Thủ pháp là tuân thủ nghiêm công Đối với người cán bộ Tòa án, “Phụng công, thủ pháp” ngày nay đã được cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân Pháp l
Trang 1TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Trang 28 Tòa án nhân dân tối cao TAND tối cao
Trang 4Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của Cáchmạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.Người đã để lại cho chúng ta di sản tinh thần to lớn, những tư tưởng vô giá,những giá trị nhân văn cao cả, đặc biệt là Tư tưởng đạo đức cách mạng sángngời Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng chói cho toànĐảng, toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.
I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NGUỒN GỐC VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
1 Nguồn gốc Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nghiên cứu, tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cần tìm hiểu vềnguồn gốc hình thành Tư tưởng của Người Tư tưởng Hồ Chí Minh - Tư tưởngcủa một Vĩ nhân, một Nhà hoạt động cách mạng, một danh nhân Văn hóa thếgiới, một con NGƯỜI được nhân loại viết hoa trong thế kỷ XX Do đó, nghiêncứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, không thể không nghiên cứu quá trình sinh thành,học tập, hoạt động thực tiễn, những yếu tố tác động để hình thành nên Tưtưởng của Người
Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng và Tư tưởng Hồ ChíMinh (Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), nguồn gốc Tưtưởng Hồ Chí Minh được hình thành bởi các yếu tố sau: Chủ nghĩa yêu nướcViệt Nam, Tinh hoa văn hóa nhân loại, Chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân cách vàquá trình hoạt động thực tiễn của Người Các yếu tố trên được hòa trộn, nhuầnnhuyễn, củng cố, phát triển và ngày càng hoàn thiện trong con người của Báctrong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Vậy, cụ thể các yếu tố
đó tác động đến con người của Bác ra sao?
1.1 Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
Kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước của dân tộc, Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyềnthống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinhthần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướtqua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướpnước” (Hồ Chí Minh toàn tập, t 6, tr.171)
Trang 5Sức mạnh của Chủ nghĩa yêu nước truyền thống đã thúc đẩy Hồ ChíMinh ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân Chủ nghĩa yêu nước trở thành độnglực chi phối mạnh mẽ đến suy nghĩ, hành động của Người Người đã lấy tênNguyễn Ái Quốc để khẳng định ý chí cứu nước và cổ vũ đồng bào đồng chí.Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở tư tưởng dẫn Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa
Mác – Lênin, như sau này Người khẳng định: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa Cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thư Ba” (Sách đã dẫn, t.10, tr.128).
Hồ Chí Minh khi tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin đã kế thừa truyềnthống yêu nước tốt đẹp của dân tộc, nhưng Người phát triển chủ nghĩa yêunước Việt Nam lên một tầm cao mới : Gắn dân tộc với thời đại; chủ nghĩa yêunước chân chính gắn liền với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giảiphóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người
1.2 Tinh hoa văn hóa của nhân loại
Tiếp thu những tinh hoa đạo đức Nho giáo, Hồ Chí Minh cũng đồng thờiphê phán và phủ nhận những quan điểm chính trị, đạo đức lạc hậu, Người viết:
“ Những ông vua tôn sùng Khổng Tử không phải chỉ vì ông không phải làngười cách mạng, mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ
có lợi cho họ Họ khai thác Khổng giáo như bọn đế quốc đang khai thác Ki – tôgiáo” Với cách nhìn cách mạng và khoa học, Hồ Chí Minh nêu phương châmtiếp nhận tinh hoa văn hóa cho mình và cho đồng bào mình, rằng: “Còn nhữngngười An Nam chúng ta, hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cáchđọc các tác phẩm của Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tácphẩm của Lênin” (Sách đã dẫn, t.2, tr.453,454)
Thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh không chỉ học chữ Nho, mà còn học chữPháp trong các trường thời thuộc địa Những tư tưởng tiến bộ của các cuộccách mạng tư sản phương Tây gây cho Người sự chú ý đặc biệt: “ Khi tôi độmười ba tuổi, lần đầu tiên được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bácái…tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm hiểu xem những
gì ẩn đằng sau những chữ ấy” (S.đ.d, t.1, tr.477)
Thời kỳ 1911-1920 (Tìm đường cứu nước), trước khi đến với chủ nghĩaLênin, Hồ Chí Minh đã dày công nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản ở cácnước Mỹ, Anh, Pháp; nghiên cứu các tác phẩm của các nhà tư tưởng cáchmạng dân chủ tư sản như Rút-xô, Mông-tex-ki-ơ… Người tiếp nhận có phêphán những tư tưởng tiến bộ của nền văn hóa phương Tây, đồng thời vạch rõnhững bất công trong xã hội tư bản
Tựu trung, những hiểu biết của Người về Khổng Tử, về văn hóa phươngTây, Tôn Trung Sơn… đã góp phần quan trọng vào việc hình thành tư tưởng
Trang 6Tháng 12/1920, Người tham gia Đại hội Tua của Đảng xã hội Pháp, bỏphiếu tán thành Quốc tế thứ Ba và trở thành một trong những người sáng lậpĐảng Cộng sản Pháp Đây là dấu mốc quan trọng, đánh dấu bước ngoặt cănbản trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đóng vai trò quyết địnhhình thành tư tưởng Hồ Chí Minh Bắt đầu từ đây, Người dựa trên nền tảngtriết học mácxit để xem xét thế giới, đứng trên lập trường chính trị của giai cấp
vô sản để vạch ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Sau này, Người khẳng định: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng vềchủ nghĩa Mác - Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp của chủnghĩa Mác - Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích mộtcách đúng đắn những đặc điểm của nước ta Có như thế, chúng ta mới có thểdần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra nhữngđường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩathích hợp với tình hình nước ta” (Sách đã dẫn, t.8, tr.494)
Hồ Chí Minh đề cao lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Lênin; coi học thuyết đó như “Cẩm nang thần kỳ” trên quan điểm, tinh thầnbiện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin để giải quyết đúng đắn những vấn đềthực tiễn, đem lại thắng lợi cho cách mạng Người nhấn mạnh và đòi hỏi phảitổng kết thực tiễn để bổ sung và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin: “Dùsao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cáchđưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được” (S ách
Mác-đã dẫn t.1, tr.465) Theo Người, Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hànhđộng, chứ không phải là kinh thánh Chúng ta hiểu rằng, Hồ Chí Minh vậndụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách sáng tạo, thích hợp với tìnhhình thực tế của đất nước Nhìn lại lịch sử những năm năm mươi, sáu mươicủa thế kỷ trước, chúng ta càng thấy rõ quan điểm của Bác là hoàn toàn đúngđắn, có tầm nhìn xa trông rộng; một số đồng chí có biểu hiện vận dụng chủnghĩa Mác - Lê nin một cách máy móc, dập khuôn vào thực tiễn nước ta đãgặp phải khó khăn, thậm chí thất bại
1.4 Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
Tư tưởng là sản phẩm của tư duy con người, do con người tổng kết từnhững hoạt động thực tiễn Mọi người bình thường đều có hoạt động tư duy vàhoạt động thực tiễn, nhưng không phải mọi người đều trở thành nhà tư tưởng.Bởi ngoài những yếu tố khách quan, còn phụ thuộc vào một yếu tố chủ quan
có ý nghĩa quyết định là: Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của từng cá nhân.
Hồ Chí Minh là một Nhà tư tưởng, như nhân loại tiến bộ đã khẳng định:
“Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và một nhà tư tưởng mácxit – lêninnit vĩđại của thế giới” (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, Nxb Sự thật 1979,tr.143) Bên cạnh những yếu tố nguồn gốc như đã trình bày ở trên, còn có một
yếu tố quan trọng, giữ vai trò quyết định là: Nhân cách và quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Người.
Ngay từ thời trẻ tuổi, Hồ Chí Minh đã nuôi trong mình hoài bão đượccống hiến đời mình cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân Trong thời gian hoạt
Trang 7động ở nước ngoài, Người tiếp thu tư tưởng tiến bộ, xác định mục đích cuốicùng của những người dấn thân đi làm cách mạng là: Giải phóng con người.
Do vậy, Người đã nói: “…Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tộtbậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn
tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” (S.đ.d,t.4, tr.161)
Hoài bão lớn lao đó của Người được thực hiện bởi một ý chí mãnh liệt,một nghị lực phi thường để vượt qua những thử thách khắc nghiệt của lịch sử.Đồng thời, Hồ Chí Minh còn là Con Người đầy lòng nhân ái, bao dung, khiêmtốn, giản dị trong cuộc sống Người có tư chất thông minh, tư duy độc lập vàsáng tạo, nhạy bén với cái mới, có tầm nhìn xa trông rộng
Thực tiễn đấu tranh gian khổ và phong phú của Người được tích lũy,sàng lọc và phát triển thành hệ thống những luận điểm khoa học và cách mạng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Sơ lược quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
2.1 Từ thời thơ ấu đến khi trưởng thành (1890-1911)
Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) sinh ra và lớn lêntrong một gia đình có truyền thống Nho học trong hoàn cảnh đất nước dướiách nô lệ của thực dân Pháp Thực tiễn bi hùng của đất nước, cùng với sựgiáo dục của gia đình về truyền thống đấu tranh anh dũng, truyền thống đạo lýnhân ái của dân tộc đã hình thành nên nhân cách lớn ở người thanh niênNguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành Thời kỳ này, Người được trang bịnhững tinh hoa của văn hóa Phương Đông, những kiến thức về nhân sinh, vũtrụ, đạo đức phương Đông trở thành vốn tư tưởng phong phú của Người.Đây cũng là thời kỳ Người bước đầu tiếp cận với văn minh phương Tây.Khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” cùng những tác phẩm văn học Pháp màNgười tiếp cận ở nhà trường, đã khơi dậy lòng ham hiểu biết, hướng sangphương Tây để tìm hiểu sự thật ẩn giấu đằng sau những mỹ từ ấy
2.2 Thời kỳ tìm đường cứu nước (1911-1920)
Tháng 6/1911, Nguyễn Tất Thành ra nước ngoài tìm đường cứu nước.Người sang Pháp, vòng quanh Châu Phi, dừng ở Mỹ một năm (1912-1913),sang Luân Đôn sống từ 1914-1917 Cuối năm 1917 Người trở lại Pháp
Quá trình lao động cơ cực để kiếm sống, đã tạo điều kiện cho Ngườiđược tiếp xúc với những người lao động ở các nước, hiểu được nỗi khổ cựccủa họ và thấu hiểu rằng: Dù ở đất nước nào, các dân tộc bị áp bức cũng cónỗi khổ như nhau, đều có kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân đế quốc
Người trực tiếp chứng kiến thành công của cách mạng Tháng mười Nga(1917); Chiến tranh thế giới kết thúc, các nước thắng trận họp Hội nghị Véc-xây để chia lại thị trường thế giới; Thay mặt những người Việt Nam yêu nước,Người đã gửi đến Hội nghị này Bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” đòi thừanhận quyền tự do, bình đẳng, dân chủ của nhân dân ta nhưng không đượcchấp nhận Người đã rút ra kết luận: Chủ nghĩa Uyn Sơn chỉ là một trò bịp lớn,
các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của chính mình.
Trang 8Tháng 7-1920, qua nghiên cứu “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, Người đã tìm thấy con
đường cứu nước, Người đã thốt lên: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Tháng 12-1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội XVIII của Đảng xã hộiPháp Người từ bỏ Đảng xã hội và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trởthành Người cộng sản Đây là bước ngoặt quan trọng, quyết định trong quátrình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh - từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủnghĩa cộng sản, trở thành người cộng sản
2.3 Thời kỳ tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành về cơ bản (1920-1930)
Thời kỳ này (1920-1929), Bác tham gia Đảng cộng sản Pháp và Quốc tếcộng sản Người chuyển tài liệu về nước, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vàviết nhiều bài báo tố cáo chủ nghĩa thực dân bóc lột thuộc địa Trên cơ sở đó,Bác viết cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925) Tác phẩm này đượcđánh giá là “…đã thực sự mở ra một giai đoạn mới trong những lý luận về vấn
đề dân tộc và thuộc địa” (Hồ Chí Minh trong lòng nhân dân thế giới, 1979,tr.90)
Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Bác đã nêu bật luậnđiểm về vấn đề dân tộc và thuộc địa, có 2 vấn đề cơ bản là: 1- Quan hệ biệnchứng giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc
ở các nước thuộc địa; 2- Chiến lược, sách lược của cách mạng giải phóng dântộc (mục tiêu, nhiệm vụ, lực lượng, phương pháp, đối tượng cách mạng, quan
hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới…)
Năm 1924, Bác về Quảng Châu (Trung Quốc) Người thành lập Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên, tổ chức tiền thân của Đảng (6-1925) Năm 1927,Người mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng với tập bài giảng được xuất bảnthành sách “Đường Cách mệnh”
Chính từ những hoạt động của Bác, truyền bá tư tưởng Mác-xít về trongnước, tính chất cuộc đấu tranh của công - nông, nhân dân ta trong nước đãthay đổi về tính chất: Từ tự phát chuyển lên tự giác; các tiền đề về tư tưởng,chính trị, tổ chức cho việc thành lập Đảng đã chín muồi Ngày 3/2/1930,Nguyễn Ái Quốc đã đại diện Quốc tế cộng sản triệu tập Hội nghị hợp nhất 03
tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,Đông Dương Cộng sản liên đoàn) thành lập một Đảng thống nhất, lấy tên làĐảng Cộng sản Việt Nam
Tại Hội nghị này, đã thông qua các văn kiện quan trọng do Bác soạnthảo: “Chánh cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt”, “Chương trình vắn tắt’, “Điều
lệ vắn tắt’ và “Lời kêu gọi” Các văn kiện này được xem là Cương lĩnh chính trịđầu tiên của Đảng ta
Với “Bản án chế độ thực dân Pháp” và “Đường cách mệnh” cùng cácvăn kiện quan trọng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam (3/2/1930), Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hình thành về cơ bản
2.4 Thời kỳ kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng trước thử thách cam go (1930-1940)
Trang 9Nguyễn Ái Quốc bị thực dân Anh bắt giam ở Hồng Kông (6-1931), thựcdân Anh - Pháp câu kết đàn áp những người cộng sản Với sự giúp đỡ củaQuốc tế cứu tế đỏ và Luật sư Lô-Dơ-Bai, Bác được trắng án và trở lại Liên Xôđầu năm 1934.
Thời kỳ này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế chịu ảnh hưởngtác động của sai lầm “tả” khuynh nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng Do khôngnhận thức rõ tình hình Việt Nam và đường lối chính trị của Nguyễn Ái Quốc,những người cộng sản “tả” khuynh đã phê phán Nguyễn Ái Quốc mắc sai lầmchính trị “hữu khuynh”, “Dân tộc chủ nghĩa”
Nguyễn Ái Quốc không hề nao núng, vì không chỉ nghĩ đến lợi ích cánhân, với tầm nhìn xa trông rộng, Người vẫn kiên trì quan điểm cách mạng củamình Tiếp đó, Người học tập tại Trường đại học quốc tế mang tên Lênin, họcnghiên cứu sinh ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc
tế cộng sản
Đại hội VII Quốc tế cộng sản (1935) đã phê phán những quan điểm sailầm “tả” khuynh trong phong trào cộng sản, quyết định chuyển hướng chỉ đạochiến lược đối với cách mạng thế giới Thực tiễn đó đã chứng minh tính đúngđắn của Tư tưởng Hồ Chí Minh
2.5 Tư tưởng Hồ Chí Minh được bổ sung, phát triển thành hệ thống
lý luận hoàn chỉnh (1941-1969)
Tháng 1-1941, Bác từ nước ngoài về nước, trực tiếp lãnh đạo cáchmạng Việt Nam Tháng 5-1941, Bác triệu tập Hội nghị Trung ương 8, chuyểnhướng chỉ đạo chiến lược và khẳng định: Tạm gác khẩu hiệu “Người cày córuộng”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập Mặt trận dântộc thống nhất, tập hợp lực lượng rộng rãi toàn dân Với đường lối cứu nướcđúng đắn của Đảng và Bác (kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang), Cáchmạng Tháng Tám năm 1945 đã thắng lợi (Ngày 2/9/1945 Bác đọc tuyên ngônkhai sinh Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
Với tư tưởng và đường lối chính trị đúng đắn của Đảng và Bác, Dân tộc
ta đã kiên quyết chống lại thù trong giặc ngoài (1945-1946); tiến hành cuộckháng chiến chống lại thực dân Pháp xâm lược (1946-1954); Xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa kháng chiến chống Mỹ vừa giải phóng miền Nam(1954-1969)…
Bác đã tiếp tục bổ sung, phát triển tư tưởng với hàng loạt những vấn đề
cơ bản về lý luận cách mạng (Con đường cách mạng Việt Nam; Vấn đề xâydựng Đảng; Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đường lối quân sự
và chiến tranh nhân dân; chiến lược Đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế;xây dựng nền văn hóa mới, con người mới, nền đạo đức mới; phương phápCách mạng.vv )
Với cả cuộc đời hoạt động, cống hiến cho dân, cho nước, với sự sángtạo và biện chứng cả trong lý luận và thực tiễn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lạicho Đảng ta, dân tộc ta di sản tinh thần hết sức quý báu, một hệ thống luận
điểm toàn diện và sâu sắc: Tư tưởng Hồ Chí Minh.
II ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG - BỘ PHẬN CẤU THÀNH CƠ BẢN, CHỦ YẾU CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.
Trang 10Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống luận điểm, lý luận khoa học, toàndiện về nhiều lĩnh vực của cách mạng được hình thành đúc kết trong suốt cuộcđời hoạt động cách mạng lâu dài, gian khổ của Người Cho đến nay, nhữngnhà nghiên cứu về lịch sử Đảng, về tư tưởng Hồ Chí Minh đã đúc rút, tổng kếtnhững vấn đề, những yếu tố cấu thành Tư tưởng của Người, bao gồm:
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnhthời đại;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân sự;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đại đoàn kết;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Văn hóa;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đạo đức, nhân văn.v.v
Trong đó, bộ phận cấu thành cơ bản, có ý nghĩa quan trọng của tưtưởng Hồ chí Minh chính là: Đạo đức cách mạng (có thể hiểu là Đạo đức củaNgười cán bộ cách mạng, vì Bác đã từng dạy rằng: “Đạo đức là cái gốc củangười cán bộ cách mạng”, “Cán bộ nào, phong trào nấy” “Muốn xây dựng chủnghĩa xã hội, phải xây dựng con người chủ nghĩa xã hội”…)
1 Đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng
Muốn hoàn thành nhiệm vụ, muốn được dân tin yêu, mến phục, ngườicán bộ cách mạng phải có đủ cả tài và đức Tài và đức đều quan trọng, khôngthể thiếu mặt nào ở người cán bộ Đảng ta và Bác Hồ luôn coi trọng cả tài vàđức Song, trong mối quan hệ đó, tài hay đức giữ vai trò quyết định sự tồn tại
và phát triển của người cán bộ Đảng viên?
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức là cái “gốc” của người cách
mạng Người khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Sách đã dẫn, t.5, tr.252-253).
Tư tưởng đạo đức của Người được thể hiện trong các tác phẩm “Đườngcách mệnh” (1927), “Sửa đổi lối làm việc” (1947), “Cần, kiệm, liêm, chính”(1949), “Đạo đức cách mạng” (1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng quétsạch chủ nghĩa cá nhân” (1969) và “Di chúc” (1965-1969) Người cán bộ cáchmạng có đạo đức thì khi gặp khó khăn, gian khổ cũng không chùn bước; khithuận lợi, thành công cũng không tự mãn, kiêu ngạo Đối với Đảng ta, mộtĐảng cầm quyền, đạo đức cách mạng là nền tảng tinh thần của Đảng, giúpĐảng thêm trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo tin cậy củatoàn dân, toàn xã hội
Trang 11Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, người cán bộ cách mạng cần phải cónhững chuẩn mực đạo đức cơ bản sau: a) Trung với nước, hiếu với dân; b)Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; c) Nhân, nghĩa, trí, dũng, tín.
1.1 Trung với nước, hiếu với dân
Thời Phong kiến quan niệm rằng: Trung là trung thành với cá nhân VuaChúa; Hiếu là hiếu với cha mẹ Theo Bác, Trung là trung thành tuyệt đối với Tổquốc, với Đảng, với nhân dân; Hiếu không những chỉ hiếu với cha mẹ, mà còn
là hiếu với nhân dân, tuyệt đối trung thành phục vụ nhân dân, lấy “dân làmgốc”, vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ, công bộc của dân Ngườiyêu cầu cán bộ cách mạng phải “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, nhưvậy mới được dân tin yêu, mến phục, do đó mà hoàn thành nhiệm vụ cáchmạng của mình
1.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Hồ Chí Minh khái quát những phẩm chất đạo đức cơ bản của người cán
bộ Đảng viên trong 8 chữ: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Người chỉ ra
rằng: Để xây dựng một bộ máy Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh,không có hiện tượng tham ô, lãng phí đòi hỏi mỗi cán bộ Đảng viên phải triệt
để thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Người nói:
Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính
Thiếu một mùa không thành trời
Thiếu một phương không thành đất
Thiếu một đức không thành người (S.đ.d, t.5, tr.631)
Người đã viết hẳn một cuốn sách giải thích 4 chữ cần, kiệm, liêm, chính
với bút danh Lê Quyết Thắng (1949) Riêng chữ Cần , Người phân tích cả
nghĩa rộng và hẹp: Cần không chỉ là cần cù siêng năng, mà còn phải biết làmviệc có kế hoạch, có sự phân công, tính toán khoa học, lao động có năng suất
cao, cải tiến kỹ thuật, sáng tạo, đạt hiệu quả tốt nhất Kiệm là không xa xỉ, hoang phí cả tiền của lẫn thời gian Liêm là trong sạch, không tham lam, không tham tiền của, địa vị, danh lợi; Chính là không dối trá, tà ý, lòng dạ ngay thẳng,
đứng đắn
Chí công vô tư theo quan điểm của Bác là: hết sức, hết lòng lo cho công
việc chung của tập thể, của Đảng, của dân; hết sức vì sự công bằng, đặt lợiích của tập thể, của Đảng lên trên lợi ích cá nhân, riêng tư
Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cánhân” Người nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm của đạo đứccách mạng và chủ nghĩa xã hội, “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn choviệc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội khôngthể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”
Tuy nhiên, ta cần phân biệt rõ các khái niệm “chủ nghĩa cá nhân”, “ lợiích cá nhân”, và “cá nhân” để tránh sự nhầm lẫn, tránh sa vào âm mưu xuyêntạc bản chất của chế độ ta của các thế lực thù địch Hồ Chí Minh là người có
Trang 12lòng yêu nước thương dân sâu sắc, Người hết sức tôn trọng cá nhân, các lợiích, các quyền chân chính của mỗi cá nhân con người Người từng khẳngđịnh: Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là dày xéo lên lợi ích cánhân Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không
có gì là xấu cả Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục khẳng định rõ thêm:Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải làm sao thỏa mãnđược những lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, trước hết là lợiích vật chất Coi đó là một trong những động lực cơ bản thúc đẩy kinh tế - xãhội phát triển
1.3 Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Tín
Theo Bác, Nhân - có nghĩa là phải giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu
đồng bào đồng chí, hết lòng giúp đỡ mọi người, kiên quyết chống lại những gì
có hại cho Đảng, cho dân, cho nước
Nghĩa - là làm việc chính, đúng đắn, trung thành với lý tưởng của Đảng,
của dân tộc với tinh thần “trước sau như một”, không giấu giếm tổ chức Đảng
và tập thể Người có Nghĩa là người biết ăn ở trước sau, không hai mặt, khôngphản bội, không làm điều gì mờ ám, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổquốc, với đồng chí đồng bào
Trí - là trí tuệ, đầu óc phải minh mẫn, sáng suốt, không vì lợi riêng mà
mờ mắt; phải thường xuyên bổ sung, nâng cao kiến thức, trình độ lý luận chínhtrị - khoa học để giải quyết đúng đắn những vấn đề cách mạng giao (Biết xétngười, biết xét việc, trọng dụng người tài, giải quyết công việc có hiệu quảcao)
Dũng - là dũng cảm, kiên định, không sợ khó khăn, gian khổ, hiểm nguy;
nếu cần cũng phải sẵn sàng hy sinh cả tính mạng cho Đảng, cho Tổ quốc
Tín - Là lòng tin, là uy tín, danh dự Nói phải đi đôi với làm, lý thuyết phải
gắn liền với hành động Mất lòng tin, nhân dân sẽ không tin vào cán bộ cáchmạng, cán bộ cũng không lãnh đạo được nhân dân
2 Đạo đức người cán bộ Tòa án theo lời dạy của Bác
2.1 Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư
Tháng 02/1948, Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ nhất được tổ chứctại Việt Bắc Dù bận rộn trăm công nghìn việc, lo chỉ đạo kháng chiến, nhưng
Bác vẫn quan tâm gửi thư tới Hội nghị Bác dặn dò trong thư rằng: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của Chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính.
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật Lẽ tất nhiên các
bạn cần phải nêu cao cái gương “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”
cho nhân dân noi theo” (Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, 1958,
t.1, tr.235)
Từ năm 2008 cho tới nay, Ngành Tòa án nhân dân luôn nhắc tới lời dạy
của Bác “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” trong các văn bản và trong các
phong trào thi đua yêu nước, xem đó là một tiêu chuẩn đạo đức cho mỗi cán
Trang 13bộ, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án noi theo để rèn luyện trong côngtác Nhưng để hiểu tường tận, chuẩn xác về ý nghĩa của những lời Bác dạy,không phải ai cũng hiểu đầy đủ, chính xác.
Phụng công, thủ pháp - là những từ gốc Hán - Việt, vào những năm
1948 nhân dân ta thường dùng Phụng - là phụng sự, là phục vụ vô điều kiện
Phụng công là phụng sự vô điều kiện đối với việc công, việc nước, việc dân Thủ - là tuân thủ, phục tùng nghiêm ngặt Thủ pháp là tuân thủ nghiêm công
Đối với người cán bộ Tòa án, “Phụng công, thủ pháp” ngày nay đã được
cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân
dân (Pháp lệnh năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2011): “Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa” và tại Điều 13 của Pháp lệnh: “Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt cộng đồng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.”
2.2 Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân
Tại Hội nghị Học tập của cán bộ Ngành Tư pháp (1950), Bác đã trực tiếpđến dự Hội nghị và chỉ giáo nhiều điều quý báu đối với cán bộ Tòa án Bác đãdành nhiều thời gian để phân tích về những điều khác biệt giữa luật pháp củaphong kiến, đế quốc và luật pháp của chế độ cách mạng Việt Nam dân chủcộng hòa Về đạo đức của người cán bộ Tòa án trong hoạt động xét xử, Bác
nói: “…Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án.
Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân Giúp dân, học dân để giúp mình
thêm liêm khiết, thêm công bằng Thêm nữa là phải luôn luôn cố gắng học tập
lý luận, học tập đường lối chính sách của Chính phủ… Tóm lại, các chú phải công bằng, liêm khiết, trong sạch, gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”(Nhà
nước và Pháp luật, Nxb Lao động, 1971, t.III, tr.138-142)
Từ thời xa xưa, trên quan điểm lấy dân làm gốc, Nguyễn Trãi đã từngnói: “Dân là người đẩy thuyền, dân cũng là người lật thuyền” Lê Nin cũng đưa
ra luận điểm bất hủ: “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Kế
thừa những tinh hoa đó, Hồ Chí Minh đã nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/khó vạn lần dân liệu cũng xong” Người chỉ giáo rằng: “Người cách mạng
cần biết đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” (Hồ Chí Minh toàn tập,t.5 tr.65) Tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người là vì nhân dân: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong
xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”
(Hồ chí Minh toàn tập, t.7 tr.544)
Trang 14Tại khoản 1,2 Điều 2 của Hiến pháp năm 2013 đã chỉ rõ:
“1 Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
2 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.”
Để đảm bảo thực hiện được mục tiêu tốt đẹp này, khoản 2 Điều 8 của
Hiến pháp hiện hành còn quy định:“ 2 Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” Trong bài Dân vận (1949), Hồ Chí Minh đã viết: “Cán
bộ Chính quyền phải là người trước hết phải làm công tác dân vận”
Trở lại lời dạy của Người đối với cán bộ Tòa án “Phải gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân”, chúng ta thấy tính nhất quán trong tư tưởng vì nhân dân của Bác Cán bộ Nhà nước nói chung, Cán bộ Tòa án nói riêng nếu xa
dân, không hiểu dân, không giúp dân thì chẳng những không hoàn thànhnhiệm vụ chính trị được giao, mà còn không xứng đáng với lòng tin của Đảng,của nhân dân đã giao phó cho mình trọng trách, nhiệm vụ thay mặt nhân dân
để làm công tác Nhà nước (đặc biệt đối với cán bộ Tòa án, những người thaymặt Nhà nước, “Nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” đểtuyên những bản án, giữ nghiêm kỷ cương, pháp luật) Mặt khác, nếu xa dân,quan liêu hách dịch, nhũng nhiễu là đi ngược lại với quy luật của đấu tranhcách mạng, trở thành những “ông quan” phong kiến trong mắt nhân dân, làmmất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đối với bản chất tốt đẹp của Nhà nướcViệt Nam xã hội chủ nghĩa
Lời dạy “Phụng công, thủ pháp” của Người đối với cán bộ Tòa án thậtsáng suốt, chí lý Cụ thể hóa những tinh thần chỉ giáo của Người, để đảm bảocho việc thực hiện lời dạy đó của Bác, Điều 13 Pháp lệnh Thẩm phán và Hộithẩm Tòa án nhân dân hiện hành (năm 2002, sửa đổi bổ sung năm 2011) quy
định rõ: “Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến Pháp, pháp luật”; Điều 15 còn chỉ rõ những việc Thẩm phán không được làm:
“1) Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm;
2) Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật;
3) Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;
4) Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;
5) Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong
vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.”
Trang 15Nếu Thẩm phán vi phạm những quy định nêu trên (Điều 15), tại Điều 30của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân hiện hành đã quyđịnh các hình thức xử lý như sau:
“…Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Tòa án;
b) Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này;
c) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
d) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;
đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.”
Cụ thể hóa các quy định của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân” (số 1253/2008/QĐ-TCCB ngày
18/09/2008)
Tại Điều 1 của Quy tắc này quy định:
- “Cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân phải thực sự “Phụng
công, thủ pháp, chí công vô tư” (khoản1);
- Thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước (khoản 2);
- Thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chứctheo quy định của pháp luật; nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện đúng các
quy chế, quy định làm việc và nội quy cơ quan (khoản 3);
- Có quan hệ tốt với nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân (khoản 6);
- Không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện để nânh cao năng lực,phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử có văn hóa để hoàn thành
nhiệm vụ, công vụ được giao (khoản 4)”.
Đồng thời, bản “Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức Ngành Tòa ánnhân dân” còn quy định cụ thể các hành vi ứng xử, những việc phải làm vàkhông được làm của cán bộ, công chức Ngành Tòa án trong các lĩnh vực công
tác, các mối quan hệ trong và ngoài Ngành Tòa án: Ứng xử trong việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết, xét xử các loại vụ án; Ứng xử trong thực hiện tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống tham nhũng; Ứng xử trong cơ quan, đơn vị; ứng xử tại nơi cư trú; ứng
xử với các cơ quan, tổ chức có liên quan và cơ quan thông tin báo chí; ứng xử với cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài; Ứng xử trong gia đình; Ứng xử tại nơi công cộng…
Tư tưởng về Đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh đối với cán bộ, Đảngviên nói chung, đối với cán bộ Ngành Tòa án nhân dân nói riêng (đặc biệt là lờidạy của Người đối với cán bộ, công chức Ngành Tòa án) là kim chỉ Nam quýbáu trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị của
Trang 16người cán bộ Nhà nước, nhằm phục vụ Đảng, nhân dân ngày càng tốt hơn,xứng đáng là những cán bộ “công bộc” của một Nhà nước Việt Nam xã hội chủnghĩa của dân, do dân, vì dân.
Những ý nghĩa, tinh thần từ Lời dạy của Bác không phải những gì cao
xa, xa lạ đối với mỗi chúng ta, mà chính là những quy định cụ thể, rõ ràngtrong Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩmTòa án nhân dân, trong các quy định của Quy tắc ứng xử của cán bộ, côngchức Ngành Tòa án nhân dân
Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗicán bộ, Thẩm phán, công chức Ngành Tòa án nhân dân phải thấm nhuần ýnghĩa nhân văn trong các lời dạy của Người, có kế hoạch tự giác rèn luyệnphẩm chất đạo đức, làm theo Người từ những việc nhỏ trong sinh hoạt vàcông tác, chấp hành nghiêm túc mọi quy định của pháp luật và các quy địnhcủa Ngành, phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị được giao
III PHƯƠNG HƯỚNG RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CỦA THẨM PHÁN, CÁN BỘ, CÔNG NGÀNH TÒA ÁN NHÂN DÂN
1 Việc tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, công chức Ngành Tòa án nhân dân
Việc hình thành nhân cách con người nói chung, rèn luyện phẩm chấtđạo đức của mỗi người nói riêng thường là kết quả của ba yếu tố: Môi trườnghọc tập, công tác; Sự quản lý, giáo dục của xã hội, cơ quan, nhà trường; Sự tựgiác rèn luyện, cố gắng phấn đấu bền bỉ, tinh thần nghị lực trong quá trình hoạtđộng lâu dài trong suốt cuộc đời của mỗi con người Trong đó, yếu tố tự giácphấn đấu vươn lên, tự ý thức trong rèn luyện của mỗi bản thân con người làyếu tố quyết định việc hình thành một con người có nhân cách, có đạo đức
1.1 Thường xuyên nâng cao trình độ lý luận chính trị, nghiên cứu các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của Ngành Tòa án
Việc chú trọng, thường xuyên đọc, nghiên cứu các văn bản nêu trêngiúp cán bộ, công chức cập nhật các chủ trương, chính sách của Đảng; cácsửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật, không những nâng cao tính nhạybén, bản lĩnh chính trị, mà còn bổ sung kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, giúpbản thân vững vàng trong công tác xét xử, xử lý đúng đắn những tình huốngChính trị - pháp lý trong hoạt động nghiệp vụ
1.2 Chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, của Ngành Tòa án nhân dân, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Biểu hiện tối thiểu, trước hết của “bộ mặt” đạo đức con người là ý thứcchấp hành kỷ luật, nội quy nơi sinh hoạt, học tập, công tác Một người chấphành kỷ luật lỏng lẻo, không tôn trọng những quy định của tập thể, của cộngđồng thì không thể xem là có đạo đức tốt được Đồng thời, việc hoàn thành tốt,hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, chính là kết quả quan trọngcủa quá trình rèn luyện phẩm chất đạo đức, là sự cố gắng, nỗ lực vượt bậc,vượt mọi khó khăn để làm tốt nhất công việc của mình với thời gian, chấtlượng và hiệu quả cao Chấp hành kỷ luật của Đảng, Chính quyền, Đoàn thểcùng những quy định của Ngành Tòa án nhân dân cũng chính là tiền đề cho
Trang 17việc phấn đấu hoàn thành tốt, đạt kết quả cao nhiệm vụ chính trị được phâncông Đây chính là hai yếu tố có tác dụng qua lại, tương hỗ lẫn nhau.
1.3 Rèn luyện đạo đức theo gương Bác bằng những công việc hàng ngày trong sinh hoạt và công tác
Trong sinh hoạt và công tác, mỗi cán bộ, công chức, Thẩm phán Tòa áncần tự giác định ra cho mình một kế hoạch rèn luyện đạo đức theo gương Bác
Hồ, bằng việc học tập Bác từ những hành động, những việc nhỏ hàng ngày,như: Tiết kiệm thời gian, tài sản công; tận tụy trong công việc; chống thói tự tư
tự lợi; chống ba hoa; nói phải đi đôi với làm; “chí công vô tư” từ trong suy nghĩ,cho đến hành động; chống tham ô, lãng phí (cả tiền bạc và thời giờ); gần gũiquần chúng, nhân dân, lắng nghe ý kiến dân và giúp dân nâng cao kiến thứcpháp luật; không tiếp đương sự ngoài nơi quy định; không can thiệp trái phápluật vào những vụ án mà mình không có nhiệm vụ giải quyết; không nhũngnhiễu, hách dịch với dân.v.v… Từ những kết quả đó, chúng ta thấy rằng: Họctập đạo đức của Bác không phải là việc khó khăn, cao xa, mà rèn luyện đạođức theo gương Bác chính là bắt đầu từ những việc nhỏ nhất, giản dị nhấttrong sinh hoạt và công tác, là việc chấp hành nghiêm túc mọi quy định củapháp luật, quy chế công tác của Ngành, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trịđược phân công
2 Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát của cấp Ủy, Chính quyền, Đoàn thể đối với cán bộ, công chức trong đơn vị
2.1 Thông qua sinh hoạt Chi bộ, Chính quyền, Đoàn thể
Để thường xuyên giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát việc rèn luyệnđạo đức của cán bộ, Đảng viên trong đơn vị, cấp Ủy, Chính quyền, Đoàn thểcần duy trì sinh hoạt thường kỳ, có chất lượng; tập trung vào nội dung rènluyện bản lĩnh chính trị, quan tâm đến diễn biến tư tưởng của từng cán bộcông chức; xem xét đánh giá chính xác, khách quan quá trình phấn đấu rènluyện, chấp hành nội quy kỷ luật cũng như kết quả công tác, trên cơ sở đó kịpthời đóng góp xây dựng, uốn nắn những lệch lạc về nhận thức, tư tưởng củatừng người
2.2 Đánh giá đúng đắn kết quả công tác chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức
Kết quả công tác là biểu hiện tập trung của việc rèn luyện đạo đức củacán bộ, Đảng viên, công chức Nhà nước Do đó, việc đánh giá phải kháchquan, thận trọng, tránh thiên vị, thiếu công bằng, dễ dẫn đến phản tác dụngtrong phong trào thi đua chung, cũng như việc rèn luyện đạo đức của cá nhân
và tập thể
Kịp thời động viên, khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích rèn luyệntốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn; đồng thời giữ nghiêm kỷ luật,phê bình, xử lý nghiêm minh những biểu hiện lệch lạc, vô kỷ luật, vi phạm quychế, quy định của Ngành Tòa án nhân dân
2.3 Phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng nơi cư trú, lắng nghe ý kiến của quần chúng
Trang 18Việc quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, công chức không chỉ bó hẹptrong phạm vi cơ quan, đơn vị Cần thường xuyên phối hợp chặt chẽ với tổchức Đảng nơi cán bộ, công chức cư trú, nắm bắt đầy đủ những biểu hiện củacán bộ, công chức về mọi mặt Đồng thời, định kỳ lấy ý kiến đóng góp củaquần chúng trong đơn vị về việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, thái
độ trong công việc, trong sinh hoạt, lối sống của cán bộ, công chức, giúp họnhìn nhận rõ hơn về những khuyết điểm, hạn chế của bản thân để có phương
hướng khắc phục, sửa chữa có hiệu quả
Trang 192 Vị trí, vai trò công tác dân vận
Từ khi có Đảng, Đảng ta luôn quan tâm công tác dân vận của Đảng
- Ngày 15/10/1949, Bác Hồ đã viết bài báo “Dân vận” đăng trên Báo Sựthật, Bác khẳng định: “Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gìcũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
- Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) đã quyếtđịnh lấy ngày 15/10 hàng năm là ngày truyền thống dân vận của Đảng
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc qua các thời kỳ đều định hướng rõcông tác dân vận:
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết
về công tác dân vận để lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của Đảng qua cácthời kỳ cách mạng
- Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27/3/1990 của Ban Chấp hànhTrung ương về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan
hệ giữa Đảng và nhân dân”
- Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 29/6/1992 của Ban Chấp hành Trungương về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động nhân dân, củng cố mốiquan hệ giữa Đảng và nhân dân”
- Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trungương về “Công tác thanh niên trong thời kỳ mới”
- Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 30/7/1994 của Ban Chấp hành Trungương về “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giaiđoạn mới”
Trang 20- Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 của Ban Chấp hành Trungương về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”.
- Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 18/3/2002 của Ban Chấp hành Trungương về “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thônthời kỳ 2001-2010”
- Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trungương về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
- Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 của Ban Chấp hành Trungương về “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
- Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trungương về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trungương về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”
- Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 06/8/2008 của Ban Chấp hành Trungương về “Xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước”
- Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 09/02/1991 của Bộ Chính trị về “Đổimới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên”
- Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “Đổi mới
và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong thời kỳ mới”
- Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về “Chínhsách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”
- Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 17/3/1995của Bộ Chính trị về “Tiếp tụcđổi mới để phát huy vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước”
- Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 08/01/2002 của Bộ Chính trị về “Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh VN trong giaiđoạn cách mạng mới”
- Nghị quyết số 36 -NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về “Côngtác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”
- Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về “Côngtác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
- Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09/12/2011 của Bộ Chính trị về “Xâydựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”
Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị số 18/2000/CT-TTg, ngày 21/9/2000
về “Tăng cường công tác dân vận” Sau 10 năm thực hiện, Thủ tướng Chínhphủ đã chỉ đạo sơ kết Chỉ thị này
Trang 21Ngày 25/02/2010, Bộ Chính trị (Khóa X) ra Quyết định số 290 – QĐ/TW
“về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”, Bộ Chính trịkhẳng định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lượcđối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, là điều kiện quan trọng bảo đảmcho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữaĐảng, nhà nước với nhân dân”
Trong chương trình kỳ họp thứ 7 (4/2013) Trung ương dự kiến sẽ bàn
và ra nghị quyết “về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với côngtác dân vận trong thời kỳ mới”
Rõ ràng qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều khẳng định vị trí, vaitrò quan trọng của công tác dân vận (là công tác có nhiều nghị quyết nhất)
II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI
1 Tình hình một số giai tầng xã hội
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường phát triểnmạnh đã tác động sâu sắc đến cơ cấu, chất lượng các tầng lớp nhân dân
1.1 Giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân ngày càng đông đảo theo quá trình CNH, HĐH đấtnước, hiện có 12 triệu người, đa dạng về cơ cấu, tăng nhanh ở khu vực kinh tếngoài nhà nước, chất lượng một bộ phận công nhân được nâng lên
Tuy nhiên, do chủ yếu xuất thân từ nông dân nên ý thức, tác phong côngnghiệp, kỷ luật lao động còn hạn chế, tỷ lệ được đào tạo nghề còn thấp Tìnhtrạng đình công, bãi công, ngừng việc tập thể ngày càng tăng, chủ yếu tậptrung vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%), doanh nghiệp tưnhân (23%), chủ yếu đòi tăng lương và cải thiện đời sống cho người lao động
1.2 Giai cấp nông dân
Giai cấp nông dân hiện chiếm 67% dân số nhưng xu hướng ngày cànggiảm do lao động chuyển dịch sang làm công nghiệp và dịch vụ Trong nhữngnăm qua, nhờ có chính sách khoán hộ, giao quyền sử dụng đất nông nghiệp,chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí và tăng đầu tư cho nôngnghiệp nên nông dân phấn khởi, hăng hái sản xuất, kinh doanh
Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH, nguồn đất canh tác thu hẹp, nhiềunông dân phải chuyển đổi nghề nghiệp nên cuộc sống không ổn định Hiện tại,dịch bệnh cũng diễn biến phức tạp, ô nhiễm môi trường tăng, giá cả thấtthường nên nông dân gặp nhiều khó khăn trong sản xuất Ở một số địaphương, chính sách đền bù, giải tỏa mặt bằng đất đai thiếu nhất quán, thiếudân chủ nên nông dân khiếu kiện gia tăng, có nơi trở thành “điểm nóng”
1.3 Đội ngũ trí thức
Hiện nay, nước ta có khoảng 3 triệu người có trình độ đại học trở lên,chiếm gần 5% lực lượng lao động cả nước, trong đó có trên 9.000 giáo sư,phó giáo sư, trên 24.000 tiến sỹ, 101.000 thạc sỹ và khoảng 3 triệu sinh viênđang theo học ở các trường đại học
Trang 22Đội ngũ trí thức có đóng góp lớn với đất nước, nhất là trên lĩnh vực giáodục, y tế, khoa học công nghệ, công nghiệp, nông nghiệp,… Tuy nhiên có một
bộ phận có nhiều tâm tư do chính sách đãi ngộ và môi trường, điều kiện côngtác hạn chế phát huy sáng tạo…
1.4 Đội ngũ doanh nhân
Tính đến ngày 31/12/2011, cả nước có 543.963 doanh nghiệp với tổng
số vốn trên 6 triệu tỷ đồng Đội ngũ doanh nhân đã có đóng góp lớn cho pháttriển kinh tế, góp phần vào các chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo,giải quyết việc làm, đóng góp ngân sách nhà nước…
Tuy nhiên, nhìn chung một bộ phận doanh nhân chưa đáp ứng yêu cầuhội nhập quốc tế, hạn chế về kiến thức kinh doanh, luật pháp… Trong bối cảnhsuy thoái kinh tế, đến hết 9/2012, có hơn 200.000 doanh nghiệp ngừng sảnxuất, kinh doanh, phá sản, riêng 9 tháng đầu năm 2012 có 40.600 doanhnghiệp ngừng việc, phá sản ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế đất nước vàđời sống công nhân, người lao động
1.5 Người Việt Nam ở nước ngoài
Hiện người Việt Nam ở nước ngoài có hơn 4,5 triệu người (kể cả đồngbào định cư ở nước ngoài, người đi lao động xuất khẩu, lưu học sinh, phụ nữlấy chồng người nước ngoài) Đồng bào ở nước ngoài vẫn luôn hướng về tổquốc, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc và một bộ phận doanh nhân, tríthức có đóng góp lớn cho kinh tế, văn hóa, khoa học công nghệ… của nướcnhà (lượng kiều hối hằng năm khoảng 9 tỷ USD)
Tuy nhiên, có một bộ phận nhỏ còn định kiến, mặc cảm với đất nước dothiếu thông tin hoặc do tác động của những phần tử cực đoan, chống đối…
2 Một số động thái trên thế giới và khu vực tác động đến các tầng lớp nhân dân hiện nay
2.1 Sự phân hóa, xung đột giàu - nghèo, xung đột giữa dân chúng với giới cầm quyền diễn ra quyết liệt ở nhiều quốc gia
Những vấn đề này đang nóng lên, dẫn đến hệ lụy nghiêm trọng về mặt
xã hội trên phạm vi rộng lớn Khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế toàncầu 2008 - 2009 và những khó khăn, rủi ro, biến động của kinh tế thế giới saukhủng hoảng đã trút gánh nặng lên đời sống nhân dân lao động, hằng trămtriệu người rơi vào cảnh thất nghiệp, đói nghèo, sự chênh lệch và khoảng cáchgiàu - nghèo ngày càng tăng thêm
(Ở Mỹ, theo kết quả điều tra của Viện Chính sách Kinh tế công bố ngày12/9/2012, năm 2010 thu nhập của 1% những người giàu nhất cao gấp 288 lầnthu nhập của các gia đình trung bình (năm 1962, mức chênh lệch này là 125lần) Hiện nay 1% người giàu làm chủ 40% tài sản nước Mỹ, 80% người thunhập thấp làm chủ 7%)
Ở Trung Quốc, chỉ số Gini là chỉ số thông dụng được dùng để đo sựbình đẳng về thu nhập, được đánh giá là vào loại cao của thế giới (chỉ số này
ở Trung Quốc là 0,49 (năm 2009), 0,61 (năm 2010) Theo đánh giá chung,quốc gia nào có chỉ số Gini quá 0,5 là mức chênh lệch thu nhập xã hội đã đếnmức báo động)
Trang 232.2 Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, nhất là khu vực Châu Á
Nhiều cuộc xung đột vũ trang, những cuộc khủng bố đẫm máu đã nổ rabắt nguồn từ mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc gắn với tôn giáo mà tâm điểm là một
số quốc gia ở Trung Đông, Trung Á, Đông Nam Á…
2.3 Sự lên ngôi của truyền thông đại chúng và tác động ngày càng lớn của internet và mạng xã hội đến tư tưởng, hành vi của người dân
Truyền thông đại chúng, đặc biệt là mạng internet, mạng xã hội ngàycàng tham gia trực tiếp vào đời sống chính trị - xã hội của nhiều quốc gia,nhiều trường hợp trở thành “ngòi nổ” của các phong trào chính trị rộng lớn Ởphương tây, mạng xã hội được sử dụng như một phương thức chiến tranh tâm
lý để tập hợp, kích động các lực lượng xã hội nổi dậy chống chế độ Năm
2010, vụ mạng Wikileake tiết lộ một khối lượng lớn những bí mật ngoại giao,quân sự của lầu năm góc, trong đó có 250.000 bức điện mật của các đại sứ
Mỹ đã làm chấn động dư luận quốc tế, gây lo ngại cho giới cầm quyền cácnước “Mùa xuân A rập” còn được gọi là cuộc cách mạng truyền thông
3 Một số động thái thực tiễn trong nước tác động đến các tầng lớp nhân dân hiện nay
3.1 Việc làm, thu nhập của nhân dân sụt giảm, phân hóa giàu – nghèo có xu hướng gia tăng
Những khó khăn về kinh tế, tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng,tín dụng, sự đóng băng của thị trường bất động sản, tình trạng phá sản, đóngcửa, ngừng sản xuất của hàng chục ngàn doanh nghiệp… đã làm cho sốngười thất nghiệp tăng lên Năm 2011, số người đăng ký bảo hiểm thất nghiệptăng 7,7% so với năm 2010…
Theo điều tra của Tổng Cục Thống kê, mức chênh lệch về thu nhập,giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất ở nước tanăm 2008 là 8,9 lần, năm 2010 là 9 lần Năm 2011, theo thông tin trên thịtrường chứng khoán, số người giàu có tài sản trên 1 triệu USD ở nước ta là
170 người (tăng 33% so với năm 2010)
3.2 Gia tăng những bức xúc của xã hội
Trong nhiều bức xúc của nhân dân, có 4 vấn đề bức xúc nhất:
- Nạn tham nhũng;
- Khiếu kiện của nhân dân về đất đai;
- Thiếu việc làm;
- Tụt hậu, suy thoái về kinh tế
(Kèm theo bảng điều tra dư luận xã hội của Ban Tuyên giáo Trungương)
3.3 Sự thiếu tin tưởng, thiếu phấn khởi, đồng thuận của nhân dân
Theo kết quả thăm dò dư luận, tỷ lệ người được hỏi về sự quan tâm củaĐảng, nhà nước đối với công nhân, tỷ lệ người được hỏi cho rằng được quantâm nhiều chỉ chiếm 20%, trong khi đó cho rằng Đảng, nhà nước có quan tâm
Trang 24nhưng không nhiều chiếm 52%, tỷ lệ cho là không được quan tâm hoặc khó trảlời chiếm 28%.
III MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG
1 Thuận lợi
a) Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đãtạo ra thế và lực mới, mở ra cục diện mới phát triển của đất nước, đem lạinhững lợi ích thiết thực đối với nhân dân
b) 83 năm lãnh đạo cách mạng, trực tiếp là hơn 25 năm đổi mới đấtnước, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệp quí báu, trong đó có kinhnghiệm công tác dân vận
c) So với trước đây, trình độ nhận thức chính trị, đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân ta được nâng cao hơn
2 Khó khăn
a) Kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnhnhững nhân tố tích cực, tiến bộ là chủ yếu thì mặt trái, mặt tiêu cực hàng ngày,hàng giờ tác động đến đời sống, tâm tư, tình cảm của nhân dân…
b) Những khó khăn nhiều mặt về kinh tế - xã hội, về đời sống của cáctầng lớp nhân dân do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh
tế toàn cầu và những hạn chế trong quản lý kinh tế, xã hội chậm được khắcphục…đã tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của một bộ phận quầnchúng nhân dân
c) Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, suy thoái về tưtưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng, nhà nước, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, kết quả công tác dân vận củaĐảng
d) Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dântộc”, “tôn giáo” để kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, thực hiện âm mưu
“diễn biến hòa bình” để mưu đồ thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng, phá bỏ chế
2 Vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Đoàn kết không chỉ là nhiệm vụ cơ bản của công tác dân vận mà còn lànhiệm vụ cơ bản, chiến lược của cách mạng Việt Nam
Trang 25Bác Hồ đặc biệt quan tâm vấn đề đại đoàn kết dân tộc và Bác khẳngđịnh như một chân lý:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”
Theo Bác: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhândân mà đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân laođộng khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết, nó cũng như cái nền của nhà, gốccủa cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhândân” (Hồ Chí Minh, T7, trang 134)
Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Bác viết: “Đoàn kết là một truyền thốngcực kỳ quý báu của Đảng ta và nhân dân ta Các đồng chí từ Trung ương đếncác chi bộ cần phải gìn giữ sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn conngươi của mắt mình”
Trong công tác dân vận, ngoài việc Đảng ta rất quan tâm vận động giaicấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, Đảng ta luôn chăm locông tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số và vận động đồng bào tôngiáo
2.1 Vận động đồng bào các dân tộc thiểu số
a) Các dân tộc thiểu số của nước ta có một số đặc điểm:
- Các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết trong sự nghiệp đấutranh dựng nước và giữ nước
- Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng, có vị trí chiến lược vềchính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái
- Các dân tộc thiểu số ở nước ta có quy mô dân số, trình độ phát triểnkinh tế - xã hội không đồng đều, sống vừa phân tán, vừa xen kẽ
Nước ta có 54 dân tộc Tính đến 1/4/2009 cả nước có 85.846.997người, dân tộc Kinh chiếm 85,7%, 53 dân tộc thiểu số có 12.252 triệu người(chiếm 14,3%); trong số các dân tộc thiểu số có 1 số dân tộc có trên 1 triệudân, có 5 dân tộc số dân dưới 1.000 người
- Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, làm nên sự phong phú, đa dạngtrong thống nhất văn hóa Việt Nam
Các giá trị vật chất, tinh thần như tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệthuật, trang phục, tập quán, tín ngưỡng đã tạo nên bản sắc văn hóa của từngdân tộc
b) Quan điểm của Đảng, nhà nước về dân tộc (Nghị quyết 24-NQ/TW)
- Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâudài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
- Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợgiúp nhau cùng phát triển
- Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh, quốcphòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, gắn tăng trưởng kinh tế với giảiquyết các vấn đề xã hội, quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm
Trang 26lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số Giữ gìn và phát huy bản sắc vănhóa truyền thống các dân tộc thiểu số…
- Ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, khaithác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bềnvững môi trường sinh thái…
- Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toànĐảng, toàn dân, toàn quân, của các tầng lớp, các ngành, của toàn bộ hệ thốngchính trị
c) Một số nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chính sách dân tộc hiện nay
- Tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghịTrung ương 7 (Khóa IX) về công tác dân tộc và các chính sách của Nhà nướctrên các lĩnh vực như: chương trình xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xãhội theo ngành, lĩnh vực, chính sách trợ giúp kinh tế - xã hội, chính sách pháttriển kinh tế - xã hội theo vùng dân tộc, chính sách đối với một số dân tộc đặcthù
- Tập trung nguồn nhân lực cho đầu tư phát triển và hoàn thiện kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số
- Phát triển đa dạng các mô hình kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa
mà mỗi vùng miền có lợi thế
- Chú trọng các chính sách phát triển nguồn nhân lực
- Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho đồng bào dântộc thiểu số
- Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao kiến thức quốc phòng – an ninh chocán bộ, nhân dân kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốcphòng - an ninh Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại củacác thế lực thù địch
- Tập trung củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh
- Thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết đánh giá tình hình nhân dân
và kết quả, hiệu quả thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước đối vớiđồng bào các dân tộc thiểu số
2.2 Vận động đồng bào tôn giáo
- Việt Nam có một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số ở 3 khu vựcTây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ theo tôn giáo Về mặt văn hóa, tín ngưỡng,
Trang 27tôn giáo đồng bào các dân tộc thiểu số ở 3 khu vực nói trên có những nét riêngrất độc đáo tạo nên nền văn hóa Việt Nam rất đa dạng.
- Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam đa số là người lao động, chủ yếu lànông dân, bản chất cần cù lao động, có lòng yêu nước, đồng thời họ cũng cóniềm tin tôn giáo sâu sắc và có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo bình thường, sống
- Những năm gần đây, các thế lực thù địch đặc biệt coi trọng lợi dụngvấn đề tôn giáo để lôi kéo quần chúng tín đồ tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kếtdân tộc, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, chống phá cách mạng nướcta
b) Một số quan điểm của Đảng về tôn giáo
- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta.Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Đảng, nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dântộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quầnchúng Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là điểmtương đồng để gắn bó đồng bào tôn giáo với sự nghiệp chung Mọi công dânkhông phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây dựng vàbảo vệ tổ quốc
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị
- Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tựhợp pháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được nhà nướcthừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ…Việctheo đạo và truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuânthủ Hiến pháp và pháp luật…
c) Nhiệm vụ vận động quần chúng tôn giáo
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước
- Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có đạo, giúp đồngbào nâng cao trình độ về mọi mặt…
- Vận động đồng bào có đạo, chức sắc tôn giáo tham gia các phong tràothi đua yêu nước, tham gia vào các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, chăm lođời sống cán bộ là người có đạo
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo
- Quan tâm vận động chức sắc, nhà tu hành
Trang 283 Vận động, hợp tác các tầng lớp nhân dân xây dựng mối quan hệ
“máu thịt” giữa nhân dân với Đảng
3.1 Mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trở thành một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến thành quả cách mạng
Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mối quan hệ đặc biệt và rất độcđáo: Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân,còn nhân dân tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng lại là chủ nhân của đất nước.Bác Hồ đã dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệucũng xong” (Hồ Chí Minh, T10, tr 536)
“Nếu không có nhân dân giúp sức thì Đảng không làm được gì hết” (HồChí Minh, T5, tr 238)
Hiện nay, niềm tin của nhân dân đối với Đảng giảm sút
3.2 Một số nhiệm vụ và giải pháp để tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân
- Đảng, nhà nước tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả kiềm chếlạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội để nâng cao thu nhập,cải thiện rõ rệt về những yêu cầu thiết yếu của nhân dân như ăn, ở, học hành,chữa bệnh.vv
- Tập trung chỉ đạo giải quyết có hiệu quả một số bức xúc nhất của nhândân như: nạn tham nhũng, tình trạng khiếu kiện về đất đai, thiếu việc làm, tụthậu về kinh tế và các tiêu cực khác
- Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 của Ban Chấp hànhTrung ương (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”,sớm ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống hiện nay để mỗicán bộ, đảng viên làm gương cho nhân dân noi theo…
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổquốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
- Thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ cương xã hội, phát huyquyền và trách nhiệm của công dân, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở,huy động sức dân gắn với bồi dưỡng sức dân…
4 Tăng cường công tác dân vận chính quyền, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
4.1 Khái niệm chung
Công tác dân vận của chính quyền chính là chức năng, nhiệm vụ làcông tác dân vận của các cơ quan, đơn vị và của công chức, viên chức làmviệc trong các cơ quan nhà nước, các đơn vị dịch vụ công từ Trung ương đếnđịa phương (trong đó có ngành tòa án)…
Các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp thực hiện chức năng,nhiệm vụ quản lý nhà nước của mình bằng pháp luật, bằng cơ chế, chínhsách, bằng những quy định, quyết định, bằng các dự án, chương trình pháttriển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếunại tố cáo của công dân,…việc gì cũng liên quan trực tiếp đến dân Vì thế
Trang 29muốn thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình thì phải có quan điểm vìdân, phải làm dân vận.
4.2 Nội dung của công tác dân vận chính quyền
- Nghiên cứu, soạn thảo, đề ra cá cơ chế, chính sách thực sự vì dân,phù hợp với thực tiễn và nguyện vọng của nhân dân và tuyên truyền vận động
tổ chức cho nhân dân thực hiện
- Thực hiện tốt cải cách hành chính
- Chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về “xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” và các nghị định của Chính phủ về quychế dân chủ ở cơ sở
- Làm tốt việc tiếp dân và kịp thời giải quyết khiếu nại cho nhân dân
- Phối hợp tốt với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân và các lựclượng vũ trang
- Tuyên truyền, quán triệt và cụ thể hóa để thực hiện tốt quyết định QĐ/TW của Bộ Chính trị “về quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”
290-5 Vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng để thực hiện thành công sự nghiệpđổi mới, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh” (chỉ có trên cơ sở kinh tế - xã hội phát triển mới thiết thực nâng cao đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân - là động lực trực tiếp tập hợp nhândân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường mối quan hệ máuthịt giữa Đảng và nhân dân trong tình hình mới)
Ví dụ: phong trào “Ngày vì người nghèo”, phong trào “Toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phong trào “Cả nước chung sứcxây dựng nông thôn mới”.vv
V TRÁCH NHIỆM THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CÁC CƠ QUAN TƯ PHÁP
1 Thực hiện trách nhiệm theo Quyết định 290/QĐ-TW
- Giáo dục cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp gương mẫuchấp hành pháp luật Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục pháp luật và ý thứctuân thủ pháp luật trong nhân dân
- Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, thực hiện tranh tụng tại phiên tòatheo luật định, bảo đảm công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, không để oan sai, để lọt tội phạm
- Bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân trong quá trình điều tra,truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật
- Giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo tronghoạt động tố tụng Bồi thường danh dự và quyền lợi vật chất cho công dântrong trường hợp bị oan sai theo quy định của pháp luật
Trang 302 Thực hiện quyết định số 1253-QĐ/TCCB, ngày 18/9/2008 “về quy
tắc ứng xử của cán bộ, công chức ngành tòa án nhân dân” của chánh án tòa
án nhân dân tối cao (có văn bản)
Trang 31BÀI 3:
NỘI DUNG MỚI CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013 VỀ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
PGS.TS Trần Văn Độ Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
1 Đặt vấn đề:
Ngày 28/11/2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới thay thế cho
Hiến pháp 1992 với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung một cách căn bản,
nhất là các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước Các quy định của Hiến pháp
về Tòa án cũng có nhiều thay đổi, phù hợp với việc xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân Những
sự thay đổi đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân
dân và các luật tố tụng hiện hành
2 Các quy định mới của Hiến pháp 2013 về Tòa án nhân dân:
2.1 Tòa án nhân dân là một nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy
nhà nước, chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp:
Ngay từ Điều 2, Hiến pháp đã khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân… Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Với quy định này, nguyên tắc phân công,
phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước được thể hiện rõ ràng, rành mạch hơn
so với Hiến pháp 1992 Hiến pháp 2013 không chỉ quy định rõ, Quốc hội thực
hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân
thực hiện quyền tư pháp mà còn hiến định nguyên tắc kiểm soát lẫn nhau giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp Đây là lần đầu tiên, Tòa án nhân dân được coi là một nhánh quyền
lực trong tổ chức bộ máy nhà nước của nước ta
Bằng việc quy định “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” (khoản 1 Điều 102),
Hiến pháp xác định rõ ràng, cụ thể vị trí, vai trò, chức năng của Tòa án nhân
dân trong bộ máy cơ quan nhà nước Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất
thực hiện quyền tư pháp, thực hiện chức năng xét xử Tòa án nhân dân là cơ
quan duy nhất có quyền ra phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh
chấp theo quy định của pháp luật và về các vấn đề pháp lý liên quan đến
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Xử lý các vi phạm pháp luật
bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước
đều thuộc thẩm quyền của Tòa án Vì vậy, quy định của Hiến pháp là cơ sở
hiến định cho việc mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các loại án,
thể hiện xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền Hiến pháp khẳng định vị trí
Trang 32trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét
xử trong các hoạt động tư pháp
Để thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp cũng quy định nhiệm vụ của Tòa
án nhân dân một cách cụ thể, rõ ràng Hiến pháp còn sửa đổi một số quy định
về thủ tục bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quan trọngcủa Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác Nguyên tắc độc lập xét xửcủa Tòa án được nhấn mạnh và ở tầm hiến định nghiêm cấm mọi tổ chức, cánhân can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án; quy định mở về hệ thống Tòa
án mở đường cho việc tổ chức Tòa án theo cấp xét xử, không theo đơn vịhành chính Chế độ báo cáo và chế độ trách nhiệm của Chánh án Tòa ánnhân dân tối cao và các Tòa án khác cũng có sự thay đổi cho phù hợp với sựthay đổi về tổ chức hoạt động của Tòa án nhân dân nói riêng và bộ máy nhànước nói chung
2.2 Về tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân:
Theo khoản 2 Điều 102, Hiến pháp quy định: Tòa án nhân dân gồm Tòa
án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định Như vậy, ngoài Tòa ánnhân dân tối cao, Hiến pháp năm 2013 không liệt kê cụ thể các Tòa án khác,
mà giao cho luật định Điều này bảo đảm tính khái quát, ổn định lâu dài củaHiến pháp và tính mềm dẻo, linh hoạt của luật phù hợp với từng thời kỳ pháttriển của đất nước Đây cũng là yêu cầu cấp thiết cho việc nhanh chóng sửađổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp
2.3 Về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân:
Tại khoản 3 Điều 102, Hiến pháp quy định rõ ràng, cụ thể nhiệm vụ củaTòa án nhân dân Đó là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền côngdân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Hiến pháp đã nhấn mạnh việc bảo vệ công
lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ đầu tiên của Tòa ánnhân dân; sau đó mới là nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợiích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Đó lànhiệm vụ đặc trưng thể hiện cao nhất, tập trung nhất đối với cơ quan xét xử,thực hiện quyền tư pháp Tòa án phải là nơi mà mọi con người, mọi công dântìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật Khi quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc
bị tranh chấp, người dân tìm đến Tòa án như là tìm đến Công lý Vì vậy, có thểnói, theo Hiến pháp mới, Tòa án là biểu tượng của Công lý và có nhiệm vụ bảo
vệ công lý
Tại Điều 104, Hiến pháp mới quy định giao cho Tòa án nhân dân tối caothẩm quyền bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật Đây là bảo đảm quantrọng cho hoạt động của Tòa án, phù hợp với chức năng áp dụng pháp luậtcủa cơ quan tư pháp Điều này có nghĩa là ngoài tổng kết thực tiễn xét xử,hướng dẫn áp dụng pháp luật, Tòa án nhân dân tối cao còn có thể bằng cáchình thức khác nhau bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử nhưthực hiện giám đốc xét xử, ban hành án lệ
2.4 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân:
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định các nguyên tắc cơ bản tổ chức
và hoạt động của Tòa án nhân dân Đó là:
Trang 331 Việc xét xử sơ thẩm của Toà án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
3 Toà án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ
bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín.
4 Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
5 Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
6 Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
7 Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm
Theo quy định trên thì Hiến pháp năm 2013 đã kế thừa và có bổ sungcho chính xác, phù hợp với thực tiễn và tinh thần cải cách tư pháp một sốnguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân - cơ quan xét xử, thựchiện quyền tư pháp ở nước ta Đó là:
- Nguyên tắc xét xử có hội thẩm tham gia Theo Hiến pháp năm 2013 thìHội thẩm chỉ tham gia trong xét xử ở cấp sơ thẩm; còn việc xét xử ở cấp phúcthẩm là không bắt buộc Sự sửa đổi này cũng xuất phát từ thực tiễn xét xửnhững năm qua;
- Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập Đồng thời, Hiến
pháp cũng bổ sung một nội dung quan trọng: “Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức,
cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Bổ sung này
nhấn mạnh tầm quan trọng cũng như thái độ dứt khoát của Nhà nước ta đốivới việc can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm quan trọng choviệc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế;
- Nguyên tắc xét xử tập thể Tuy nhiên, để thực hiện cải cách tư pháp,nâng cao hiệu quả của việc xét xử, bảo đảm cho việc xét xửu nhanh chóng, kịpthời, tiết kiệm, Hiến pháp năm 2013 quy định ngoại lệ cho phép Tòa án xét xửbằng một Thẩm phán trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn;
- Nguyên tắc xét xử công khai Đồng thời, thay cho quy định trường hợpngoại lệ do luật định trong Hiến pháp cũ, Hiến pháp năm 2013 quy định cụ thểđiều kiện cho phép Tòa án xét xử kín Đó là “Trong trường hợp đặc biệt cầngiữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưathành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự”;
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo… Tuy nhiên,
để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người một cách toàn diện, côngbằng, Hiến pháp năm 2003 ngoài việc quy định quyền bào chữa của bị can, bịcáo, còn bổ sung việc bảo đảm quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sựtrong hoạt động xét xử của Tòa án
Trang 34Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 bổ sung một số nguyên tắc quan trọng,bảo đảm sự phù hợp với tinh thần Cải cách tư pháp, bảo vệ quyền con người
và thông lệ quốc tế Các nguyên tắc được bổ sung là:
- Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm Đây là nguyên tắcthể hiện nội dung rất quan trọng trong Cải cách tư pháp ở nước ta Sự thật chỉđược xác định, công lý chỉ được thiết lập khi có sự tranh tụng giữa các bêntrong tố tụng tư pháp, nhất là trong xét xử các vụ án;
- Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm Nguyên tắc hai cấpxét xử là nguyên tắc xuyên suốt của hệ thống tư pháp của bất kỳ một quốc gianào; được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và phápluật của mọi quốc gia Thực hiện hai cấp xét xử là một trong những biện phápbảo vệ quyền con người hữu hiệu; đồng thời bảo đảm cho hoạt động tư phápthận trọng nhưng có điểm dừng, tránh kéo dài, chậm trễ
2.5 Về nhiệm kỳ, thủ tục bổ nhiệm, phê chuẩn, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của các chức danh quan trọng trong Tòa án nhân dân:
Hiến pháp năm 2013 bổ sung quy định nhiệm kỳ của Chánh án, Thẩmphán các cấp Theo đó, nhiệm kỳ của Chánh án Toà án nhân dân tối cao theonhiệm kỳ của Quốc hội; việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và nhiệm kỳcủa Chánh án Tòa án khác, của Thẩm phán, nhiệm kỳ của Hội thẩm do luậtđịnh Đây là những căn cứ hiến định cho việc cụ thể hóa quy định của Hiếnpháp trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân
Hiến pháp năm 2013 có bổ sung quan trọng về việc bổ nhiệm Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao Theo Điểm 7 Điều 70, Điểm 3 Điều 88 thì Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cáchchức sau khi được Quốc hội phê chuẩn Quy định này thể hiện nguyên tắc tổchức bộ máy nhà nước trong Nhà nước pháp quyền, nâng cao vị thế của cơquan tư pháp tương xứng với cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp; bảo đảmnguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát lần nhau giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
3 Sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng tư pháp theo yêu cầu của Hiến pháp:
3.1 Sự cần thiết và những định hướng lớn của dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi:
Hiện nay, điều chỉnh về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tốicao và các Tòa án khác gồm có Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002,Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩmTòa án nhân dân năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) Sau hơn 10năm thực hiện, cùng với sự chuyển biến của nền kinh tế, chính trị, xã hội củađất nước, các văn bản pháp luật nói trên đã bộc lộ những hạn chế, bất cập ảnhhưởng tới việc tổ chức và hoạt động của các Tòa án Việc ban hành Hiến pháp
2013 với những quy định mới như đã phân tích ở trên đặt ra đòi hỏi cấp báchđối với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động củaTòa án Mặt khác, phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp, cần nhanh chóngthể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về tổ chức và hoạt động của Tòa án
đã được định hướng trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ
Trang 35Chính trị “về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Kết luận số79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị “về Đề án đổi mới tổ chức và hoạtđộng của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếptục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW.
Việc sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân được thực hiệntheo các định hướng lớn sau đây:
- Dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi phải thể chế hóa các chủtrương, đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghịquyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW, Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-5-
2013 của Ban chấp hành Trung ương khóa XI và Kết luận số 92-KL/TW ngày12-3-2014 của Bộ Chính trị Trong đó, cần xác định rõ vị trí, chức năng củaTòa án trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và trong các cơ quan
có hoạt động tư pháp nói riêng: Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, có
vị trí trung tâm và xét xử là trọng tâm của hoạt động tư pháp Tổ chức Tòa ántheo thẩm quyền xét xử, bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa
án cũng như các chức danh tư pháp trong Tòa án; tạo cơ sở pháp lý để nângcao chất lượng đội ngũ Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án, xây dựng cơ
sở vật chất, phương tiện làm việc của Tòa án từng bước hiện đại, khoa học,đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảochất lượng, hiệu quả, hiệu lực cho các hoạt động của Tòa án
- Dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi phải cụ thể hóa các quyđịnh của Hiến pháp 2013 về Tòa án nhân dân; bảo đảm tính thống nhất trong
hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Luật tổ chức Tòa án nhân dân(sửa đổi); không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên
- Dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi phải kế thừa các quyđịnh còn phù hợp của Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnhThẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức Tòa
án quân sự năm 2002; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc giatrên thế giới về tổ chức và hoạt động của Tòa án, về chế định Thẩm phán Cầnnhất thể hóa Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán
và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 và Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sựnăm 2002 thành một văn bản quy phạm pháp luật mới
3.2 Một số nội dung cụ thể của Dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi:
3.2.1 Về tổ chức Tòa án nhân dân:
Hiến pháp 2013 quy định Tòa án nhân dân gồm có Tòa án nhân dân tốicao và các Tòa án khác do luật định Đây là quy định mở và đặt ra yêu cầu cụthể hóa vào dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân, phù hợp với chủ trương,định hướng của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp trong từng thời kỳ khácnhau, tránh được những rào cản hiến định không cần thiết
Nghị quyết số 49-NQ/TW, Kết luận số 79-KL/TW và Kết luận số92-KL/TW của Bộ Chính trị, Kết luận số 64-KL/TW của Ban chấp hành Trungương khóa XI đã định hướng, Tòa án được tổ chức theo thẩm quyền xét xử,
Trang 36không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc độc lập tronghoạt động xét xử của Tòa án Hệ thống Tòa án được cơ cấu gồm 4 cấp: Tòa
án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân sơ thẩm
* Đối với Tòa án nhân dân tối cao:
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tòa án nhân dân tối cao không thực hiện chứcnăng xét xử phúc thẩm mà tập trung vào công tác tổng kết thực tiễn xét xử,bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, phát triển án lệ và xét xửgiám đốc thẩm, tái thẩm
Tổ chức hoạt động của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối caođược thiết kế lại theo hướng “tinh gọn”; bộ máy giúp việc cho Chánh án Tòa ánnhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được tổchức hợp lý để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ được giao.Theo đó, Hội đồng Tòa án nhân dân tối cao không quá 17 thành viên; phươngthức xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao cũng được đổi mới theo hướng có Hội đồng xét xử chuyên ngànhgồm 5 Thẩm phán và Hội đồng toàn thể với đầy đủ các thành viên là Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao; các Hội đồng này thực hiện theo thẩm quyền doluật tố tụng quy định
Việc quy định cụ thể về bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối cao
do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trình UBTVQH phê chuẩn như hiệnhành
* Đối với Tòa án nhân dân cấp cao:
Tòa án nhân dân cấp cao có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án sơthẩm do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị,giám đốc thẩm, tái thẩm những bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh, Tòa áncấp huyện thuộc địa hạt tư pháp bị kháng nghị Tòa án nhân dân cấp cao gồm
Ủy ban Thẩm phán, các Tòa chuyên trách và bộ máy giúp việc Chỉ có Ủy banThẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao mới có quyền xét xử giám đốc thẩm, táithẩm; các Tòa chuyên trách chỉ có thẩm quyền xét xử phúc thẩm Nếu chorằng, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao không thể xét xử hết các
vụ án thuộc thẩm quyền, thì có phương thức tổ chức xét xử theo Hội đồng 3Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban và điều chỉnh kỹ thuật bằng pháp luật tố tụng
để có cơ chế hạn chế việc kháng nghị tràn lan theo tinh thần Nghị quyết NQ/TW của Bộ Chính trị
49-* Đối với Tòa án nhân dân sơ thẩm:
Hiến pháp năm 2013 là cơ sở hiến định để có thể tổ chức Tòa án nhândân sơ thẩm khu vực như Kết luận số 79-KL/TW hoặc theo đơn vị hành chínhcấp huyện có sự đổi mới về phương cách lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhànước nhằm đảm bảo tính độc lập của Tòa án
Việc thành lập Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân sơ thẩm cần căn cứchủ yếu vào số lượng các vụ án cần giải quyết hàng năm
* Đối với Tòa gia đình và người chưa thành niên:
Trang 37Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng Đề án thành lập Tòa gia đình vàngười chưa thành niên Đây là bước đi cụ thể nhằm triển khai chủ trương,quan điểm của Đảng và pháp luật của nhà nước về bảo vệ, phát triển gia đình;bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và xử lý ngươi chưa thành niên phạm tội,phù hợp với sự phát triển cũng như những đặc thù về tâm, sinh lý của trẻ em.Việc thành lập Tòa này cũng là để thực hiện các cam kết của Việt Nam khi kýkết, tham gia các điều ước quốc tế về trẻ em, phù hợp với mô hình tổ chứcTòa án của nhiều nước trên thế giới.
Theo luật tổ chức Tòa án nhân dân mới được ban hành, Tòa gia đình vàngười chưa thành niên đã được quy định như một Tòa chuyên trách Việc triểnkhai thực hiện và thủ tục tố tụng do Tòa này thực hiện như thế nào sẽ được cụthể hóa trong quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về tổ chức, bộmáy của các Tòa án nhân dân và các luật tố tụng
3.2.2 Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân:
Tổ chức và hoạt động của các Tòa án dựa vào nhiều nguyên tắc, trong
đó có nguyên tắc về tổ chức bộ máy và nguyên tắc hoạt động trong tố tụng.Hiến pháp năm 2013 đã quy định các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt độngcủa Tòa án nhân dân Từ góc độ Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì Luật chỉquy định các nguyên tắc về tổ chức bộ máy và các nguyên tắc chung nhất vềhoạt động của Tòa án, còn các nguyên tắc hoạt động trong tố tụng thì đượcđiều chỉnh bằng pháp luật tố tụng Như vậy, không phải bất cứ nguyên tắc nàođược quy định trong Hiến pháp đều đưa vào dự án Luật tổ chức Tòa án nhândân, kể cả nguyên tắc quan trọng như nguyên tắc tranh tụng
Có những quy định của Hiến pháp không nằm ở Chương về Tòa ánnhân dân, mà nằm ở các chương khác, nhưng cũng có thể coi là nguyên tắc tổchức, hoạt động của Tòa án nhân dân hoặc nguyên tắc tố tụng Ví dụ, các quyđịnh về quyền con người, quyền công dân ở Chương 2 Hiến pháp (như mọicông dân bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội…) là cơ sởHiến định cho việc xây dựng các nguyên tắc hoạt động của Tòa án hoặcnguyên tắc tố tụng
3.2.3 Về các ngạch Thẩm phán:
Khi tổ chức Tòa án nhân dân thành 4 cấp, cũng cần quy định 4 ngạchThẩm phán tương ứng nhằm tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ Thẩm phán chủyếu ở từng cấp cũng như phân công nhiệm vụ phù hợp dựa trên tính chất,mức độ phức tạp của từng vụ việc Do đó, việc quy định 4 cấp Thẩm phán làThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trungcấp và Thẩm phán sơ cấp là có thể hiểu được
Tuy nhiên, cũng có thể nói mọi Thẩm phán đều nhân danh Nhà nước đểxét xử và ra phán quyết; việc quy định thẩm quyền chỉ là sự phân công củaNhà nước… Cho nên, ngoài Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thủ tục bổnhiệm đặc thù, có thể không cần phân biệt các cấp Thẩm phán như hiện nay
để thuận tiện cho việc bố trí, điều động Thẩm phán Tòa án các cấp
Về bố trí Thẩm phán ở các cấp Tòa án: ở Tòa án nhân dân tối cao chỉ cóThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Thẩm phán cao cấp; ở Tòa án nhândân cấp cao chỉ nên có Thẩm phán cao cấp và Thẩm phán Trung cấp; ở Tòa
Trang 38án nhân dân cấp tỉnh có Thẩm phán cao cấp, Thẩm phán trung cấp và Thẩmphán sơ cấp; Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có Thẩm phán trung cấp vàThẩm phán sơ cấp.
3.2.4 Về việc thành lập, quản lý và đảm bảo kinh phí hoạt động các Tòa
án nhân dân:
Việc thành lập các Tòa án là vấn đề hệ trọng, quyết định đến hiệu quả
và hiệu lực của việc thực hiện quyền tư pháp của Quốc gia Bên cạnh đó, việcthành lập các Tòa án còn là cơ sở để quyết định các vấn đề quan trọng khácnhư: biên chế cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm hoạt động Tòa án, chế
độ chính sách đối với Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh công tác trongTòa án các cấp Với ý nghĩa, tầm quan trọng đó, việc xem xét, quyết địnhthành lập các Tòa án nhân dân sơ thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án quân sự cần được quyđịnh là thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Cơ chế quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức, cán bộ, kinh phí, cơ sởvật chất có mối quan hệ mật thiết với việc bảo đảm tính độc lập của Tòa ántrong việc thực hiện quyền tư pháp Giảm bớt các cơ quan liên quan trong việcthực hiện công tác cán bộ, phân cấp kinh phí cho Tòa án bảo đảm tính độc lập
và xây dựng một cơ quan tổ chức cán bộ đủ mạnh ngay trong các Tòa ánnhân dân, chủ yếu ở Tòa án nhân dân tối cao để thực hiện tốt việc quản lý,đảm bảo cho các chức danh tư pháp tập trung vào việc thực hiện chức năngxét xử và thực hiện quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp
Thẩm phán là nhân vật nòng cốt trong Tòa án nhân dân Thẩm phán xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thẩm phán phán quyết về các vấn đềliên quan đến quyền con người… Vì thế, tuyển chọn, xây dựng được đội ngũThẩm phán có đủ năng lực, phẩm chất và bản lĩnh nghề nghiệp là vấn đềquyết định trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Tòa ánnhân dân; hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Công lý, bảo vệ Quyền con người…
mà Hiến pháp đã xác định Việc tổ chức và có các Hội đồng thi tuyển thay chotuyển chọn đầu vào Thẩm phán, tuyển chọn và giám sát Thẩm phán… là cơchế cấn thiết để đảm bảo đội ngũ Thẩm phán đáp ứng yêu cầu đặt ra
Riêng đối với việc phân cấp ngân sách, chúng tôi cho rằng, cần giao choChánh án Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền nhất định trong việc trình Quốchội dự toán ngân sách đối với các Tòa án nhân dân Theo đó, Chính phủ trìnhQuốc hội quyết định ngân sách của Tòa án nhân dân sau khi thống nhất vớiChánh án Tòa án nhân dân tối cao; trường hợp Chánh án không đồng ý vớiChính phủ thì có quyền có ý kiến trực tiếp với Quốc hội
3.2.5 Về nhiệm kỳ và tuổi làm việc của Thẩm phán:
Để góp phần tăng cường tính trách nhiệm, độc lập của Thẩm phán tronghoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp, nhiệm kỳ của Thẩm phán phảiđược quy định phù hợp Theo đó, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao được
bổ nhiệm đến khi nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác; các ngạch Thẩm phánkhác bổ nhiệm lần đầu có nhiệm kỳ 5 năm, các lần tiếp theo có nhiệm kỳ 10năm
Trang 39Có sự phân biệt giữa Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với các ngạchThẩm phán khác Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội phê chuẩn,Chủ tịch nước bổ nhiệm Để phù hợp với mặt bằng chung về tuổi làm việc củacán bộ, công chức, có thể quy định tuổi nghỉ hưu của Thẩm phán Tòa án nhândân tối cao (không giữ chức vụ quản lý) là 65 tuổi, cách ngạch Thẩm phánkhác theo quy định của Bộ luật lao động và không nên phân biệt nam hay nữ.
3.2.6 Về hội thẩm:
Hiến pháp quy định việc xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia, trừtrường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Hiến pháp không quy định nguyên tắckhi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán Luật tổ chức Tòa án nhândân và các luật tố tụng cần thể hiện tinh thần này
Hội thẩm không phải là một chức danh tư pháp, bởi họ không phải làcán bộ thuộc sự quản lý của Tòa án Không thể coi bất cứ ai tham gia vào hoạtđộng tư pháp đều là người có chức danh tư pháp Mặt khác, nếu coi họ là mộtchức danh tư pháp, thì cần cho họ được hưởng chế độ phụ cấp chức danh tưpháp
Về lâu dài, cần có sự tham gia sâu và toàn diện của Ủy ban Mặt trận Tổquốc vào việc quản lý, phân công hội thẩm tham gia công tác xét xử thay vì đểTòa án quản lý và phân công như hiện nay Mặt khác, pháp luật về tố tụngcũng cần quy định cụ thể về số lượng hội thẩm tham gia vào một hội đồng xét
xử theo hướng ít hơn hiện nay để đảm bảo chất lượng của hội đồng xét xử khithực hiện quyền tư pháp
3.2.7 Về kỷ luật, cách chức thẩm phán:
Thẩm phán là chức danh tư pháp quan trọng nhất trong hoạt động xét
xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án Thực chất, hoạt động xét xử, thựchiện quyền tư pháp của Tòa án là hoạt động của Thẩm phán Cùng với việcquan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạođức cũng như vị thế, chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán thì việc kỷ luật, cáchchức Thẩm phán do vi phạm pháp luật, kỷ luật nghiệp vụ, đạo đức… cũng cầnđược quy định cụ thể Luật tổ chức Tòa án nhân dân hiện tại quy định quá sơsài và chung chung, khó áp dụng để xử lý kỷ luật người vi phạm Là một nghềđặc thù, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm cũng như xử lý kỷ luật, cách chức Thẩmphán cần được thông qua một Hội đồng có sự tham gia của đại diện cơ quanlập pháp, hành pháp, tư pháp và Mặt trận Tổ quốc và một số Thẩm phán tiêubiểu Có như vậy, mới nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán được lựachọn, tăng cường tính độc lập của Thẩm phán khi xét xử Không nên áp dụngcác quy định liên quan của Luật Cán bộ, Công chức đối với đội ngũ Thẩmphán
3.2.8 Tòa án quân sự trong dự án Luật tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi:
Tòa án quân sự là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp của nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thuộc hệ thống Tòa án nhân dân, được
tổ chức trong quân đội nhân dân Việt Nam Các Tòa án quân sự là các Tòa ánchuyên biệt chỉ có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự theo quy định củapháp luật
Trang 40Thời gian gần đây, có ý kiến cho rằng, nên giao cho các vụ án quânnhân phạm tội không liên quan đến bí mật quân sự hoặc không phải tội xâmphạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và những vụ án người khác gâythiệt hại cho quân đội cho Tòa án nhân dân giải quyết Quan điểm như thế làhoàn toàn sai lầm và không tính đến tính chất phức tạp, đảm bảo bí mật quân
sự trong việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án này, nhất là các vụ án xảy ratrong doanh trại của các đơn vị quân đội Do đó, cần giữ nguyên thẩm quyềnxét xử của Tòa án quân sự như khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Tòa ánquân sự
Mặt khác, với xu hướng giao cho Tòa án xử lý các vi phạm pháp luật,giải quyết tất cả các mâu thuẫn, tranh chấp của các chủ thể tham gia các quan
hệ pháp luật, thì dần dần xử lý kỷ luật quân đội, xử lý vi phạm hành chính docác đơn vị quân đội thực hiện… có thể được nghiên cứu giao cho Tòa án quân
sự giải quyết Vì vậy, để tránh phải sửa đổi Luật tổ chức Tòa án, cần bổ sungthẩm quyền giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật cho Tòa ánquân sự như một phương án để ngỏ mang tính dự phòng cho tương lai