IV. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ THẨM PHÁN VÀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TÒA ÁN TRONG
5. Nhóm giải pháp về bảo đảm cơ sở vật chất, trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho Tòa án
Xây dựng, phát triển đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức cùng với tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương
tiện làm việc cho Tòa án các cấp là hai mặt của một vấn đề, đó là bảo đảm cho các Tòa án hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình.
Để góp phần bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay đang là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp. Bên cạnh thuận lợi cũng có nhiều khó khăn, trở ngại, vì vậy rất cần có sự đồng thuận của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, phải rất quyết tâm và coi đó là nhiệm vụ chính trị của toàn hệ thống thì mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng này. Theo đó, cần tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cơ bản như sau:
a) Đề nghị Đảng, Nhà nước và lãnh đạo ngành Tòa án nhân dân cần tập trung chỉ đạo, quán triệt về vị trí, vai trò của Tòa án trong bộ máy nhà nước theo tinh thần cải cách tư pháp hiện nay, để qua đó các cấp, các ngành, địa phương và toàn xã hội nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc ủng hộ, tạo điều kiện cho ngành Tòa án nhân dân hoàn thành nhiệm vụ được giao.
b) Xây dựng phương án tăng cường cơ sở vật chất, trụ sở, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho ngành Tòa án từ nay đến năm 2020 và dự báo cho giai đoạn sau năm 2020. Trong đó, có các định mức, tiêu chuẩn phòng làm việc, trang thiết bị, phương tiện cho từng chức danh cán bộ, công chức theo đặc thù ngành Tòa án.
Để thực hiện được những giải pháp đó, ngành Tòa án nhân dân cần tập trung nghiên cứu, xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt các đề án, chương trình, kế hoạch trong công tác bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện và trang thiết bị làm việc cho Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân và xác định thời gian, lộ trình thực hiện từng vấn đề cụ thể, phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị.
BÀI 6:
KỸ NĂNG GIAO TIẾP, ỨNG XỬ CỦA THẨM PHÁN Giao tiếp, ứng xử là một phương thức tồn tại xã hội của loài người, là điều kiện thiết yếu và là con đường để mỗi người hoàn thiện nhân cách, hoạt động của mình. Con người không thể sống và thể hiện giá trị vật chất, tinh thần nếu không được giao tiếp.
Giao tiếp, ứng xử là một trong những kỹ năng căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động nói chung và Thẩm phán nói riêng trong thời đại ngày nay2. Hằng ngày, Thẩm phán thường tiếp xúc với nhiều diện người khác nhau trong nhiều mối quan hệ khác nhau; đòi hỏi việc giao tiếp ứng xử của Thẩm phán phải đạt chuẩn mực đạo đức xã hội và đúng pháp luật.
Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền, xã hội chủ nghĩa - Nhà nước quản lý kinh tế, xã hội bằng pháp luật và hoạt động tuân theo pháp luật. Nghị Quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2001 của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đặt ra trọng trách của các cơ quan tư pháp là xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ thẩm phán - Nhân vật trung tâm của hoạt động tư pháp. Để đáp ứng yêu cầu đó thì vấn đề đổi mới tư duy, hành động của Thẩm phán là nội dung quan trọng vì Thẩm phán là một trong những người hoạt động nhân danh pháp luật, nhân danh công lý và lấy quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp làm chuẩn mực cho hành vi ứng xử.
Trong bộ máy Nhà nước Tòa án nhân dân có vị trí quan trọng, là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính. Thẩm phán khi giải quyết các
2http://toquoc.vn (Mười kỹ năng gồm: Learning to learn (học cách tự nghiên cứu); self leadership & personal branding (tự lãnh đạo và xây dựng thương hiệu cá nhân);
initiative and enterprise skills (kỹ năng liên quan đến sáng kiến và doanh nghiệp);
planning and organizing skills (kỹ năng xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch);
listening skills (kỹ năng nghe); presentarion skills (kỹ năng thuyết trình); interpersonal skills (kỹ năng giao tiếp); problem solving skills (kỹ năng giải quyết vấn đề);
teamwork (làm việc nhóm); negotiation skills (kỹ năng đàm phán).
vụ việc trên đều hướng tới mục đích bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do và danh dự nhân phẩm của công dân; giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nâng cao ý thức pháp luật, tôn trọng quy tắc của cuộc sống xã hội, tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pháp luật khác. Việc nhận thức được bản chất các mối quan hệ và các quy tắc giao tiếp, ứng xử sẽ giúp cho thẩm phán có được sự chuẩn mực và vững tâm khi hành nghề. Vì vậy nâng cao kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho thẩm phán là một nội dụng quan trọng và cấp thiết.