động lực làm việc, việc phát huy năng lực của CB, CC như chế độ đãi ngộ, bố trí công việc, áp lực công việc, cơ hội thăng tiến cũng như môi trường làm việc Kết quả nghiên cứu góp phần xác định nhu cầu và xây dựng chương
Trang 12Trường Nội Vụ “Hoàn thiện tiêu chí đánh giá công chức cấp xã” Đề tài
đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện tiêu chí và phương pháp đánh giá công chức cấp xã, góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, vững mạnh
Luận văn Thạc sĩ của Kiều Đặng Duy Tùng: “Năng lực quản lý của cán
bộ ủy ban nhân dân cấp xã thuộc huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh phúc”,2014 đã hệ thống hóa các lý luận, lý thuyết về cán bộ chính quyền cấp xã, lý thuyết về năng lực quản lý của cán bộ chính quyền cấp xã Đưa ra được các ưu điểm, hạn chế về năng lực quản lý của đội ngũ chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã tại huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc Song chưa đề cập đến năng lực đội ngũ công chức cấp xã
Luận văn Thạc sĩ Lý Thị Kim Bình: “Nâng cao năng lực thực thi công
vụ của cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Tuyên Quang”, 2011 đã đưa ra ưu điểm, hạn chế của cán bộ, công chức cấp xã ở địa phương, đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã
Trong điều kiện cải cách hành chính mạnh mẽ như hiện nay vấn đề
Trang 135
năng lực của cán bộ công chức đang được đặt lên hàng đầu Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đây đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu khá phong phú về cải cách hành chính và yêu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nhưng đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc
Xuất phát từ tình hình đó tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:“Năng lực công
chức văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc ”
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận năng lực công chức nói chung, năng lực công chức Văn phòng – thống kê nói riêng
- Phân tích thực trạng vấn đề năng lực công chức Văn phòng – thống kê
ở các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực của công chức Văn phòng - thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc
- Khách thể nghiên cứu: công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc
Trang 146
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng công chức Văn phòng – thống
kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc giai đoạn 2013 – 2015 Do giai đoạn này Quyết định 447/QĐ-UBDT ngày 19/9/2013 của Bộ trưởng, chủ nhiệm
Ủy ban dân tộc được ban hành và có hiệu lực, đã xác định tỉnh Vĩnh Phúc
Dựa vào hệ thống tri thức, kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng lực
và kiện toàn chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức
5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các tài liệu, thông tin và dữ liệu thu thập được, nghiên cứu sinh sẽ phân tích, đánh giá, xem xét trên các khía cạnh khoa học quản lý Qua đó tổng hợp lại để có những kết luận, những đề xuất mang tính khoa học, phù hợp với lý luận và thực tiễn việc nâng cao năng lực công chức
- Phương pháp quan sát, mạn đàm; thu thập số liệu, thông tin thông qua
hệ thống các văn bản, báo cáo tổng kết và phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra xã hội học:
Thu thập số liệu bằng bảng hỏi: Dự kiến xây dựng 172 phiếu hỏi, với 2 mẫu phiếu gồm một số câu hỏi với nội dung xoay quanh chủ đề nghiên của luận văn (có phụ lục kèm theo) Trong đó:
Mẫu phiếu 1: Điều tra dành cho Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND, UBND
Trang 157
các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc: 103 người
Mẫu phiếu 2: Dành cho công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc: 69 người
Sau khi thu được kết quả chúng tôi quy thành 02 nhóm: Nhóm năng lực thuộc hoạt động văn phòng và nhóm năng lực thuộc hoạt động thống kê để phân tích, đánh giá
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ những vấn đề về lý luận năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần làm rõ thực trạng năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi, chỉ ra những ưu, nhược điểm giúp khắc phục và phát huy, từ đó đề xuất những biện pháp có cơ sở khoa học để làm
cơ sở vận dụng xây dựng đội ngũ công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực của công chức Văn phòng thống
kê cấp xã
Chương 2: Thực trạng năng lực công chức Văn phòng – thống kê các
xã miền núi thuộc tỉnh Vĩnh phúc
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, giải pháp nâng cao năng lực
công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh phúc
Trang 168
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ
1.1 Công chức cấp xã và công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
1.1.1 Công chức, công chức cấp xã và công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
“Công chức” là một cụm từ thường được nhắc tới trong bộ máy hành chính ở các cấp từ trung ương đến cơ sở, đó là mắt khâu không thể thiếu được trong bộ máy của nền hành chính quốc gia, nó gắn liền với sự hình thành phát triển của Nhà nước và không ngừng được hoàn thiện, bổ sung qua các thời kỳ khác nhau
Trong nền hành chính nước ta công chức luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước Lần đầu tiên trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành tại Điều 1, ghi rõ: “Công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở nước ngoài, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính Phủ qui định” Đến năm 1991 trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991; tại Điều 1 tiếp tục xác định rõ công chức là: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước, ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp” Trên cơ sở Nghị định này đến năm 1998 Pháp lệnh công chức được ban hành và sửa đổi bổ sung một số điểm và tiếp đến các năm 2000, 2003 tại Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 09/2007/NĐ-CP ngày 15/01/2007 của Chính Phủ một lần nữa khẳng định rõ “Công chức là công
Trang 179
dânViệt nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước được qui định tại điểm b, c, e và h Nội dung Pháp lệnh công chức tại Khoản 1 điều 1 được cụ thể hóa như sau: “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; Những người được tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn
vị thuộc quân đội nhân dân…., công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp; những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nhiệm vụ thuộc UBND cấp xã”
Luật cán bộ, công chức năm 2008 ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã có bước bổ sung, đổi mới khá rõ ràng Đến đây khái niệm công chức ngày càng được rõ hơn
Tại điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 qui định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm
từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Tương tự như vậy có thể rút ra khái niệm “Công chức cấp xã là công
Trang 1810
dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [20]
Về chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã cũng được xác định tại điểm 2 Điều 3 Chương II Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ qui định gồm: “Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính-xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn ) hoặc Địa chính – nông nghiệp, xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội”
Như vậy công chức Văn phòng – thống kê là những người nằm trong
bộ máy quản lý hành chính đó và là một trong các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trực tiếp quản lý
1.1.2 Tiêu chuẩn công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Đã là công dân Việt nam khi được tuyển chọn vào công chức đều phải
có đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo qui định chung của Chính Phủ Đó là những yêu cầu tất yếu để đảm bảo cho công chức đó đáp ứng với công viên chuyên môn được phân công Tiêu chuẩn công chức bao gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng
* Tiêu chuẩn chung đối với công chức cấp xã
Theo Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính Phủ, thuộc Chương II (tại khoản 1, điều 3 quy định tiêu chuẩn chung của công chức xã phường, thị trấn) như sau:
- Đối với công chức Văn phòng - thống kê, Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp, xây dựng và môi trường (đối với xã), Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch, Văn hóa - xã hội:
+ Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm chủ trương,
Trang 1911
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
+ Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
+ Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao
+ Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác
* Tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã, công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Tại khoản 1, điều 2, mục 1 Chương 1; Thông tư số: 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức
xã, phường, thị trấn như sau:
+ Độ tuổi từ 18 trở lên
+ Trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông
+ Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm
+ Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên + Tiếng dân tộc thiểu số: ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ phải hiểu biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu
số phù hợp với địa bàn công tác đó nếu khi tuyển dụng chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công
+ Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã đảm nhiệm
Trang 2012
Ngoài các tiêu chí trên, người dự tuyển phải đạt tiêu chuẩn cụ thể tương ứng với chức danh công tác
Quy định cụ thể với công chức Văn phòng - thống kê như sau:
+ Độ tuổi không quá 35 khi tuyển dụng lần đầu
+ Học vấn tốt nghiệp trung học phổ thông với khu vực đồng bằng và đô thị, tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên với khu vực miền núi
+ Lý luận chính trị: Sau khi được tuyển dụng phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên
+ Chuyên môn nghiệp vụ: Ở khu vực đồng bằng có trình độ trung cấp văn thư, lưu trữ hoặc trung cấp hành chính, trung cấp luật trở lên Với công chức đang công tác ở khu vực miền núi hiện nay, tối thiểu được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn về một trong các ngành chuyên môn trên, nếu mới được tuyển dụng lần đầu phải có trình độ trung cấp của một trong ba ngành chuyên môn trên Sau khi được tuyển dụng phải qua bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước (nếu chưa qua trong bồi dưỡng cấp hành chính) ở khu vực đồng bằng và đô thị phải sử dụng được kỹ thuật tin học phục vụ công tác chuyên môn
1.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Công chức Văn phòng – thống kê tham mưu giúp UBND cấp xã tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định Công chức Văn phòng – thống kê có nhiệm vụ bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau trong hoạt động quản lý Nhà nước cấp xã, với hai công tác chủ đạo là công tác “văn phòng” và công tác “thống kê”
Theo quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn công tác văn phòng – thống kê ở các xã hiện nay, công chức Văn phòng – thống kê cấp xã có các nhiệm vụ, quyền hạn chủ yếu sau:
+ Giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và
Trang 21+ Giúp UBND xã dự thảo và trình cấp có thẩm quyền, làm báo cáo gửi lên cấp trên Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ công chức Văn phòng – thống kê của UBND xã chủ động xây dựng chương trình, trình Chủ tịch UBND ký, ban hành Sau khi chương trình công tác được ban hành, văn phòng có trách nhiệm giúp Chủ tịch UBND xã tổ chức thực hiện
Ngoài chương trình công tác nhiệm kỳ, tháng, quý, năm, văn phòng còn
có trách nhiệm xây dựng lịch công tác tuần của Ủy ban, tổ chức cuộc họp giao ban hàng tuần của Chủ tịch và Phó chủ tịch Ủy ban,
+ Giúp HĐND tổ chức kỳ họp, giúp UBND tổ chức tiếp dân, tiếp khách, nhận đơn khiếu nại của nhân dân chuyển đến HĐND và UBND hoặc lên cấp trên có thẩm quyền giải quyết
+ Quản lý công văn, sổ sách, giấy tờ, quản lý việc lập hồ sơ lưu trữ, biểu báo cáo thống kê; theo dõi biến động số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Công tác văn thư lưu trữ của UBND cấp xã bao gồm: quản lý và giải quyết văn bản đi; quản lý và giải quyết văn bản đến; quản lý và sử dụng con
Trang 2214
dấu; lập hồ sơ và nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan Ủy ban; thu thập, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban theo pháp luật
+ Giúp UBND về công tác thi đua khen thưởng ở cấp xã Căn cứ vào văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước cấp trên, công chức Văn phòng – thống kê có trách nhiệm giúp UBND tổ chức thực hiện công tác thi đua khen thưởng trong cơ quan Ủy ban và trong địa phương; tổ chức hội nghị tổng kết, rút kinh nghiệm, nhân điển hình tiên tiến; làm thủ tục đề nghị Ủy ban khen thưởng theo thẩm quyền hoặc Ủy ban đề nghị lên cấp trên khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua
+ Giúp HĐND và UBND thực hiện nghiệp vụ công tác bầu cử đại biểu HĐND và UBND theo quy định của pháp luật và công tác được giao
1.1.4 Đặc trưng của công chức Văn phòng – thống kê các xã ở miền núi
Công chức cấp xã nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng đều là một bộ phận rất quan trọng nằm trong bộ máy chính quyền của UBND xã, đơn vị cuối cùng trong hệ thống hành chính quốc gia trực tiếp gắn
bó với dân, mọi chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước có trở thành hiện thực hay không đều phụ thuộc vào khả năng tổ chức, triển khai và thực thi của UBND cấp xã, mà trực tiếp là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức trong đó có công chức Văn phòng – thống kê Đây là đặc điểm quan trọng nhất chi phối đến hoạt động của công chức nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng
Công chức Văn phòng – thống kê là lực lượng hoạt động chuyên môn tương đối độc lập được phân công theo chức trách, nhiệm vụ mang tính chuyên môn sâu nên rất cần đến các phẩm chất kiên trì, bền bỉ, năng động, nhạy bén và kỹ năng xử lý công việc chính xác để vừa đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ thường xuyên vừa làm tốt chức năng tham mưu, quản lý cho UBND
Trang 2315
Việc thực thi công vụ của công chức nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng đòi hỏi phải tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, của ngành nghề và các quy định của UBND cấp xã nơi trực tiếp quản lý, điều hành công việc hàng ngày Đặc biệt là chức năng, nhiệm vụ thuộc chuyên môn của mình về công tác văn phòng và thống kê Mặt khác để làm tốt chức năng tham mưu cho UBND về lĩnh vực chuyên môn của mình công chức Văn phòng – thống kê phải luôn bám sát địa bàn hoạt động gần dân, sát dân, sát công việc nắm chắc tình hình, phản ánh kịp thời chính xác cho UBND xã đồng thời cùng với các bộ phận khác xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện đường lối chủ trương chính sách có hiệu quả ở địa phương và làm tốt chức năng quản lý Nhà nước theo chức trách được phân công
Đặc thù hoạt động của công chức Văn phòng – thống kê ở địa bàn các
xã miền núi thường gặp phải khó khăn trong việc đi cơ sở nắm tình hình, việc tiếp xúc với dân không thuần nhất và thuận lợi như các xã đồng bằng do đặc điểm dân cư và các dân tộc đan xen khác nhau, nhất là về mặt tâm lý, tập quán, nhận thức v v nên đòi hỏi phải có sự nỗ lực cao trong quá trình thực thi công vụ
Hầu hết công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi đều là người địa phương nên có sự am hiểu, gắn bó mật thiết với người dân
Trình độ chuyên môn, năng lực của đội ngũ công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi chưa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chủ yếu vẫn là trình độ trung cấp, một số ít là sơ cấp và chưa qua đào tạo
Từ những đặc trưng trên của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi đặt ra việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức này Hơn nữa cần
có sự quan tâm, sâu sát của các cấp chính quyền địa phương hơn nữa để có thể phát huy năng lực của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi một cách tốt nhất
Trang 2416
1.2 Năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
1.2.1 Khái niệm năng lực
Trong hoạt động con người luôn hướng toàn bộ sức lực, tinh thần của mình vào nhằm đạt kết quả cao trong hoạt động Có thể nói gần như toàn bộ những phẩm chất tâm lý, sinh lý của cá nhân đều góp phần tạo nên kết quả ấy Năng lực không phải là những phẩm chất tâm lý, sinh lý riêng lẻ của một cá nhân, cũng không phải phép cộng đơn giản mà tổng hợp những đặc điểm tâm
lý, sinh lý đảm bảo cho cá nhân đạt kết quả cao trong công việc Có thể điểm qua một số quan niệm tiếp cận nghiên cứu năng lực như: quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít: “Năng lực là tổng hợp những phẩm chất tâm lý và sinh
lý của cá nhân đáp ứng với những yêu cầu của hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động ấy nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao”[14, tr296]
Theo từ điển Tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động nào đó” [27]
Theo PGS.Trần Trọng Thủy: “Năng lực của cá nhân là một tổ hợp những thuộc tính tâm lý phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nào
đó, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả…” [15, tr7] Nói cách khác:
“Năng lực là tổng hợp các thuộc tính cá nhân giúp con người hoàn thành tốt một số hoạt động nào đó” [1]
Bolt (1987) định nghĩa năng lực “là sự kết hợp đồng thời những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để hoàn thành tốt một vai trò hay một công việc được giao”[19] Định nghĩa này khẳng định năng lực là sự hội tụ của ba yếu tố kiến thức, kỹ năng và thái độ Kiến thức để “hiểu” công việc; kỹ năng,
kỹ xảo để “biết” cách thực hiện và thái độ “muốn” thực hiện công việc Đây
là những yếu tố cần thiết để tiến hành công việc đạt mục tiêu mong muốn
Năng lực là khả năng thực hiện công việc một cách đầy đủ và có chất lượng, nó thể hiện bằng hành vi có thể quan sát, đo lường trong điều kiện làm
Trang 2517
việc Năng lực được xác định trong hành động và chỉ có thể nhận biết năng lực qua công việc chủ thể thực hiện Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung về bản chất khái niệm năng lực đều có sự thống nhất, có thể đưa ra khái niệm về năng lực như sau:
Năng lực là sự kết hợp đồng thời kiến thức; kỹ năng, kỹ xảo và thái độ, hành vi cần thiết của cá nhân hoặc tổ chức để đáp ứng yêu cầu của công việc
và đảm bảo cho công việc đạt kết quả cao.
Năng lực bao gồm: Năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo; Năng lực chung và năng lực riêng
Năng lực chung: là những phẩm chất tâm lý cá nhân đảm bảo cho mọi
lĩnh vực hoạt động nhanh chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao Ví dụ như: trí nhớ, tư duy, óc tưởng tượng sáng tạo v.v
Năng lực riêng: là những phẩm chất tâm lý cá nhân đáp ứng cho một
hoạt động nhất định, đảm bảo cho con người nhanh chóng thành thạo đạt kết quả cao trong lĩnh vực hoạt động ấy
Năng lực tái tạo: là những phẩm chất đảm bảo cho cá nhân có thể
nhanh chóng biến những kinh nghiệm của người khác thành kinh nghiệm của bản thân
Năng lực sáng tạo: là những phẩm chất đảm bảo cho cá nhân tìm ra
được cái mới trong hoạt động trên cơ sở chế biến những kinh nghiệm cũ làm cho hoạt động đạt hiệu suất và chất lượng cao hoặc sáng tạo ra những phẩm chất mới quý giá đối với nhân loại
Công chức Văn phòng – thống kê là một bộ phận hoạt động tương đối độc lập do tính chất công việc và sự phân công lao động xã hội song có mối quan hệ công tác với nhiều bộ phận khác trong UBND Do vậy ngoài việc phát huy tốt năng lực riêng, năng lực tái tạo cần phải mở rộng giao tiếp nâng cao khả năng tự học, tự đào tạo để từng bước nâng cao trình độ năng lực
Trang 26Khi xã hội phát triển sự phân công lao động xã hội là tất yếu thì sự hình thành phát triển năng lực, tài năng của con người là kết quả của sự phân công lao động ấy C mác nhận xét: “Sự khác nhau về năng lực của các cá nhân không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự phân công lao động xã hội” [4, tr167]
Công chức là một nghề gắn với hoạt động thực thi công vụ Đó là quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, phục vụ nhân dân Từ đây có thể đưa ra khái niệm năng lực công chức như sau:
Năng lực công chức là sự kết hợp đồng thời giữa kiến thức; kỹ năng, kỹ xảo; thái độ nghề nghiệp của người công chức được sử dụng trong thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, phục vụ nhân dân
Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của hoạt động thực thi công vụ, năng lực công chức hội tụ những yếu tố:
Thứ nhất, hoạt động công vụ là hoạt động mang tính chuyên môn,
Trang 2719
nghiệp vụ đòi hỏi người công chức phải có kiến thức về công vụ và lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu ở từng vị trí chức danh Kiến thức này giúp công chức hiểu và kiểm soát được mục tiêu công việc để đạt được mục đích trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ
Thứ hai, hoạt động công vụ tiến hành các nghiệp vụ theo quy trình, quy
tắc nhất định mà pháp luật quy định Vì vậy đòi hỏi người công chức phải có
kỹ năng, kỹ xảo nghiệp vụ để vận dụng khéo, thành thạo kiến thức và kinh nghiệm thu được trên một lĩnh vực chuyên môn vào thực tế công vụ Kỹ năng nghiệp vụ phản ánh tính chuyên nghiệp của công chức trong xu thế phát triển của nền hành chính hiện đại ngày nay
Thứ ba, hoạt động công vụ gắn liền với quyền lực Nhà nước, mang tính thứ bậc và được nhà nước trả lương Vì vậy yêu cầu đối với người công chức
về thái độ làm việc phải hết lòng trong công việc, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước, có đạo đức, tư cách tốt, đúng đắn trong thực thi công vụ
1.2.3 Năng lực công chức Văn phòng – thống kê
1.2.3.1 Khái niệm năng lực công chức Văn phòng – thống kê
Năng lực luôn gắn với hoạt động, nói năng lực là năng lực trong một hoạt động nào đó, biểu hiện ở hiệu suất hoạt động của cá nhân và quyết định trực tiếp chất lượng hoạt động của cá nhân, bất kỳ hoạt động nào bên cạnh phẩm chất nhân cách cần thiết, con người phải có năng lực phù hợp với hoạt động ấy
Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ Văn phòng – thống kê thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức Văn phòng – thống kê cấp xã gắn với hoạt động ở cấp chính quyền cơ sở là Ủy ban nhân dân xã Vì vậy, năng lực công chức Văn phòng –
Trang 2820
thống kê cấp xã đòi hỏi những phẩm chất, thuộc tính cá nhân của người công chức nói chung và những phẩm chất, thuộc tính của người công chức Văn phòng – thống kê ở cấp cơ sở là các xã nói riêng để đáp ứng yêu cầu công việc và hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất
Như vậy khi nói năng lực công chức Văn phòng – thống kê có thể hiểu:
Năng lực công chức Văn phòng – thống kê là sự kết hợp đồng thời giữa kiến thức; kỹ năng, kỹ xảo; thái độ nghề nghiệp của người công chức Văn phòng - thống kê được sử dụng trong thực thi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho hoạt động thực thi công vụ được diễn ra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, đúng quy định, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã
1.2.3.2 Yêu cầu về năng lực công chức Văn phòng – thống kê
Năng lực công chức Văn phòng – thống kê là tổng hợp những phẩm chất chung của công chức được vận dụng vào giải quyết một hoạt động hay một công việc, một tình huống được giao trong phạm vi chuyên môn của cá nhân Chẳng hạn như đối với công chức Văn phòng – thống kê tập trung ở hai nhóm công việc chính đó là nhóm các hoạt động về công tác văn phòng và nhóm các hoạt động về công tác thống kê
* Đối với các hoạt động thuộc nhóm văn phòng đòi hỏi ngoài năng lực chung, công chức Văn phòng – thống kê phải có năng lực chuyên sâu như:
Năng lực xây dựng kế hoạch, chương trình làm việc giúp UBND theo dõi, triển khai thực hiện nhiệm vụ
Trong quá trình thực thi công vụ, công chức cấp xã thường xuyên phải thực hiện việc lập kế hoạch, từ kế hoạch tổng thể đến kế hoạch chi tiết; từ kế hoạch dài hạn đến kế hoạch ngắn hạn; từ kế hoạch cá nhân đến kế hoạch cho
cơ quan, tổ chức Xây dựng kế hoạch đòi hỏi phải hết sức tỷ mỉ, chi tiết, sát với đặc thù của xã Chính vì vậy đòi hỏi đội ngũ công chức Văn phòng -
Trang 2921
thống kê phải nắm rất chắc chủ trương, đường lối của trên một cách toàn diện
để cụ thể hóa kế hoạch vận dụng sát với địa bàn
Năng lực theo dõi tổng hợp tình hình, nắm kết quả, tham mưu kịp thời cho công tác chỉ đạo, điều hành và dự thảo báo cáo văn bản trình cấp
có thẩm quyền
Để có được văn bản báo cáo chính xác, cụ thể, chi tiết giúp cơ quan chức năng có cơ sở điều hành công việc, rút kinh nghiệm và đưa ra các chỉ đạo chính xác phù hợp với tình hình địa phương Đòi hỏi công chức Văn phòng – thống kê phải có khả năng tổng hợp, chọn lọc thông tin, khái quát vấn đề tốt, năng lực xử lý văn bản tương đối thành thạo ở trình độ kỹ năng
Năng lực giúp UBND, HĐND về công tác nghiệp vụ thi đua – khen thưởng, bầu cử và tổ chức đảm bảo cơ sở vật chất tiến hành các hội nghị theo định kỳ
Công tác thi đua – khen thưởng phải đảm bảo tính nêu gương, giáo dục, được dư luận xã hội đồng tình và tạo động lực cho công chức Để thực hiện tốt cần bám sát kế hoạch công tác hàng tháng, quý, năm và các chỉ thị văn bản của cấp trên để xây dựng, triển khai, phát động các phong trào thi đua, khen thưởng
Về công tác bầu cử, tổ chức hội nghị cần có năng lực bao quát, kỹ năng, thao tác nhanh nhẹn, bảo đảm các khâu chuẩn bị tài liệu, trang thiết bị, phương tiện cho Hội nghị đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời
Năng lực giải quyết giấy tờ, đơn thư theo cơ chế một cửa và công tác quản lý lưu trữ, giấy tờ công văn
Trong quá trình giải quyết giấy tờ, đơn thư phát sinh nhiều tình huống phức tạp, công chức Văn phòng – thống kê cần giải quyết tình huống đảm bảo đúng quy định của pháp luật, hợp tình hợp lý và được người dân tin tưởng
Công chức Văn phòng - thống kê cần nắm vững và vận dụng tốt kiến
Trang 3022
thức về tài liệu lưu trữ, công tác lưu trữ và phông lưu trữ UBND xã, nội dung
và các yêu cầu về công tác văn thư;… Đảm bảo việc lưu trữ được chi tiết, cẩn thận, tỉ mỉ, đúng chuẩn
* Đối với hoạt động thống kê:
Đòi hỏi ở công chức Văn phòng – thống kê năng lực thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu, hệ thống bảng biểu chính xác, tỉ mỉ, khoa học
Hệ thống bảng biểu, mẫu biểu trình bày phải khoa học, diễn giải, xử lý các
số liệu có tính logic, sáng tạo và sát với tình hình của địa phương Công việc thống kê đòi hỏi ở người công chức kiến thức, kỹ năng, phương pháp hết sức chặt chẽ, có chuyên môn sâu thì mới đạt được kết quả thống kê chuẩn xác nhất
1.2.4 Những dấu hiệu biểu hiện của năng lực
- Sự nhanh chậm trong việc tiếp thu, lĩnh hội các kiến thức và thông tin
- Khả năng chọn lọc thông tin
- Khả năng vận dụng vào thực tiễn các thông tin đã chọn lọc
- Kỹ năng kỹ xảo trong thao tác nghề nghiệp
- So sánh hiệu quả tương quan về thời gian, số, chất lượng sản phẩm được làm ra
- Khả năng thích nghi với sự thay đổi
Những dấu hiệu trên có quan hệ biện chứng với nhau và được bộc lộ thông qua kết quả hoạt động của cá nhân trong các hoàn cảnh, điều kiện, tính chất công việc khác nhau Nguồn gốc của năng lực chủ yếu thông qua lao động, học tập, rèn luyện trong cuộc sống và một phần do thừa kế và di truyền bẩm sinh và vốn tri thức, đặc điểm cơ thể, khả năng tư duy và hoạt động trí tuệ
Trang 3123
1.3 Yếu tố chủ quan quyết định năng lực Công chức Văn phòng – thống kê
Hình1.1 Sơ đồ những yếu tố chủ quan quyết định năng lực công chức
Văn phòng – thống kê
(Nguồn: Tác giả Nguyễn Đức Ân)
Khi bàn về các yếu tố cấu thành năng lực, các học giả tư sản thường tuyệt đối hóa yếu tố “bẩm sinh di truyền” không thừa nhận yếu tố xã hội Trên cơ sở duy vật biện chứng các nhà khoa học Mác xít không phủ nhận yếu tố “bẩm sinh di truyền” mà luôn coi đó là tiền đề vật chất của sự hình thành năng lực C Mác chỉ rõ: “Mỗi loại năng lực đòi hỏi những đặc điểm nhất định của cơ thể, tư chất là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho sự phát triển năng lực”.[5, tr218]
Song để hình thành năng lực con người phải tham gia vào hoạt động xã hội, thông qua hoạt động con người được học tập, giao tiếp, trải nghiệm cuộc sống để tự nâng cao trình độ tri thức, kinh nghiệm từng bước hoàn thiện mình
và chính yếu tố xã hội đã quyết định sự hình thành phẩm chất năng lực cũng như nhân cách của họ C Mác khẳng định: “Muốn phát triển năng lực phải
Năng lực Công chức VP-TK
-Kiến thức -Kỹ xảo -Kỹ năng
Thái độ, hành vi
Môi trường xã hội
Trang 3224
tham gia hoạt động thực tiễn đấu tranh cách mạng”.[5, tr216]
Như vậy sự hình thành năng lực được quyết định bởi chính điều kiện xã hội bắt đầu từ khâu nhận thức đến kỹ xảo, kỹ năng thực hành và thái độ của chủ thể với nghề nghiệp
*Kỹ năng
Trang 3325
Là sự áp dụng đúng đắn sáng tạo các kiến thức, kỹ xảo vào trong hoạt động cá nhân phù hợp với sự biến đổi hoàn cảnh thực tế Trong hoạt động được trang bị đầy đủ kiến thức và đã có sự thành thạo nghiệp vụ chuyên môn rồi nhưng chưa đủ, điều quan trọng hơn đòi hỏi phải vận dụng được kiến thức chuyên môn đó vào giải quyết các tình huống thực tế một cách sáng tạo, nhanh chóng diễn ra hàng ngày, nhất là những tình huống đột xuất diễn ra ngoài kế hoạch phục vụ cho các công việc cần kíp…
1.3.3 Thái độ chủ thể
Khi đề cập đến thái độ người ta muốn quan tâm đến sự hoàn thiện của nhân cách người cán bộ, công chức đến mức nào? Thái độ thiên về khả năng ứng xử, giao tiếp thể thiện bản lĩnh, tính văn hóa, tính nhân văn của người công chức trước hoàn cảnh, công việc, môi trường công tác Kết quả của kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp được kiểm nghiệm thông qua thái độ hành
vi xử thế công việc trong cuộc sống hàng ngày nó mang nặng màu sắc chủ quan của người công chức Thông qua việc giải quyết công việc hàng ngày, thông qua giao tiếp, ứng xử với mọi người trong các mối quan hệ hẹp và rộng
ở từng phạm vi; người ta có thể đánh giá được năng lực chung của một cán bộ hay một công chức từ thực tế đó Vì vậy để có một thái độ đúng đắn, mẫu mực mỗi công chức phải rèn luyện nâng cao toàn diện cả kiến thức, kỹ xảo,
kỹ năng nghề nghiệp, tình cảm nghề nghiệp đó chính là sự hòa quện gắn bó,
đoàn kết cao trong tập thể giúp cho công việc đạt hiệu suất cao
1.4 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới năng lực công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Trên quan điểm vận dụng biện chứng C.Mác, Ph Ăng ghen, xem xét con người gắn liền với hoạt động “xã hội lịch sử” chính thông qua hoạt động
đó mà hình thành phát triển tâm lý và phát triển năng lực của mình Lê Nin cũng khẳng định: “Không phải sinh ra là con người ta đã có nghệ thuật quản
Trang 3426
lý giỏi mà phải trải qua kinh nghiệm mới có được” Con người muốn có năng lực và phát triển được năng lực phải thông qua hoạt động xã hội, trong hoạt động con người chịu nhiều tác động của nhiều mối quan hệ xã hội C.Mác nhận xét: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”[5, tr257] Vì thế nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hình thành năng lực để góp phần nâng cao hiệu quả công việc là sự cần thiết Việc thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê thường chịu tác động của các yếu tố sau:
1.4.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Khâu đào tạo bồi dưỡng rất quan trọng vì kiến thức và năng lực không phải là những thành tố bất biến mà nó luôn vận động phát triển theo sự phát triển của xã hội của ngành nghề Trong từng điều kiện hoàn cảnh khác nhau bản thân cái vốn có trong mỗi người đã bị biến động cần sự thích ứng của tri thức, kinh nghiệm, vốn sống chứ không riêng ở điều kiện xã hội phát triển Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin ở xã hội hiện đại, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật Đòi hỏi người công chức phải có đủ trình độ, kiến thức để theo kịp sự phát triển, đáp ứng được yêu cầu công việc
Vì lẽ đó cần thiết phải quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng Mặt khác những kiến thức được đào tạo ở nhà trường, trong khung hữu hạn cả về nội dung và thời gian, có chăng cũng chỉ giúp họ có được lượng kiến thức cơ bản,thứ hành trang ban đầu để bước vào cuộc sống mà thôi Muốn phát triển được năng lực và không bị lạc hậu so với thực tế cũng như những biến thiên của cuộc sống họ cần được tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đặc biệt
là nâng cao khả năng tự đào tạo của bản thân mới hi vọng đáp ứng tốt nhiệm
vụ chuyên môn và các kỹ năng khác Thuộc phạm vi tổ chức ngoài việc quản
lý con người cần có kế hoạch tổ chức đào tạo, bồi dưỡng định kỳ theo tháng, quý, năm để bổ sung kiến thức, phương pháp làm việc cho công chức, phải thực sự coi thực tiễn là một trường học suốt đời không thể thiếu đối với tổ
Trang 3527
chức và mỗi con người Chỉ có thế mới khắc phục được sự mai một về kiến thức, tụt hậu về chuyên môn nghiệp vụ Đó là con đường tự hoàn thiện tốt nhất đối với nhân cách người cán bộ, công chức
1.4.2 Chế độ chính sách đối với công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Bất kỳ một công dân nào trong biên chế tổ chức của Nhà nước đều phải nghĩ đến chế độ đảm bảo lương và các chính sách bảo đảm khác, đây chính là điều kiện vật chất đảm bảo cho họ yên tâm công tác, gắn bó với nghề nghiệp Đối với công chức cấp xã điều này càng trở nên quan trọng hơn xuất phát từ thực tế tuyển dụng đầu vào mức lương của họ có hạn định theo bằng cấp đào tạo ở các trình độ khác nhau nhưng phổ biến là trung, sơ cấp, thực tế đó phần nào khó khăn trực tiếp đến thu nhập của người hưởng lương Vì vậy các chế
độ chính sách khác cần được quan tâm chu đáo hơn, giúp họ khắc phục bớt phần nào khó khăn yên tâm công tác Một khía cạnh khác cần chú ý như các trang thiết bị văn phòng, nơi làm việc, các phương tiện phục vụ cho cuộc sống hàng ngày ở công sở là những nhu cầu thiết yếu có tác dụng tích cực động viên họ hoàn thành nhiệm vụ Thực tế hiện nay ở cấp xã đang còn không ít khó khăn về cơ sở vật chất, song cũng có nhiều nơi do công tác quản lý, huy động vốn xây dựng công sở khá khang trang sạch đẹp cải thiện tốt điều kiện làm việc của công chức tạo được sự gắn bó giữa con người với tổ chức ngày càng tốt hơn
1.4.3 Yếu tố sử dụng, quản lý công chức
Hơn lúc nào hết công tác sử dụng, quản lý con người luôn được coi là vấn đề thời sự, đặt lên hàng đầu; bởi lẽ có hiểu được con người, nắm bắt được con người mới sử dụng đúng việc và phát huy được năng lực của họ, xã hội càng phát triển thì khoa học quản lý về con người càng cao Quản lý con người không đơn giản là quản lý về số lượng, đầu việc theo dõi thời gian đi muộn về sớm v.v mà phải nắm vững được trình độ chuyên môn, năng lực
Trang 36xử còn nặng về phân cấp, thậm chí xa lánh coi thường cấp dưới đặt địa vị và cái tôi của mình trên hết, dẫn đến tình trạng bằng mặt không bằng lòng trên dưới không đồng nhất, sự sắp xếp lao động không đúng việc, không phát huy được nhân tố con người
1.4.4 Yếu tố điều kiện và môi trường hoạt động
Điều kiện và môi trường làm việc có ảnh hưởng rất lớn đến con người
và công việc Điều kiện môi trường tốt có tác dụng hấp dẫn gắn bó người lao động với cơ quan công sở, ngược lại nơi làm việc xuống cấp mất cảm tình, tạo ra tâm lý tạm bợ, hời hợt không nghiêm túc đối với công việc, cán bộ, công chức đến làm việc chỉ mong hết giờ để về Môi trường ở đâykhông nên hiểu giản đơn theo nghĩa vật chất thuần túy chỉ là nơi làm việc, cảnh quan thông thường mà phải nghĩ đến bầu không khí tập thể, đến các mối quan hệ qua lại trong tập thể, thực sự tạo ra sự hòa đồng có sức cuốn hút con người với con người, không tạo ra khoảng cách lạnh giá, đối nghịch giữa người với người và giữa các nhóm ngành chuyên môn với nhau v v
Tóm lại điều kiện môi trường ở nơi làm việc của công chức phải trở thành một môi trường sống trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa điều kiện vật chất, sinh hoạt, cảnh quan và chất lượng cuộc sống, đời sống tinh thần của con người mà ở đó mọi người đều có thể coi là gia đình thứ hai của mình trong thời gian làm việc ở cơ quan
Trang 3729
1.4.5 Sự tác động qua lại của các cơ quan chuyên môn ngành dọc
Công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi hầu hết ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, điều kiện tiếp cận, giao lưu văn hóa, thông tin thường không thuận lợi như các xã khác Vì vậy việc cập nhật thông tin, nâng cao hiểu biết, học hỏi kinh nghiệm thông qua giao lưu, tiếp xúc với đồng nghiệp, với cơ quan chuyên môn các cấp giúp cho việc nâng cao năng lực nghiệp vụ
là hết sức cần thiết Song qua tìm hiểu thực tế bộ phận Công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi mới chỉ hoàn thành được chức năng tổng hợp số liệu, lập báo cáo trình, gửi trên theo định kỳ, mà ít nhận được các thông tin ngược thông qua trao đổi, góp ý, phổ biến kinh nghiệm, cập nhật kiến thức mới thường xuyên, nên đây cũng là một lý do tác động không nhỏ đến việc củng cố, bổ sung cho việc hình thành, phát triển năng lực của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi hay nói cách khác đó là một sự thiếu hụt trong quy trình tự đào tạo và đào tạo lại không tốn kém kinh phí mà vẫn giúp nhau nâng cao được năng lực chuyên môn
Thực trạng hiện nay có thuận lợi là các kênh thông tin qua mạng, qua tài liệu người làm chuyên môn có thể tự tìm kiếm, bổ sung cho mình những tư liệu cần thiết Nhưng để có những dữ liệu đủ độ tin cậy và bài học rút ra ngay từ lĩnh vực chuyên môn của mình lại phải thông qua đội ngũ chuyên môn ngành dọc mới thực sự bù đắp cho số công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi có
cơ hội tích lũy và chuyển hóa nhanh về chất đáp ứng kịp thời cho công việc ở cơ
sở Thiết nghĩ trong ngành dọc của cơ quan chuyên môn các cấp trong phạm vi một tỉnh cần nhanh chóng phát hiện sớm sự thiếu hụt này tạo ra cây cầu nối gần nhất trong quan hệ qua lại giữa các cấp với nhau về lĩnh vực chuyên môn Văn phòng – thống kê cũng như sự mở rộng giao lưu, giao tiếp văn hóa giúp nhau cùng nâng cao học vấn nghiệp vụ và năng lực chuyên môn
Trang 3830
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trọng tâm của chương 1 tập trung làm rõ vấn đề năng lực, năng lực công chức nói chung, công chức Văn phòng – thống kê nói riêng Đây là bộ khái niệm công cụ của đề tài cần được phân tích làm rõ bản chất vấn đề, khái quát một cách hệ thống có căn cứ khoa học giúp cho luận giải những vấn đề đặt ra theo hướng nghiên cứu của đề tài Thông qua những dấu hiệu đặc trưng của năng lực, cấu trúc năng lực và đặc điểm tiêu chí của năng lực vận dụng vào giải quyết thực trạng vấn đề, chỉ ra những nguyên nhân tích cực và điểm hạn chế hiện nay của công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Thấy được khó khăn, thuận lợi trong việc thực thi công vụ của công chức trên địa bàn miền núi Những vấn đề đặt ra cần phải quan tâm củng cố xây dựng bằng các giải pháp khoa học, giúp cho đội ngũ công chức phát triển năng lực tốt hơn Giải quyết tốt hơn nội dung, lý luận của chương 1 cũng chính là tiền đề để giải quyết các chương tiếp sau
Trang 3931
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG –
THỐNG KÊ CÁC XÃ MIỀN NÚI THUỘC TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Tổng quan một số nét căn bản về đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội các xã miền núi và ảnh hưởng đến năng lực công chức Văn phòng – thống kê các xã miền núi tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh chỉ có 9 đơn vị hành chính vừa được hoạch định lại sau khi tách tỉnh giữa Phú Thọ và Vĩnh Phúc Đặc điểm của các xã miền núi phần lớn lại nằm xen kẽ trong các đơn vị hành chính của tỉnh; duy nhất chỉ có 3/9 đơn vị không có xã miền núi Đây cũng là đặc điểm của trung du Bắc Bộ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung du
và miền núi phía bắc, có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung
du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyệnTam Đảo Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới
tự nhiên là sông Hồng Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh – Hà Nội Có thể nói Vĩnh Phúc là tỉnh sơn thủy hữu tình được tự nhiên ban cho khá đa dạng
Tỉnh Vĩnh Phúc chính thức được tái lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997 Khi tách ra, tỉnh Vĩnh Phúc gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Vĩnh Yên và 5 huyện: Lập Thạch, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Tam Đảo và
Mê Linh
Tháng 06/1998, tách huyện Tam Đảo thành 2 huyện Tam Dương và
Trang 4032
Bình Xuyên
Ngày 9 tháng 12 năm 2003, thành lập huyện Tam Đảo mới
Từ 1 tháng 8 năm 2008, huyện Mê Linh đã được tách ra và sáp nhập vào thành phố Hà Nội
Từ 1 tháng 4 năm 2009 huyện Lập Thạch tách làm 2 là: huyện Sông Lô
và huyện Lập Thạch
Đến nay tỉnh có 9 đơn vị hành chính với diện tích 1.235,13 km2 Trong đó tỉnh Vĩnh Phúc có 37/137 xã được xác định là xã miền núi thuộc 06/9 đơn vị hành chính trong tỉnh Địa hình các xã miền núi khá phức tạp, đa dạng vì có cả vùng cao và miền núi, vùng gò đồi và vùng đất bãi ven sông Các xã miền núi phần lớn lại nằm xen kẽ trong các đơn vị hành chính của tỉnh
2.1.1.2 Dân cư
Theo báo cáo về kết quả công tác dân tộc 6 tháng đầu năm và nhiệm
vụ công tác 6 tháng cuối năm 2016 của Ban dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc thì dân
số của tỉnh là 1.041.400 người với 30 thành phần dân tộc, gồm dân tộc Kinh và 29 thành phần dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Sán dìu, Dao, cao Lan sống thành cộng đồng nhỏ lẻ, với trên 47 nghìn người (chiếm 4,7% dân số toàn tỉnh) phân bố chủ yếu ở 13 xã thuộc 05 huyện, thị (Sông Lô, Lập Thạch, Bình Xuyên, Tam Đảo, thị xã Phúc Yên)
2.1.1.3 Kinh tế – xã hội
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, những chính sách đối với các xã miền núi đã được đầu tư, triển khai kịp thời, như: chính sách đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội, các chính sách kết hợp phát triển kinh tế gắn với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng; các chính sách về nông nghiệp, nông thôn, giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa thể dục thể thao… đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh