Yêu cầu về chất lượng đối với đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 148 - 151)

Từ các đặc trưng cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân phải đảm bảo các yêu cầu về chất lượng như sau:

2.1. Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức người công chức Phẩm chất, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất đối với đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Toà án nhân dân. Đó là sự trung thành và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tuỵ, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân.

Đạo đức của người Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân gồm hai mặt cơ bản: đạo đức cá nhân và đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức cá nhân, trước hết thể hiện ở ý thức, niềm tin vào định hướng xã hội chủ nghĩa; quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Ngoài ra, phẩm chất đạo đức cá nhân còn được thể hiện ở tinh thần và ý thức, biết tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái, vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bạn bè và trong xã hội, có tinh thần hướng thiện, hiếu học. Đạo đức nghề nghiệp, đó là ý thức và trách nhiệm pháp lý đối với nghề nghiệp mà họ theo đuổi.

Đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán và cán bộ, công chức thể hiện trước hết ở tinh thần trách nhiệm cao và đề cao kỷ luật trong thi hành công vụ. Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp những điều kiện khó

khăn, phức tạp. Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người Thẩm phán và cán bộ, công chức phải tiết kiệm không chỉ cho bản thân mình mà cao hơn, quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước, nhờ đó chống được bệnh lãng phí thường xảy ra trong các cơ quan nhà nước. Đạo đức nghề nghiệp còn được thể hiện ở sự ngay thẳng, công bằng, tận tâm, thực thi công vụ theo pháp luật và kỷ cương phép nước. Dù ở bất kỳ vị trí nào trong bộ máy nhà nước, người Thẩm phán và cán bộ, công chức đều phải luôn luôn đề cao đạo đức công chức, đạo đức nghề nghiệp.

2.2. Yêu cầu về văn hoá

Văn hoá là hình thức ứng xử văn minh khoa học, nhân ái và dân chủ của mỗi cán bộ, công chức, của đội ngũ cán bộ, công chức trong mối quan hệ. Văn hóa là cơ sở để hình thành tác phong, phong cách và lối sống của người cán bộ, công chức, văn hóa là nền tảng tạo nên tư chất, cốt cách của người cán bộ, công chức.

Nhờ có văn hóa người công chức biết cư xử đúng mực, dân chủ và văn minh hơn trong thực thi công vụ: đấu tranh chống lại các hiện tượng chuyên quyền, độc đoán, máy móc trong giải quyết công việc và thực thi công vụ.

Yêu cầu về văn hoá đòi hỏi người Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án phải có kiến thức liên ngành cần thiết, nắm vững kiến thức pháp luật, tri thức cao về văn hoá, văn minh của dân tộc, của nhân loại, có hiểu biết sâu sắc về lịch sử và truyền thống văn hiến của dân tộc để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc áp dụng trong thực thi công vụ.

2.3. Yêu cầu về trí tuệ

Trong điều kiện mặt bằng dân trí của xã hội ngày càng được cải thiện, tri thức khoa học - công nghệ của thế giới đang tăng lên nhanh chóng, ngày càng phong phú và đa dạng, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải có trình độ kiến thức và năng lực tư duy khoa học, năng lực vận dụng thực tiễn sáng tạo, nhạy bén, độc lập, trí tuệ cao.

Yêu cầu trí tuệ hoá buộc người Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án phải không ngừng học tập để nâng cao trình độ kiến thức và năng lực trí tuệ của mình, đồng thời Nhà nước và ngành cần phải có chính sách, chế độ và tạo điều kiện để Thẩm phán và cán bộ, công chức được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng bổ sung những tri thức mới của khoa học và công nghệ hiện đại nhằm thực thi công vụ hiệu quả nhất.

2.4. Yêu cầu chuyên môn hoá, hiện đại hóa đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức Tòa án

Mục tiêu xây dựng đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân trong sạch, vững mạnh và chính quy, hiện đại đặt ra yêu cầu phải chuyên môn hoá, hiện đại hoá đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức với tư cách là nòng cốt của nền tư pháp nước ta.

Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân nói chung, mà nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ Thẩm phán là phải được đào tạo để có kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi; chuyên môn hoá phải đi đôi với trí tuệ hoá, làm cho mỗi Thẩm phán, cán bộ, công chức trong từng lĩnh vực có trình độ cao, vừa có kiến thức, vừa có năng lực và trình độ chuyên môn sâu. Bên cạnh đó phải tạo được một lực lượng chuyên gia đầu ngành của từng lĩnh vực, những người có trình độ, năng lực chuyên môn sâu sắc hơn và uyên thâm hơn về lý thuyết, tinh thông, thành thạo hơn về nghiệp vụ và cao hơn về năng lực thực tiễn.

Để làm được điều đó song song với việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn chặt chẽ, Nhà nước phải có chế độ, chính sách đãi ngộ thoả đáng. Đồng thời, phải xây dựng được quy chế hoạt động đặc thù phù hợp với tính chất và tầm quan trọng của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân, mà đặc biệt là đối với đội ngũ lãnh đạo trong cơ quan Toà án cần có những yêu cầu đặc thù triêng, đó là bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và

vì dân; có năng lực tổng kết thực tiễn và dự báo, định hướng sự phát triển; mẫu mực về đạo đức, lối sống, có tác phong dân chủ, khoa học; biết tập hợp quần chúng, đoàn kết tập thể, cơ quan, đơn vị và cộng đồng; có kiến thức về khoa học và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý, có bề dày kinh nghiệm thực tiễn.

Một phần của tài liệu CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO THẨM PHÁN PHẦN CHUNG (Trang 148 - 151)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(214 trang)
w