Đối với các việc đại hình, khi xét xử Toà đệ nhị cấp gồm cónăm người cùng ngồi xử và đều có quyền quyết nghị, đó là: Chánh án Toà đệ nhị cấp ngồi ghế Chánh án Chủ toạ phiên toà; haiThẩm
Trang 1TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG CÁN BỘ TÒA ÁN
CHƯƠNG TRÌNH
ĐÀO TẠO THẨM PHÁN
PHẦN CHUNG
(Tập bài giảng cho Khóa 1)
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN - 2014
Trang 3- Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng
ban thường trực Ban Dân vận Trung ương
Trang 51.1 Thiết lập Toà án Quân sự
Ngày 13-9-1945, Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủCộng hoà ra Sắc lệnh thiết lập các Toà án quân sự Theo Điều 1của Sắc lệnh này thì sẽ thiết lập các Toà án quân sự gồm: ở Bắc
bộ tại Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Ninh Bình; ở Trung bộtại Vinh, Huế, Quảng Ngãi; ở Nam bộ tại Sài Gòn, Mỹ Tho Uỷban nhân dân Trung bộ và Nam bộ, trong địa hạt hai bộ ấy, có thể
đề đạt lên Chính phủ xin mở thêm Toà án quân sự ở những nơitrọng yếu khác Về thẩm quyền xét xử, Toà án quân sự xử tất cảnhững người nào phạm vào một việc gì có phương hại đến nềnđộc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trừ trường hợpphạm nhân là binh sỹ thì thuộc về nhà binh tự xử lấy theo quânluật (Điều 2) Toà án quân sự xét xử tất cả các hành vi phạm tộiđược thực hiện trước hoặc sau ngày 19-8-1945 Ngoài ra, đối vớinhững nơi ở xa các Toà án quân sự đã được thành lập theo Sắclệnh này, thì trong những trường hợp đặc biệt, Chính phủ “có thểcho Uỷ ban nhân dân địa phương thành lập một Toà án quân sự
có quyền xử trong một thời kỳ và theo đúng những nguyên tắcđịnh trong Sắc lệnh này” (Điều 7)
1.2 Thiết lập Toà án đặc biệt
Ngày 23-11-1945, Chính phủ ra Sắc lệnh số 64 thiết lập mộtban Thanh tra đặc biệt Điều 1 Sắc lệnh quy định Ban Thanh trađặc biệt có nhiệm vụ “đi giám sát tất cả các công việc và các nhânviên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” Điều 3
Trang 6quy định: “Sẽ thiết lập ngay tại Hà Nội một Toà án đặc biệt để xửnhững nhân viên của các Uỷ ban nhân dân hay các cơ quan củaChính phủ do ban Thanh tra truy tố” Toà án đặc biệt do Chủ tịchChính phủ lâm thời làm Chánh án, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộtrưởng Bộ Tư pháp làm Hội thẩm (Điều 4) Toà án đặc biệt có toànquyền định, có thể tuyên án tử hình Những án tuyên lên sẽ thihành trong 48 giờ (Điều 6) Ban Thanh tra và Toà án đặc biệt đượclập ra chỉ có tính chất tạm thời (Điều 7).
2 Toà án trong giai đoạn từ năm 1946 đến trước công cuộc Cải cách tư pháp năm 1950
2.1 Thiết lập hệ thống Toà án thường
2.1.1 Ngày 24-1-1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời ViệtNam Dân chủ Cộng hoà đã ra Sắc lệnh số 13 về tổ chức các Toà
án và các ngạch Thẩm phán Đây là Sắc lệnh đầu tiên quy địnhmột cách đầy đủ việc tổ chức giải quyết các tranh chấp, xử phạtcác việc vi cảnh ở cơ sở cũng như tổ chức các Toà án và quy địnhtiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của các ngạch Thẩm phán; cụ thểnhư sau:
a Theo quy định ở tiết thứ nhất thì Ban tư pháp xã đượcthành lập ở cơ sở cấp xã “ở mỗi xã, ban thường vụ của Uỷ banhành chính cấp xã gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký (theoĐiều 75 Sắc lệnh số 63 ngày 22-11-1945 tổ chức chính quyềnnhân dân) sẽ kiêm cả việc tư pháp Cả ba uỷ viên trong Ban tưpháp ấy đều có quyền quyết nghị Thư ký giữ công việc lục sự, lưutrữ công văn, làm các giấy tờ, biên bản Mỗi tuần lễ Ban tư phápphải họp ít nhất là một lần, họp công khai ở trụ sở của Uỷ ban”(Điều 2) Ban tư pháp xã có quyền: hoà giải tất cả các việc dân sự
và thương sự; phạt các việc vi cảnh từ năm hào đến sáu đồng bạc(nếu người bị phạt không chịu nộp phạt, thì Ban tư pháp lập biênbản và đệ lên Toà án sơ cấp xét xử); thi hành những mệnh lệnh củacác Thẩm phán cấp trên Ban tư pháp xã không có quyền tịch thutài sản của ai và cũng không có quyền bắt bớ, giam giữ ai, trừ khi
Trang 7có trát nã của một Thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quảtang (Điều 3 và Điều 4).
b Theo quy định ở tiết thứ hai thì “ở mỗi quận (phủ, huyện,châu) có một Toà án sơ cấp, quản hạt là địa hạt quận Nếu cần mộtNghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp có thể thay đổi quản hạtđược” Toà án sơ cấp gồm có: một Thẩm phán, một lục sự và mộthay nhiều Thư ký giúp việc Mỗi tuần lễ, ít ra phải có hai phiên toàcông khai: một phiên hộ và một phiên hình Tại phiên toà, Thẩmphán xét xử một mình, lục sự giữ bút ký, lập biên bản, án từ.Ngoài ra Sắc lệnh còn quy định “ở các thành phố và thị xã, Bộtrưởng Bộ Tư pháp có thể đặt Toà án sơ cấp tổ chức theo cácnguyên tắc nói trên” (Điều 11)
c Theo quy định ở tiết thứ ba thì “ở mỗi tỉnh và ở các thànhphố Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn - Chợ Lớn có một Toà án đệnhị cấp Quản hạt Toà án này theo giới hạn của địa hạt tỉnh haythành phố Nếu cần, một Nghị định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp cóthể thay đổi quản hạt được” Đồng thời tuỳ theo sự quan trọng, cácToà án đệ nhị cấp sẽ chia ra làm bốn hạng do Nghị định của Bộtrưởng Bộ Tư pháp ấn định Ngoài các thành phố kể trên, Bộtrưởng Bộ Tư pháp có thể đặt thêm Toà án đệ nhị cấp ở các thànhphố khác
Về tổ chức trong một Toà án, thì Toà án đệ nhị cấp gồm cómột Chánh án, một biện lý, một dự thẩm, một chánh lục sự vànhững thư ký giúp việc Tuỳ nơi nhiều việc hay ít việc, có thể tăngthêm số Thẩm phán và lục sự, hay để một Thẩm phán kiêm nhiềuchức vụ
Về xét xử thì mỗi tuần lễ, ít ra cũng phải có hai phiên toàcông khai: một phiên hộ và một phiên hình Khi xét xử về dân sự,thương sự, Chánh án xử một mình Khi xét xử các việc tiểu hình,phải có thêm hai viên phụ thẩm nhân dân góp ý kiến (Điều 17).Theo quy định tại Điều 20, thì các trường hợp không thể cùng làmphụ thẩm trong một Toà án bao gồm “các người thân thuộc haythích thuộc với nhau cho đến bậc thứ ba, các người thân thuộc haythích thuộc với các Thẩm phán hoặc với các người đương sự cho
Trang 8đến bậc thứ ba” và “không ai có thể làm phụ thẩm trong một việc
mà mình là người đương sự hoặc đã điều tra, hoặc đã làm chứnghay làm giám định” (Điều 21) Sắc lệnh quy định nhiệm vụ, quyềnhạn và trách nhiệm của phụ thẩm nhân dân rất cụ thể, họ “có bổnphận là lấy trí sáng suốt và lương tâm ngay thẳng ra xét mọi việcrồi phát biểu ý kiến một cách công bằng không vì nể, vì sợ một thếlực nào, vì lợi ích riêng hay tư thù mà bênh vực ai hay làm hại ai.Các phụ thẩm nhân dân phải giữ kín các điều bàn bạc trong lúcnghị án Nếu tiết lộ bí mật ấy ra sẽ bị Toà thượng thẩm phạt từ sáutháng đến hai năm tù” Trước khi mở phiên toà các phụ thẩm nhândân không được đọc hồ sơ, nhưng tại phiên toà họ có quyền yêucầu ông Chánh án (Chủ toạ phiên toà) hỏi thêm các bị cáo và chobiết các tài liệu có trong hồ sơ Ông Chánh án phải hỏi ý kiến cácphụ thẩm về tội trạng của các bị cáo và về hình phạt rồi tự mìnhquyết định Tuy nhiên, về các vấn đề thủ tục, tạm tha và các vấn
đề khác liên quan đến hộ hay thương mại, ông Chánh án khôngphải hỏi ý kiến các phụ thẩm nhân dân
Đối với các việc đại hình, khi xét xử Toà đệ nhị cấp gồm cónăm người cùng ngồi xử và đều có quyền quyết nghị, đó là: Chánh
án Toà đệ nhị cấp ngồi ghế Chánh án (Chủ toạ phiên toà); haiThẩm phán làm phụ thẩm chuyên môn được chọn trong các Thẩmphán của Toà án đệ nhị cấp hay của Toà án sơ cấp trong quản hạt,
do ông Chánh nhất Toà thượng thẩm chỉ định mỗi năm một lần.Tuy nhiên, trong năm, ông Chánh nhất có thể quyết định việc thayđổi hai vị phụ thẩm chuyên môn; hai phụ thẩm nhân dân đượcchọn bằng cách rút thăm ở danh sách các phụ thẩm nhân dân do
Uỷ ban hành chính tỉnh hay thành phố lập vào hồi đầu năm
Theo quy định tại Điều 34, thì Toà đại hình xử sơ thẩm, ôngbiện lý, bị can và nguyên đơn có quyền chống án lên Toà thượngthẩm
d Theo quy định ở tiết thứ tư thì ở mỗi kỳ, có một Toàthượng thẩm; Toà thượng thẩm ở Bắc Kỳ đặt ở Hà Nội; Toàthượng thẩm Trung Kỳ đặt ở Thuận Hoá (Huế); Toà thượng thẩmNam Kỳ đặt ở Sài Gòn Mỗi Toà thượng thẩm gồm có một Chánh
Trang 9nhất, các Chánh án phòng, các hội thẩm, một chưởng lý, một haynhiều phó chưởng lý, những tham lý, một chánh lục sự, các lục sự,những tham tá và thư ký Về cách tổ chức các Toà thượng thẩm và
số các Chánh án, hội thẩm, phó chưởng lý, tham lý và lục sự ở mỗiToà do Bộ trưởng Bộ Tư pháp ấn định “Khi phúc lại các án tiểuhình và đại hình, ngoài ông Chánh án và hai hội thẩm, phải cóthêm hai phụ thẩm nhân dân có quyền quyết nghị và chọn bằngcách rút thăm (Điều 38) Danh sách các phụ thẩm nhân dân tạiToà thượng thẩm có từ 50 đến 100 người chọn trong nhân dân kỳ
và sẽ do Uỷ ban hành chính kỳ lập vào hồi đầu năm sau khi hỏi ýkiến ông chưởng lý Trong việc đại hình, nếu trước Toà thượngthẩm một bị cáo không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử mộtluật sư để bào chữa cho bị cáo
đ Về tổ chức các ngạch Thẩm phán gồm có hai ngạchThẩm phán: ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán sơ cấplàm việc ở Toà sơ cấp, Thẩm phán đệ nhị cấp làm việc ở các Toà
đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm Các Thẩm phán đệ nhị cấp chia
ra làm hai chức vị: các Thẩm phán xử án do ông Chánh nhất Toàthượng thẩm đứng đầu và các Thẩm phán của công tố viện (Thẩmphán buộc tội) do ông chưởng lý đứng đầu Khi xét xử, Thẩmphán quyết định theo pháp luật và lương tâm của mình Khôngquyền lực nào được can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào côngviệc xử án
Trong Sắc lệnh này cũng quy định một cách rất cụ thể vềtiêu chuẩn của Thẩm phán, cách tuyển chọn và đối tượng đượctuyển chọn (bao gồm cả các quan lại cũ đã từng làm Thẩm phán,các lục sự Toà nam án đệ nhị cấp cũ), quyền và nghĩa vụ của Thẩmphán, kỷ luật đối với Thẩm phán và y phục của Thẩm phán
2.1.2 Tuy nhiên, do những khó khăn khách quan trongnhững ngày đầu mới giành chính quyền, việc xây dựng hệ thốngToà án theo Sắc lệnh 13 ngày 24-01-1946 chưa thực hiện đượcđầy đủ ở khắp các địa phương trong toàn quốc Do đó, Chínhphủ đã ra Sắc lệnh số 22-B ngày 18-12-1946 để quyền trợ cấp tưpháp cho Uỷ ban hành chính ở những nơi chưa đặt được Toà ánbiệt lập Theo Sắc lệnh này, ở nơi nào chưa thiết lập được Toà
Trang 10án thì Uỷ ban hành chính sẽ kiêm việc tư pháp; Uỷ ban tỉnh cóquyền hạn như Toà án đệ nhị cấp; Uỷ ban phủ, huyện, châu cóquyền hạn như Toà án sơ cấp.
Ở tỉnh đương sự có quyền chống án lên Toà thượng thẩm(Điều 4) khi phúc thẩm, Toà thượng thẩm chỉ xét về nội dung vụkiện, còn về hình thức, nếu có chỗ sai lầm mà không hại đến nộidung vụ án thì Toà thượng thẩm có thể tuỳ nghi công nhận hiệulực của bản án bị kháng cáo như không có sự sai lầm ấy (Điều 5).2.1.3 Tiếp theo Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946, Chínhphủ đã ban hành Sắc lệnh số 51 ngày 17-4-1946 ấn định thẩmquyền các Toà án và sự phân công giữa các thành viên trong Toà
án Chương thứ nhất của Sắc lệnh quy định cụ thể về thẩmquyền các Toà án
2.1.4 Như vậy, từ sau ngày 13-9-1945 đến sau ngày
24-01-1946, ở nước ta đã có 3 loại Toà án: Toà án Quân sự, Toà án đặcbiệt, Toà án thường Nhằm giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
giữa các Toà án này, chính phủ đã ban hành Sắc lệnh số 43 ngày
3-4-1946 lập ở mỗi kỳ “một hội đồng phân định thẩm quyền giữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường” Sắc lệnh này
cũng đã quy định cách thức giải quyết việc tranh chấp thẩm quyềngiữa Toà án Quân sự, Toà án đặc biệt và Toà án thường
2.1.5 Ngày 9-11-1946, Quốc hội nước Việt Nam dân chủcộng hoà thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta TạiChương VI bản Hiến pháp này quy định về “Cơ quan tư pháp”,theo đó Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoàgồm có: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhịcấp và sơ cấp (Điều 63) Các viên Thẩm phán đều do chính phủ bổnhiệm (Điều 64) Về các nguyên tắc xét xử gồm có: “Trong khi xửviệc hình thì phải có phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ý kiếnnếu là việc tiểu hình hoặc cùng quyết nghị với Thẩm phán nếu làviệc đại hình (Điều 65); Quốc dân thiểu số có quyền dùng tiếngnói của mình trước Toà án (Điều 66); các phiên Toà án đều phảicông khai, trừ những trường hợp đặc biệt Người bị cáo đượcquyền tự bào chữa lấy hoặc mượn Luật sư (Điều 67); trong khi xét
Trang 11xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan kháckhông được can thiệp (Điều 69)”.
Tuy nhiên, thực dân pháp trở lại xâm lược nước ta lần nữa,chiến tranh nổ ra, toàn quốc kháng chiến, nên hệ thống Toà ánchưa tổ chức được theo Hiến pháp 1946
Để đáp ứng công tác xét xử trong hoàn cảnh kháng chiếnngày 29-12-1946 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông lệnh số 12/NV-
CT về tổ chức Tư pháp trong tình thế đặc biệt Bản Thông lệnhnày cùng với bản Thông lệnh số 6/NV-CT ngày 28-12-1946 về tổchức chính quyền trong thời kỳ đặc biệt là những cơ sở pháp lý để
tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án trong thời kỳ khángchiến được linh hoạt Toàn văn Thông lệnh số 12/NV-CT như sau:
“1) Ở mỗi khu, Bộ trưởng Tư pháp sẽ đặt một giám đốc tưpháp để trông coi việc tư pháp trong khu và giúp ý kiến cho Uỷban bảo vệ khu Uỷ ban này mỗi khi ra quyết định gì có liên can
đến tư pháp, bắt buộc phải hỏi ý kiến của giám đốc tư pháp Giám đốc tư pháp đặt dưới quyền kiểm soát của Uỷ ban bảo vệ khu và
trong trường hợp không liên lạc được với trung ương, thì giám đốc
tư pháp đặt dưới quyền điều khiển của Uỷ ban bảo vệ khu.
2) Uỷ ban bảo vệ khu có uỷ nhiệm để thi hành quyền công tốsau khi hỏi ý kiến giám đốc tư pháp Các biện lý và công cáo uỷviên đặt dưới quyền điều khiển trực tiếp của Uỷ ban bảo vệ khu.Các Uỷ ban bảo vệ tỉnh, huyện (phủ hay châu) và xã không có
quyền ra lệnh cho các Toà án Ở trường hợp không liên lạc được
với nhau, thì Uỷ ban bảo vệ khu có thể tạm uỷ quyền cho Uỷ ban
bảo vệ tỉnh để ra lệnh cho biện lý và công cáo uỷ viên thuộc quảnhạt Uỷ ban bảo vệ tỉnh sau khi nghe các ông này bày tỏ ý kiến.Khi liên lạc được thì Uỷ quyền ấy sẽ hết hiệu lực
3) Ở mỗi khu sẽ đặt một hay nhiều Toà án Quân sự Các bộtrưởng Tư pháp và Nội vụ có thể uỷ quyền cho Uỷ ban bảo vệ khu
để lập các Toà án Quân sự
4) Nếu có sự tương tranh giữa Toà án quân sự và Toà án
thường thì Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu, Chánh án Toà án quân sự
Trang 12và giám đốc tư pháp hợp thành hội đồng phân định thẩm quyền.Chủ tịch Hội đồng là chủ tịch Uỷ ban bảo vệ khu.
5) Ở các Toà án thường, nếu tính thế bắt buộc, Chánh án saukhi thảo thuận với biện lý và Chủ tịch Uỷ ban bảo vệ tỉnh, có thể
xử một mình các việc hình mà không cần có phụ thẩm nhân dân
hay chuyên môn.”
2.1.6 Căn cứ vào Thông lệnh tổ chức tư pháp trong tìnhthế đặc biệt, ngày 01-01-1947, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghịđịnh số 5-ĐB tạm đình chỉ công việc xử án của các Toà thượngthẩm, điều thứ nhất Nghị định nêu: “Tạm đình chỉ công việc xử
án các toà Thượng thẩm Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ cho đến khi
có lệnh mới”
Ngày 12-4-1947, Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 44-DB
“thiết lập ở khu một Hội đồng phúc án” Nghị định nêu rõ: “Naythiết lập ở mỗi khu hay trong nhiều khu một Hội đồng phúc án(Điều 1)”; Hội đồng phúc án nói trên sẽ thay thế Toà Thượng thẩm
kỳ để xét lại trong quản hạt, những việc thuộc thẩm quyền ToàThượng thẩm (Điều 2); thành phần Hội đồng phúc án định nhưsau: Một Chánh Hội đồng; hai Hội thẩm do Bộ Tư pháp chỉ địnhtrong các Thẩm phán; hai Hội thẩm do Bộ Tư pháp chỉ định trongcác Thẩm phán và Giám đốc Tư pháp; một thư ký do Giám đốc Tưpháp khu chỉ định, sẽ giữ chức lục sự; về hình sự cũng như dân sự,
sẽ xử không có công tố viên; Trong những việc đại hình và tiểuhình, cách chỉ định phụ thẩm nhân dân sẽ theo pháp luật hiện hành
ở trước các Toà Thượng thẩm (Điều 3) Tiếp đó, Bộ Tư pháp đãban hành Nghị định số 61 DB ngày 9-5-1947 tổ chức các Hộiđồng phúc án, quy định chi tiết thêm về quản hạt và nhiệm vụ củaHội đồng phúc án, thủ tục thi hành (thủ tục tố tụng - chú thích củaBan biên soạn) trước Hội đồng phúc án; các biệt lệ trong việc xét
xử các vụ án hình sự, các vụ án dân sự
Ngày 6-3-1948 Bộ Tư pháp ra Nghị định số 11-MT (sau đó
là Nghị định số 20 MT ngày 24-5-1948 bãi bỏ Nghị định 11-MT)quy định lập Công tố viên tại Hội đồng phúc án
2.1.7 Ngày 26-5-1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 185-SL
ấn định thẩm quyền các Toà án sơ cấp và đệ nhị cấp theo
Trang 13hướng tăng thẩm quyền cho các Toà án này so với Sắc lệnh số
51 ngày 17-4-1946
2.2 Thiết lập hệ thống Toà án binh
2.2.1 Ngày 23-8-1946 Chính phủ ra Sắc lệnh số 163 tổ chứcToà án binh lâm thời đặt ở Hà Nội:
“Điều thứ nhất Trong khi chờ đợi Sắc lệnh tổ chức của Toà
án binh chính thức được ban hành, nay lập một Toà án binh lâmthời trụ sở đặt ở Hà Nội”
Điều thứ 2 Toà án binh lâm thời có thẩm quyền xét xử:
- Các quân nhân phạm pháp bất cứ về một tội gì, trừ nhữngtội vi cảnh thuộc thẩm quyền các Toà án tư pháp và những
“thường tội” định ở điều thứ 49 Sắc lệnh số 71 ngày 22 tháng 5năm 1945 thuộc quyền nghị phạt của các cấp chỉ huy quân đội;
- Những nhân viên các ngành chuyên môn trong quân đội,những người làm việc trong quân đội như công nhân, chủ thầu, khiphạm pháp có liên can đến quân đội;
- Những người thuộc bất cứ hạng nào mà phạm pháp ở trongcác đồn trại, quân y viện, nhà đề lao binh hoặc một cơ quan nàocủa quân đội, hoặc phạm pháp làm thiệt hại đến quân đội
*Ngày 16-2-1947, Chính phủ ra Sắc lệnh số 19-SL Tổ chứccác Toà án binh khu trên toàn cõi Việt Nam (trừ các Toà án binhtại mặt trận):
“Điều thứ 2 - Ở mỗi khu sẽ đặt một Toà án binh Nhưng nếu
xét cần, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có thể ký Nghị định lập thêmtrong khu một hay nhiều Toà án binh ở những nơi quân đội đóng
Điều thứ 3 - Mỗi Toà án binh gồm có:
- Một Chánh án và hai Hội thẩm ngồi xử;
- Một Uỷ viên Chính phủ ngồi buộc tội;
- Một lục sự chép các điều tranh luận, giữ án từ và giấy má.Chánh án là khu trưởng hoặc một quân nhân từ cấp trungđoàn trưởng trở lên, do khu trưởng đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốcphòng chuẩn y
Trang 14Hội thẩm thứ nhất là một Thẩm phán đệ nhị cấp ngạch tưpháp do Giám đốc tư pháp khu đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốcphòng chuẩn y.
Hội thẩm thứ hai là một quân nhân thuộc cấp chỉ huy do khutrưởng đề cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y
Uỷ viên Chính phủ là chính trị viên khu hoặc một quân nhânthuộc cấp chính trị viên trung đoàn trở lên do chính trị viên khu đề
cử và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chuẩn y
Lục sự là một quân nhân do khu trưởng chỉ định
Đối với mỗi chức vụ kể trên, sẽ cử một nhân viên chínhthức và một nhân viên dự khuyết thay nhân viên chính thức khimắc bận
*Ngày 25-4-1947 Chính phủ ra Sắc lệnh số 45 quy định tổchức và hoạt động của Toà án binh tối cao
Điều 1: “Nay đặt một Toà án binh tối cao, quản hạt là toàncõi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”
*Ngày 5-7-1947 Chính phủ ra Sắc lệnh số 59 thành lập Toà
án binh khu trung ương
Điều 1: “Nay đặt tại Bộ Quốc phòng một Toà án binh gọilà: Toà án binh khu trung ương”
2.2.2 Để kịp thời trừng trị những tội phạm xảy ra tại nhữngnơi đang có chiến sự, liên bộ Quốc phòng- Tư pháp đã ra Thônglệnh liên bộ số 11-NV-CT ngày 28-12-1946, số 32-TL-ĐB ngày16-2-1947 và số 60- TT ngày 23-5-1947 về thiết lập Toà án binhtại mặt trận
2.2.3 Như vậy, trước ngày toàn quốc kháng chiến 1946), trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chỉ có một Toà án binh lâmthời đặt tại Hà Nội được tổ chức theo Sắc lệnh 163 ngày 23-8-
(19-12-1946 Nhưng sau đó chính phủ đã ban hành 3 sắc lệnh (Sắc lệnh
163 tự hết hiệu lực) và thông lệnh tổ chức các Toà án binh mới:
- Sắc lệnh số 19- SL ngày 14-2-1947 tổ chức các Toà án binhkhu trên toàn cõi Việt Nam;
Trang 15- Sắc lệnh số 45- SL ngày 25-4-1947 Tổ chức Toà án binhtối cao;
- Sắc lệnh số 59- SL ngày 5-7-1947 tổ chức Toà án binh khuTrung ương
- Thông lệnh liên bộ Quốc phòng - Tư pháp số 60-TL ngày28-5-1947 tổ chức Toà án binh tại mặt trận
Thông tư số 64-TT ngày 06-8-1947 về phân biệt Tòa án binh
và Tòa án thường nêu rõ:
a) Toà án Quân sự có quyền xử tất cả mọi người phạm tội cótính cách chính trị, chỉ trừ khi người phạm tội là binh sĩ thì đểthuộc quyền Toà án binh xử
b) Toà án binh thì có quyền xét xử tất cả quân nhân phạmpháp dù họ phạm vào các tội có tính cách nhà binh hay các tộiđịnh trong hình luật chung
Nên để ý trong sắc lệnh nói rõ là quân nhân nghĩa là nhữngngười tuyển theo quy tắc quân đội Quốc gia Còn các đội cảnh vệ,công an.v.v thuộc hành chính thì vẫn thuộc quyền Tòa án tư pháphoặc Tòa án quân sự tùy từng trường hợp
2.3 Hoàn thiện hệ thống Toà án Quân sự
Ngày 14-02-1946, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 21 về tổchức các Toà án Quân sự, Sắc lệnh này bãi bỏ các Sắc lệnh về Toà
án Quân sự: Sắc lệnh ngày 13-9-1945, ngày 26-9-1945, ngày
29-9-1945, ngày 28-12-29-9-1945, ngày 15-01-1946 Để hướng dẫn thi hànhSắc lệnh số 21 nêu trên, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 82ngày 25-02-1946 Ngày 8-02-1948, bộ Tư pháp ra Thông tư số28/HC định thẩm quyền của Toà án Quân sự Tiếp đó, Chính phủban hành Sắc lệnh số 170-SL ngày 14-4-1948 tổ chức lại các Toà
án Quân sự
2.4 Giải thể Toà án đặc biệt
Ngày 18-12-1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 138-B/SL thànhlập Ban Thanh tra Chính phủ Điều 1 Sắc lệnh quy định: “Nay bãi
bỏ Sắc lệnh số 64 ngày 23-11-1945 thành lập Ban Thanh tra đặc
Trang 16biệt” Như vậy, Sắc lệnh này đã giải thể Toà án đặc biệt đượcthành lập theo Sắc lệnh 64 ngày 23-11-1945
3 Toà án trong giai đoạn cải cách tư pháp 1950 đến 1958
Như vậy, sau gần 5 năm kể từ ngày giành được chính quyền,chúng ta đã bãi bỏ bộ máy tư pháp của chế độ chính quyền, thựcdân, phong kiến, thiết lập những Toà án mới, trong đó có Toà ánQuân sự và Toà án binh Tuy nhiên, các Toà án thường còn mangnặng những ảnh hưởng của nền tư pháp cũ Thực hiện một cáchmáy móc “Toà án tư pháp sẽ độc lập với các Cơ quan hành chính”(Điều 42 Sắc lệnh số 13 ngày 24-01-1946) “Vậy các Toà án trongthời kỳ kháng chiến vẫn độc lập với Uỷ ban hành chính Uỷ bannày không có quyền kiểm soát, điều khiển các Toà án Các Thẩmphán không phải báo cáo với Uỷ ban hành chính” (Thông tư số
693 ngày 25-9-1947 của Bộ Tư pháp)
Mặc dầu Sắc lệnh số 47 ngày 10-10-1945 cho giữ tạm thờicác luật lệ cũ đã chỉ rõ ràng “những điều khoản trong luật lệ cũđược tạm giữ lại do Sắc lệnh này chỉ thi hành khi nào không tráivới nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủcộng hoà” Và Thông tư số 34-NV-TP/CT ngày 7-01-1947 của liên
Bộ Nội vụ - Tư pháp cũng đã chỉ rõ: “Các Thẩm phán phải làmviệc với tinh thần chiến đấu, nêu cao gương hy sinh và xungphong cho dân chúng theo, nên hết sức gần dân, săn sóc đến dân,
đi đến dân chứ không đợi dân đi đến mình”
Nhưng nhiều Thẩm phán trong các Toà án thường lúc đó
đã không chú ý vận dụng các chính sách của Chính phủ vàocông tác xét xử và đã hiểu “độc lập” là “biệt lập”, tức là Toà ánkhông chịu sự lãnh đạo của Đảng, không cần phải phối hợp với
Uỷ ban hành chính, cơ quan công an và đoàn thể nhân dân trongviệc bảo vệ chế độ Tình hình này đã là một trở ngại cho việcphát huy sức mạnh của Nhà nước, cho nên Đảng ta đã lần lượttiến hành một cuộc đấu tranh về tư tưởng và sau đó là cải cách
bộ máy của Toà án
*Trước hết là Sắc lệnh số 85 ngày 22-5-1950
Trang 17+ Về tổ chức: - Bộ máy tư pháp được dân chủ hoá các Toà án
sơ cấp, đệ nhị cấp nay gọi là Toà án nhân dân huyện, Toà án nhândân tỉnh Hội đồng phúc án nay là Toà Phúc thẩm, phụ thẩm nhândân nay gọi là hội thẩm nhân dân
- Thành phần nhân dân được đa số trong việc xét xử: Để xét
xử việc hình và hộ, Toà án nhân dân huyện và tỉnh gồm một Thẩmphán và hai Hội thẩm nhân dân Toà Phúc thẩm gồm hai Thẩmphán và ba hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân có quyền xem
hồ sơ và biểu quyết
- Thành lập hội đồng hòa giải tại mỗi huyện nhằm mục đíchgiao cho nhân dân trực tiếp phụ trách việc hòa giải tất cả các việc
hộ kể cả việc ly dị mà từ trước tới nay chỉ có Chánh án Toà ántỉnh mới có thẩm quyền Biên bản hoà giải thành có chấp hànhlực; đây là một điểm tiến bộ so với thể lệ cũ Khi các đương sự
đã thoả thuận trước hội đồng hòa giải thì việc hoà giải được đemthi hành ngay
- Áo chùng đen của Thẩm phán và luật sư nay bỏ đi
+ Về thẩm quyền:
- Tăng thẩm quyền cho ban tư pháp xã về việc phạt vi cảnh
để làm cho một số việc ít quan trọng về mặt trị an sẽ được giảiquyết mau chóng ngay tại xã
- Giao cho các Toà án nhân dân huyện quyền ấn định cácphương pháp bảo thủ, dù việc xử kiện không thuộc thẩm quyềnToà án nhân dân huyện để tránh cho đương sự khỏi phải tốn phí đilên Toà án tỉnh và những việc cấp bách có thể được giải quyết mauchóng hơn
+ Về tố tụng: Thủ tục tố tụng được hợp lý và giản dị hơn.
Cùng trong năm 1950, ngày 5-6 Chủ tịch Chính phủ ra Sắclệnh số 103-SL quy định “Uỷ ban kháng chiến hành chính các cấp
có nhiệm vụ lãnh đạo và điều khiển các ngành chuyên môn cấptương đương trong đó có ngành Tư pháp bao gồm cả Công tố vàToà án” (Điều 1)
Với yêu cầu là dân chủ hoá và tăng cường các Toà án, Sắclệnh số 158-SL ngày 17-11-1950 đã quy định đưa cán bộ công
Trang 18nông có thành tích và có kinh nghiệm vào làm Thẩm phán màkhông đòi hỏi phải có bằng cấp về luật học Sắc luật này đã tạođiều kiện cho việc nhanh chóng tăng cường cho các Toà án nhândân một đội ngũ cán bộ có quan điểm lập trường cách mạng trongcông tác, làm nòng cốt để xây dựng các Toà án trở thành nhữngToà án thực sự của nhân dân.
Trên cơ sở các Toà án được tăng cường cán bộ cách mạng,Sắc lệnh số 156-SL ngày 22-11-1950 đã quy định việc thành lậpToà án nhân dân liên khu và giao cho các Toà án đó quyền xử cảnhững tội phản cách mạng Từ đó, các Toà án Quân sự đã đượcnhập vào hệ thống Toà án thường và các cán bộ của Toà án Quân
sự lại được tăng cường cho Toà án nhân dân liên khu
*Để “tranh chấp chính quyền với địch trong vùng bị chiếm,thi hành luật pháp chính quyền nhân dân trong vùng bị chiếm đểbảo vệ nhân dân và trừng trị nguỵ quyền”, Chính phủ đã ban hànhSắc lệnh số 157-SL ngày 17-11-1950 tổ chức Toà án nhân dânvùng tạm bị chiếm đóng, mà theo đó trong những vùng tạm bị địchchiếm đóng có thể thiết lập một Toà án gọi là Toà án nhân dânvùng tạm bị chiếm Quản hạt Toà án này có thể là một tỉnh, một sốhuyện trong một tỉnh, hay một số xã trong một huyện hay trongnhiều huyện (Điều 1) Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm có thẩmquyền của Toà án nhân dân huyện, Toà án nhân dân tỉnh và Toà ánquân sự Các bản án đều được thi hành ngay Về việc binh và hộ,Toà án nhân dân vùng tạm bị chiếm thuộc quyền điều khiển củaToà án nhân dân tỉnh Nếu quản hạt của Toà án nhân dân vùng bịtạm chiếm là một tỉnh thì trực thuộc quyền điều khiển của Toà ánnhân dân liên khu hoặc Toà phúc thẩm Về việc xét xử các việcthuộc thẩm quyền Toà án quân sự, Toà án nhân dân vùng tạm bịchiếm thuộc quyền điều khiển của Toà án quân sự liên khu và Uỷban kháng chiến hành chính liên khu Nếu có Toà án nhân dân liênkhu thì thuộc quyền điều khiển của Toà án này
*Thực hiện nhiệm vụ phản phong của cách mạng dân tộc dânchủ, Sắc lệnh số 149 ngày 12-4-1953 đã quy định về chính sáchruộng đất để tiến hành việc phát động quân chủng cải cách ruộngđất Để bảo đảm việc thi hành chính sách ruộng đất, giữ gìn trật tự
Trang 19xã hội, củng cố chính quyền nhân dân, đẩy kháng chiến đến thắnglợi Sắc lệnh số 150 ngày 12-4-1953 đã thành lập các Toà án nhândân đặc biệt ở những vùng phát động quần chúng để cải cáchruộng đất Nhiệm vụ của các Toà án nhân dân đặc biệt là: Trừng trịnhững kẻ phản cách mạng, cường hào gian ác, những kẻ chống lạihoặc phá hoại chính sách cải cách ruộng đất; xét xử những vụtranh chấp về tài sản, ruộng đất có liên quan đến các vụ án trên;xét xử những vụ tranh cãi về phân định thành phần giai cấp.
Các Toà án nhân dân đặc biệt không xử những vụ hình và hộthuộc Toà án nhân dân thường
Những vụ án phản cách mạng phức tạp và phải xét xử lâu dàithì do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu quyết định chuyểnsang Toà án nhân dân thường xét xử
Các Thẩm phán của các Toà án nhân dân đặc biệt chủ yếu làtrung, bần, cố nông trong đó có cán bộ chính trị làm chủ chốt Mộtnửa số Thẩm phán do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh lựachọn, một nửa nữa do Nông hội huyện cử ra Khi làm xong nhiệm
vụ thì các Toà án nhân dân đặc biệt giải tán
II TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1959 ĐẾN NĂM 1980
1 Tại Hội nghị lần thứ 14 (tháng 11 năm 1958) Ban chấp
hành Trung ương Đảng đã chủ trương tăng cường Nhà nước dânchủ nhân dân và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với chínhquyền các cấp từ trung ương đến cơ sở Trong tình hình chung đó
bộ máy nhà nước nói chung, Toà án nhân dân nói riêng được tăngcường và cải cách thêm một bước mới Tại khoá họp lần thứ tám,tháng 4-1958 Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tốicao và Viện công tố nhân dân trung ương, tách hệ thống Toà ánnhân dân và Viện công tố khỏi Bộ Tư pháp
Cũng tại kỳ họp này, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chứcChính quyền địa phương Theo luật này, đơn vị hành chính cấpkhu ở đồng bằng và trung du được bãi bỏ Do đó, ngày 14-8-1959chính phủ đã ra Nghị định số 300- TTg tổ chức lại các Toà án nhân
Trang 20dân phúc thẩm, sáp nhập 6 Toà án nhân dân phúc thẩm thành 3Toà án nhân dân phúc thẩm: Hà Nội, Hải Phòng, Vinh.
Quản hạt của TAND phúc thẩm Hà Nội gồm thành phố HàNội và các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hoà Bình, Hà Nam, NamĐịnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh,Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai
Quản hạt của TAND phúc thẩm Hải Phòng gồm thành phốHải Phòng, khu Hồng Quảng và các tỉnh Hải Ninh, Kiến An.Quản hạt của TAND phúc thẩm Vinh gồm các tỉnh ThanhHoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và khu vực Vĩnh Linh
Thông tư số 92- TC của liên Ngành Bộ Tư pháp, Toà án nhândân tối cao ngày 11-11-1959 giải thích và quy định cụ thể vềnhiệm vụ và quyền hạn của các Toà án nhân dân phúc thẩm HàNội, Hải Phòng và Vinh, nêu rõ:
“Sau khi bỏ các khu hành chính ở đồng bằng và trung du,hướng tổ chức của các Toà án là: dần dần xây dựng TAND huyệnthành TAND sơ thẩm, xây dựng TAND tỉnh thành TAND phúcthẩm để đi tới bỏ các TAND phúc thẩm khu Trong khi chưa xâydựng được các TAND huyện thành TAND sơ thẩm, TAND tỉnhchưa trở thành TAND phúc thẩm thì vẫn cần phải giữ lại cấpTAND phúc thẩm hiện nay Tuy nhiên để làm cho tổ chức của cácTAND phúc thẩm được gọi là hợp lý, Thủ tướng Chính phủ đã raNghị định dồn 6 TAND phúc thẩm cũ ở đồng bằng và trung duthành 3 TAND phúc thẩm TAND phúc thẩm chuyên trách côngviệc xét án không phụ trách công việc lãnh đạo về chương trình kếhoạch, quản lý cán bộ, hướng dẫn về đường lối
Trong việc xử án, thì chủ yếu là công việc xử phúc thẩm.Nhiệm vụ chỉ đạo công tác xét xử của các TAND tỉnh vàthành phố nay tập trung vào TAND tối cao
a) TAND phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các TAND
cấp dưới thông qua án lệ của mình…”
Trang 21Ngày 20-10-1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định
số 381-TTg quy định nhiệm vụ và quyền hạn của TAND tối cao,
cụ thể như sau:
“Điều 1 - Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất.Toà án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Toà ánnhân dân địa phương và Toà án Quân sự các cấp
Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Toà án nhân dân tối cao là:
1 Xử sơ thẩm, chung thẩm những vụ án mà pháp luật quyđịnh thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ
án mà đặc biệt Viện Công tố trung ương hoặc Toà án nhân dân tốicao thấy phải do Toà án nhân dân tối cao xét xử
2 Xử phúc thẩm chung thẩm những vụ án do Toà án cấpdưới xử sơ thẩm trong các trường hợp có kháng nghị của Cơ quancông tố hoặc của đương sự
3 Xử lại hoặc chỉ thị cho Toà án cấp dưới xử lại những vụ án
đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có sai lầm
4 Duyệt lại các án tử hình
Ngoài ra Toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ:
1 Nghiên cứu đường lối chính sách xét xử
2 Nghiên cứu các đạo luật về hình sự và dân sự, hướng dẫncác Toà án áp dụng pháp luật, đường lối chính sách, thi hành cácthủ tục hình sự và dân sự, vạch chương trình công tác, kiểm tracông tác xét xử, tổng kết kinh nghiệm công tác xét xử của Toà áncác cấp
3 Quản lý cán bộ và biên chế Ngành Toà án theo chế độphân cấp quản lý cán bộ và biên chế
Căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổchức và hoạt động của Toà án nhân dân, ngày 14-7-1960, Quốchội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ nhất đãthông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân
Theo Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 thì
“các Toà án nhân dân gồm có: Toà án nhân dân tối cao, các Toà
Trang 22án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự” và “Các Toà ánnhân dân địa phương gồm có: Toà án nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, Toà
án nhân dân ở các khu vực tự trị” “Ở các khu vực tự trị, tổ chứccác Toà án nhân dân địa phương sẽ do Hội đồng nhân dân khuvực tự trị quy định, căn cứ vào Điều 95 của Hiến pháp và nhữngnguyên tắc tổ chức Toà án nhân dân trong luật này” (Điều 2).Điều đáng lưu ý là trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960chỉ quy định có tính chất nguyên tắc về thẩm quyền của các Toà
án nhân dân các cấp, mà không quy định cụ thể về tổ chức củaToà án nhân dân mỗi cấp Trong đạo luật này cũng chỉ quy định
có tính chất nguyên tắc về chế độ bầu cử Thẩm phán, Hội thẩmnhân dân mà cũng không quy định về tiêu chuẩn của Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân
“Để kiện toàn Toà án nhân dân các cấp, tăng cường tính chấtnhân dân của tổ chức Toà án nhân dân và bảo đảm cho việc xét xửđược chính xác và đúng pháp luật” ngày 23-3-1961 Uỷ banthường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh quy định cụ thể về tổchức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhândân địa phương Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh thì “Toà
án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh
án, các Thẩm phán và Thẩm phán dự khuyết Toà án nhân dân tốicao có những tổ chức sau đây: Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhândân tối cao; các Toà chuyên trách của Toà án nhân dân tối cao: cácToà hình sự, Toà dân sự và Toà quân sự; Toà phúc thẩm của Toà ánnhân dân tối cao; Hội đồng toàn thể Thẩm phán Toà án nhân dântối cao” Trong Pháp lệnh này cũng đã quy định một cách cụ thểnhiệm vụ, quyền hạn của mỗi tổ chức tương ứng Mặc dù trong cơcấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao Pháp lệnh không quy định
cụ thể bộ máy giúp việc, nhưng theo quy định tại Điều 6 của Pháplệnh và thực tiễn tổ chức của Toà án nhân dân tối cao trong thờigian này cho thấy còn có bộ máy giúp việc như Văn phòng, các
Vụ tổ chức, tổng hợp, nghiên cứu pháp luật v.v Điều đáng lưu ý
Trang 23là theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 và Pháp lệnh ngày23-3-1961 nói trên thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốchội bầu ra và bãi miễn Nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dântối cao là năm năm Còn Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm phán
dự khuyết và Uỷ viên Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn theo đề nghịcủa Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Một đặc thù theo quy định của Pháp lệnh ngày 23-3-1961nói trên, thì “Hội đồng toàn thể Thẩm phán Toà án nhân dân tốicao có nhiệm vụ duyệt lại các bản án tử hình của Toà án nhân dâncác cấp, căn cứ vào Điều 9 của Luật tổ chức Toà án nhân dân (năm1960)” (Điều 5)
Đối với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương hoặc đơn vị hành chính tương đương, thì theo Luật tổ chứcToà án nhân dân năm 1960, Pháp lệnh ngày 23-3-1961 nói trêngồm có Chánh án, một hoặc nhiều Phó Chánh án và các Thẩmphán Trong cơ cấu tổ chức không chia thành các Toà chuyên tráchnhư Toà án nhân dân tối cao mà chỉ có Uỷ ban Thẩm phán
“Chánh án, Phó Chánh án và các Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tươngđương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn Nhiệm
kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà án nhân dântỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chínhtương đương là bốn năm Uỷ viên Uỷ ban Thẩm phán của các Toà
án nhân dân nói trên do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãimiễn” (Điều 27 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960)
Ngoài chức năng, nhiệm vụ xét xử “Toà án nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tươngđương có nhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp ở địa phương, huấnluyện thư ký cho Toà án địa phương, huấn luyện cán bộ tư phápcho thị trấn và xã, và tổ chức việc tuyên truyền giáo dục pháp luậttrong nhân dân” (Điều 9 Pháp lệnh ngày 23-3-1961)
Theo Luật và Pháp lệnh nói trên thì “Toà án nhân dânhuyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương
Trang 24đương gồm có Chánh án và Thẩm phán, nếu cần thiết thì có PhóChánh án” Toà án này có thẩm quyền: “a) Hoà giải những việctranh chấp về dân sự; b) Phân xử những việc hình nhỏ không phải
mở phiên toà; c) Sơ thẩm những vụ án dân sự; sơ thẩm những vụ
án hình sự có thể phạt từ hai năm tù trở xuống” Ngoài ra, còn cónhiệm vụ xây dựng tổ chức tư pháp và hướng dẫn công tác hoàgiải ở các thị trấn và xã, tuyên truyền giáo dục pháp luật trongnhân dân
Về quản lý các TAND địa phương, Điều 23 Luật Tổ chứcTAND quy định: “ Bộ máy làm việc và biên chế của các TANDđịa phương các cấp do TANDTC hướng dẫn thực hiện theo quyđịnh chung về bộ máy làm việc và biên chế của Cơ quan Nhànước” và Điều 14 Pháp lệnh ngày 23-3-1961 quy định: “Tổ chức
cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhândân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối caohướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làmviệc và biên chế của các cơ quan nhà nước Tổng biên chế của cácToà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dântối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”
Căn cứ vào Điều 95 Hiến pháp năm 1959 và Điều 2 Luật tổchức Toà án nhân dân năm 1960, ngày 9-4-1963 Hội đồng nhândân khu tự trị Tây Bắc đã ban hành Điều lệ “quy định cụ thể về tổchức của Toà án nhân dân các cấp trong khu tự trị Tây Bắc” Điều
lệ này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Quyếtđịnh số 185-TVQH ngày 9-7-1963 Theo Điều 1 của bản Điều lệnày thì “các Toà án nhân dân trong khu tự trị Tây Bắc gồm có: Toà
án nhân dân khu; các Toà án nhân dân tỉnh; các Toà án nhân dânthị xã và huyện” Tại khu tự trị Việt Bắc, Hội đồng nhân dân khu
tự trị Việt Bắc cũng đã ban hành Điều lệ “quy định cụ thể về tổchức của Toà án nhân dân các cấp trong khu tự trị Việt Bắc” Điều
lệ này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tại Quyếtđịnh số 157-NQ-TVQH ngày 2-3-1963 Theo Điều 1 của bản Điều
lệ này thì “các Toà án nhân dân trong khu tự trị Việt Bắc gồm có:
Trang 25Toà án nhân dân khu; các Toà án nhân dân tỉnh; các Toà án nhândân thành phố thuộc tỉnh, thị xã và huyện”.
- Ngày 27-12-1975 Quốc hội khoá V kỳ họp thứ hai đã raNghị quyết “về việc cải tiến các đơn vị hành chính”, bỏ cấp khu tựtrị trong hệ thống các đơn vị hành chính Do đó, TAND khu tự trịViệt Bắc và TAND khu tự trị Tây Bắc được giải thể
Căn cứ vào Hiến pháp mới được Quốc hội thông qua ngày31-12-1959 và Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960, ngày 21-2-1961 Bộ Tổng tham mưu ra Quyết định số 165 quy định tạmthời tổ chức biên chế của ngành Toà án quân sự như sau: “Hệthống Toà án quân sự bao gồm: Toà án quân sự trung ương và cácToà án quân sự ở cấp quân khu, quân binh chủng, sư đoàn trựcthuộc Bộ và tương đương Về quân số Toà án quân sự trung ương
có 15 người, Toà án quân sự quân khu, quân binh chủng và tươngđương có từ 7 đến 9 người, Toà án quân sự sư đoàn trực thuộc Bộ
và tương đương có 6 người”
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhấtnhưng chưa thống nhất về mặt Nhà nước, ngày 15-5-1976 Chínhphủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã banhành sắc luật số 01/SL-76 quy định về Tổ chức TAND và Tổ chứcViện Kiểm sát nhân dân Tiếp đó, Chính phủ cách mạng lâm thờicộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra quyết định số 29-QĐ-76 ngày27-5-1976 thành lập Toà án nhân dân đặc biệt để xét xử các tên tưbản mại bản phạm tội lũng đoạn, đầu cơ tích trữ, phá rối thịtrường Và sau đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định
số 181-NQ/QHK 6 ngày 23-01-1978 giao cho Toà án nhân dân đặcbiệt xét xử những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về trật tự xã hộixảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh như: Giết người, cướp của tốngtiền, bắt cóc, đốt nhà, tổ chức lưu manh trộm cắp, hiếp dâm (Toà
án nhân dân đặc biệt đã được giải thể theo Nghị quyết số NQ-HĐND 7 ngày 01-4-1986 của Hội đồng Nhà nước)
720-Sau cuộc tổng tuyển cử tháng 4 năm 1976, nước ta thốngnhất về mặt Nhà nước và lấy tên là Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam Trong khi chưa có Hiến pháp mới, Quốc hội quyết địnhHiến pháp 1959 được áp dụng cho cả nước và giao cho Hội đồng
Trang 26Chính phủ chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành và xây dựngpháp luật thống nhất trong cả nước Luật Tổ chức Toà án nhân dânnăm 1960 đã được áp dụng trong cả nước và các Toà án nhân dân
ở miền Nam được thành lập nhanh chóng bằng một số lớn cán bộmiền Nam tập kết ra Bắc trở về, cán bộ miền Bắc được chi viện vàvới cán bộ địa phương đã trực tiếp chiến đấu ở miền Nam
Khái quát việc tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dântrong giai đoạn này, chúng ta có thể có mấy nhận xét sau đây:
- Toà án nhân dân ở Việt Nam đã được tổ chức thành một hệthống từ trung ương đến huyện, thị xã phù hợp với điều kiện vàđặc thù của chế độ chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta trong giaiđoạn này
- Các Toà án Binh trước chịu sự chỉ đạo của Bộ Quốc phòngthì nay được gọi là Toà án Quân sự và các Toà án Quân sự cũngnhư các Toà án nhân dân địa phương đều chịu sự hướng dẫn thốngnhất của Toà án nhân dân tối cao về áp dụng pháp luật, đường lốixét xử và cũng đều do Toà án nhân dân tối cao giám đốc công tácxét xử
- Trong tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân bảo đảmtối đa sự tham gia của nhân dân; cụ thể được thể hiện chế độ bầu
cử các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán các Toà ánnhân dân các cấp và thực hiện nguyên tắc xét xử của Toà án nhândân có Hội thẩm nhân dân tham gia và chiếm đa số trong thànhphần Hội đồng xét xử
- Tổ chức Toà án nhân dân theo nguyên tắc kết hợp thẩmquyền xét xử với đơn vị hành chính lãnh thổ
- Toà án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử Điều đó
có nghĩa là Nhà nước ta chú trọng bảo đảm quyền bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của công dân
Việc quản lý các Toà án nhân dân địa phương do Toà ánnhân dân tối cao đảm nhiệm, nhưng thực chất có thể nói tronggiai đoạn này các Toà án nhân dân địa phương song trùng trựcthuộc Toà án nhân dân tối cao chủ yếu quản lý về công tác sắpxếp bộ máy làm việc, số lượng biên chế, trình Uỷ ban thường vụ
Trang 27Quốc hội phê chuẩn tổng biên chế của các Toà án nhân dân địaphương, quản lý về công tác xét xử Uỷ ban nhân dân địaphương quản lý và cấp kinh phí hoạt động cũng như sắp xếpnhân sự; cụ thể Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán do Hộiđồng nhân dân cùng cấp bầu.
Trang 28SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TOÀ ÁN NHÂN DÂN
(Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960; Pháp lệnh quy định cụ thể tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và
tổ chức của Toà án nhân dân địa phương ngày 23-3-1961; Quyết định số 157 ngày 2-3-1963 và Quyết định số
185 ngày 9-7-1963 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn các Điều lệ quy định cụ thể về tổ chức của Toà ánnhân dân các cấp trong khu vực tự trị Việt Bắc và Tây Bắc; Quyết định số 165 ngày 21-2-1961 của Bộ Tổng tham
mưu quy định tạm thời tổ chức biên chế ngành Toà án quân sự)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ủy ban thẩm phán TAND tối cao
Tòa
Tòa phúc thẩm Tòa án quân sự trung ương
Hội đồng toàn thể Thẩm phán
Tòa án nhân dân
khu tự trị Việt Bắc
Tòa án nhân dân khu tự trị Tây Bắc Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương
Các TAQS ở cấp quân khu, quân binh chủng,
sư đoàn trực thuộc Bộ và tương đương
TAND tỉnh trong
khu tự trị Việt Bắc
TAND tỉnh trong khu tự trị Tây Bắc
TAND thị xã,
huyện trong khu tự
trị Việt Bắc
TAND thị xã, huyện trong khu tự trị Tây Bắc
Các TAND huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị
xã hoặc đơn vị hành chính tương đương
Trang 29SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960; Nghị quyết ngày 27-12-1975 của Quốc hội Quyết định số
165 ngày 21-2-1961 của Bộ Tổng tham mưu quy định tạm thời tổ chức biên chế ngành Tòa án quân sự)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ủy ban thẩm phán TAND tối cao
Tòa
Tòa phúc thẩm
Tòa án quân sự trung ương
Hội đồng toàn thể Thẩm phán
Các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương hoặc đơn vị hành chính tương đương Các TAQS ở cấp quân khu, quân binh chủng, sưđoàn trực thuộc Bộ và tương đương
Các TAND huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã
hoặc đơn vị hành chính tương đương
Trang 30III TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1980 ĐẾN NĂM 1992
1 Mùa xuân năm 1975, nhân dân ta đã giành được thắng lợi
trọn vẹn trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mà đỉnh cao là chiếndịch Hồ Chí Minh lịch sử Sau ba mươi năm chiến đấu gian khổmiền Nam, thành đồng Tổ quốc, được hoàn toàn giải phóng Saukhi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhân dân ta tiến hành tổngtuyển cử tự do trong cả nước, thực hiện thống nhất đất nước vềmặt Nhà nước Tháng 7-1976, nước ta lấy tên là Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam Ngày 18-12-1980 Quốc hội nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VI, kỳ họp thứ 7, đã thông quaHiến pháp của nước Việt Nam thống nhất
Các quy định của Hiến pháp năm 1980 về tổ chức và hoạtđộng của Toà án nhân dân được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức Toà
án nhân dân, được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thông qua ngày 3-7-1981 và được sửa đổi, bổ sung theo Luậtsửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Toà án nhân dân, được Quốc hộinước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 22-12-
1988 Theo Điều 2 của đạo luật này thì “các Toà án nhân dân gồmcó: Toà án nhân dân tối cao; các Toà án nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương và cấp tương đương; các Toà án nhân dânhuyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; các Toà án quân sự” và
“Trong tình hình đặc biệt hoặc trong trường hợp cần xét xử những
vụ án đặc biệt, Quốc hội hoặc Hội đồng Nhà nước có thể quyếtđịnh thành lập Toà án đặc biệt” Đối với “ở cơ sở, thành lập các tổchức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạmpháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân, theo quy định củapháp luật”
Về nhiệm kỳ của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Toà
án nhân dân các cấp khác với Luật tổ chức Toà án nhân dân năm
1960 là quy định thời hạn nhất định, thì Luật tổ chức Toà án nhândân năm 1981 quy định theo nhiệm kỳ của cơ quan bầu ra mình.Trong hệ thống Toà án nhân dân, thì Toà án nhân dân tối cao
là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Trang 31Việt Nam, hướng dẫn các Toà án nhân dân địa phương và các Toà
án quân sự áp dụng thống nhất pháp luật và đường lối xét xử, giámđốc việc xét xử của các Toà án đó và tổng kết kinh nghiệm xét xử.Toà án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó Chánh án, cácThẩm phán và các Hội thẩm nhân dân
Về tổ chức, Toà án nhân dân tối cao gồm có: Hội đồng Thẩmphán Toà án nhân dân tối cao; Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dântối cao; Toà hình sự; Toà dân sự; Toà án quân sự cấp cao và cácToà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; khi xét thấy cần thiết, Hộiđồng Nhà nước có thể thành lập các Toà chuyên trách khác theo đềnghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; bộ máy giúp việc củaToà án nhân dân tối cao
Đối với Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương và cấp tương đương có Chánh án, các Phó Chánh án, cácThẩm phán và Hội thẩm nhân dân Về tổ chức gồm có: Uỷ banThẩm phán, Toà hình sự, Toà dân sự; bộ máy giúp việc
Đối với các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh gồm có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, cácThẩm phán và các Hội thẩm nhân dân Ở Toà án cấp này không có
Uỷ ban Thẩm phán và cũng không có tổ chức thành các Toàchuyên trách
Về tổ chức Toà án quân sự, căn cứ vào quy định tại Điều 2của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1981: “Tổ chức của cácToà án quân sự do Hội đồng Nhà nước quy định” và căn cứ vàonhiệm vụ và tổ chức của Quân đội nhân dân Việt Nam, ngày 21-12-1985, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà
án quân sự và được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự, được Hộiđồng Nhà nước thông qua ngày 29-3-1990 Theo Điều 2 của Pháplệnh năm 1985 thì: “Các Toà án quân sự gồm có: Toà án quân sựcấp cao; các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương, cácToà án quân sự khu vực”
Toà án quân sự cấp cao là một Toà án thuộc Toà án nhân dântối cao, gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và
Trang 32Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự quân khu và cấp tươngđương có: Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán và Hộithẩm quân nhân; các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương
có Uỷ ban Thẩm phán và vì chỉ xét xử các vụ án hình sự thuộcthẩm quyền của mình nên trong các Toà án quân sự quân khu vàcấp tương đương không thành lập các Toà chuyên trách Toà ánquân sự khu vực có Chánh án, các Phó Chánh án, các Thẩm phán
và Hội thẩm quân nhân Về tổ chức Toà án quân sự khu vực không
có Uỷ ban Thẩm phán và không thành lập các Toà chuyên trách.Năm 1981 Bộ Tư pháp được thành lập lại và Luật tổ chứcToà án nhân dân năm 1981 đã giao “việc quản lý các Toà án nhândân địa phương về mặt tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảmnhiệm Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà
án nhân dân tối cao trong việc thực hiện nhiệm vụ đó” (Điều 16)
Về quản lý các Toà án quân sự, thì Pháp lệnh năm 1985 đã giao
“Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Bộ trưởng Bộ Quốcphòng và Chánh án Toà án nhân dân tối cao trong việc quản lý vềmặt tổ chức các Toà án quân sự quân khu và cấp tương đương vàcác Toà án quân sự khu vực”
Trang 33SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, được sửa đổi, bổ sung năm 1988
và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự được sửa đổi, bổ sung năm, 1990
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ủy ban thẩm phán TAND tối cao
Tòa
hình
sự
Tòa dân sự
Các Tòa phúc thẩm tại Hà Nội,
việc
Tòa án quân sự cao cấp
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Ủy ban Thẩm phán
Tòa án quân sự quân khu và cấp tương đương
Ủy ban Thẩm phán
Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao
Trang 34IV TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1992 ĐẾN THÁNG 10-2002
Đường lối đổi mới mọi mặt về đời sống xã hội do Đại hội lầnthứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đã tạo tiền đềcho việc nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp năm 1992 - Hiến phápcủa thời kỳ đổi mới đất nước Nhìn chung nhiều quy định củaHiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dânđược kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1980, tuy nhiênmột số quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt độngcủa các cơ quan tư pháp nói chung và của Toà án nhân dân nóiriêng đã thể hiện rõ nét đổi mới các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của các cơ quan này
Thứ nhất là, Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định “trong tìnhhình đặc biệt” và cũng chỉ có “Quốc hội có thể quyết định thànhlập Toà án đặc biệt”
Thứ hai là, Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “chế độ bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳ của Thẩm phán thaythế cho chế độ bầu cử Thẩm phán được quy định trong Hiến phápnăm 1980”
Thứ ba là, nếu trong Hiến pháp năm 1980 quy định nhiệm kỳcủa Hội thẩm Toà án nhân dân tối cao là hai năm rưỡi; nhiệm kỳcủa Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương là hai năm,thì Hiến pháp năm 1992 chỉ khẳng định nguyên tắc là thực hiệnchế độ bầu cử đối với Hội thẩm nhân dân các Toà án các cấp, cònnhiệm kỳ do luật định
Thứ tư là, Hiến pháp năm 1992 bổ sung một quy định mớirất quan trọng làm cơ sở cho việc thành lập các Toà án kháckhi xét thấy cần thiết, ngoài các Toà án đã có ở nước ta trướcnăm 1992
Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992 về
tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, ngày 6-10-1992 Quốchội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họpthứ nhất đã thông qua Luật tổ chức Toà án nhân dân và được sửađổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trang 35tổ chức Toà án nhân dân, được Quốc hội thông qua ngày
28-12-1993 và ngày 28-10-1995 Đồng thời ngày 19-4-28-12-1993 Uỷ banthường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà án quân
sự và ngày 14-5-1993 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thông quaPháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân Có thể nóirằng việc ban hành các đạo luật và các Pháp lệnh cụ thể hoá cácquy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động củaToà án nhân dân là một bước tiến dài trong công cuộc cải cách tưpháp Theo các văn bản pháp luật này thì tổ chức và hoạt động củaToà án nhân dân đã được kiện toàn và đổi mới một bước
Trang 36SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 1993 và năm 1995; Pháp
lệnh tổ chức Tòa án quân sự năm 1993
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tòa
hình
sự
Tòa dân sự
Tòa kinh tế
Tòa hành chính
Tòa lao động
Các Tòa phúc thẩm tại
Hà Nội, Đà Nẵng,
TP Hồ Chí Minh
Bộ máy giúp việc
Tòa án quân sự trung ương
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Tòa kinh tế
Tòa hành chính
Tòa lao động
Tòa án quân sự quân khu và tương đương
Ủy ban Thẩm phán
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Trang 37V TOÀ ÁN NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 10-2002
Nhằm cụ thể hoá các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng
về xây dựng và hoàn thiện Bộ máy nhà nước cũng như những yêucầu cụ thể về dổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tưpháp, trong đó có Toà án nhân dân đã được đề ra trong các nghịquyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Văn kiện của Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, ngày 02-4-2002,tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật tổ chức Toà
án nhân dân mới thay thế Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 10-1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo các Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 28-12-1993 vàngày 28-10-1995
06-So với các quy định trước đây, Luật tổ chức Toà án nhân dânnăm 2002 có một số điểm mới cơ bản sau đây:
Bỏ quy định về tổ chức và hoạt động hoà giải ở cơ sở tạikhoản 2 Điều 2 và quy định về chế độ cử Hội thẩm ở Toà án nhândân tối cao tại Điều 3 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992
Bổ sung một điều luật mới (Điều 11) quy định về chế độ haicấp xét xử Theo quy định này bản án, quyết định sơ thẩm của Toà
án có thể bị kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Toà án cấp trên trựctiếp xét xử phúc thẩm
Sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế quản lý các Toà ánnhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức
Theo quy định tại Điều 16 Luật tổ chức Toà án nhân dânnăm 1992 và Điều 16 Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự thìviệc quản lý các Toà án nhân dân địa phương và các Toà ánquân sự về tổ chức do Bộ trưởng Bộ Tư pháp đảm nhiệm có sựphối hợp chặt chẽ với Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Bộtrưởng Bộ Quốc phòng
Trang 38Nay theo quy định tại Điều 17 Luật tổ chức Toà án nhân dânnăm 2002 thì Toà án nhân dân tối cao quản lý các Toà án nhân dânđịa phương và các Toà án quân sự về tổ chức có sự phối hợp chặtchẽ với Hội đồng nhân dân địa phương và Bộ Quốc phòng Đây làmột bước cải cách tư pháp lớn đối với ngành Toà án nhân dân.Quy định này là sự cụ thể hoá, là việc thực hiện những chủ trương
về cải cách, tổ chức và đổi mới hoạt động các cơ quan tư pháp đãđược khẳng định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng
01 năm 2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâmcông tác tư pháp trong thời gian tới”
Bỏ quy định về Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tối caotại Điều 22 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1992, tức là bỏ một
cơ quan có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm ở Toà án nhân dântối cao
Sửa đổi, bổ sung quy định về thành phần, nguyên tắc hoạtđộng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Thẩm phán Toà ánnhân dân tối cao tại các điều 21 và 22 Luật tổ chức Toà án nhândân năm 2002
Bổ sung một số nhiệm vụ và quyền hạn mới của Chánh ánToà án nhân dân tối cao Do đổi mới cơ chế quản lý các Toà ánnhân dân địa phương và các Toà án quân sự về tổ chức, đồng thờiquán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002của Bộ Chính trị “gắn việc theo dõi, hướng dẫn nghiệp vụ chuyênmôn với việc nhận xét, bố trí, sử dụng cán bộ; phân cấp bổ nhiệmtheo hướng Chủ tịch nước chỉ bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhândân tối cao”; do đó, trong Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002
có bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án Toà án nhândân tối cao về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Chánh án, PhóChánh án, Thẩm phán các Toà án nhân dân địa phương, các Toà ánquân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vựccũng như về quy định bộ máy giúp việc của các Toà án này (cácđiểm 6, 7, 11 và 12 Điều 25)
Bỏ thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm củaPhó Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định tại Điều 26 Luật
Trang 39tổ chức Toà án nhân dân năm 1992 nhằm bảo đảm thống nhất vớiquy định trong các đạo luật khác về tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước là cấp phó giúp cấp trưởng làm nhiệm vụ Mặt khácviệc bỏ quy định này là nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm củaChánh án Toà án nhân dân tối cao trong việc kháng nghị theo thủtục giám đốc thẩm.
Để triển khai thi hành Luật tổ chức Toà án nhân dân năm
2002, ngày 04 tháng 11 năm 2002, Uỷ ban thường vụ Quốc hộicũng đã thông qua Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự thay thế Pháplệnh tổ chức Toà án quân sự ngày 19 tháng 4 năm 1993, trong đóquy định cụ thể cơ cấu tổ chức của Toà án quân sự các cấp, đồngthời sửa đổi, bổ sung một số quy định trước đây để phù hợp vớicác quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002
Trang 40TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Tòa
hình
sự
Tòa dân sự
Tòa kinh tế
Tòa hành chính
Tòa lao động
Các Tòa phúc thẩm tại
Hà Nội, Đà Nẵng,
TP Hồ Chí Minh
Bộ máy giúp việc
Tòa án quân sự trung ương
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Tòa hành chính
Tòa lao động
Bộ máy giúp việc
Tòa án quân sự quân khu và tương đương
Ủy ban Thẩm phán
Bộ máy giúp việc